Luận văn thực trạng và giải pháp phát triển sản xuất cây ăn quả ở ngoại thành hà nội - Pdf 37

Lời Mở Đầu
1.Tính cấp thiết của đề tài
Trên thế giới, các nớc có mức sống cao cũng là những nớc có nhu cầu tiêu
thụ sản phẩm quả rất lớn trong đó quả tơi là loại thực phẩm không thể thiểu trong
cơ cấu bữa ăn hàng ngày. Ngoài việc cung cấp chất khoáng và nhiều loại Vitamin
khác nhau, hoa quả còn có tác dụng rất tốt trong việc tiêu hoá thực phẩm và
chống chứng táo bón cũng nh một số biểu hiện bất thờng khác.
ở những những nớc này, cây ăn quả dợc coi là một ngành kinh tế quan
trọng, thúc đẩy sự phát triển ngành nông nghiệp nói riêng và nền kinh tế xã hội
nói chung. Do nhiều nguyên nhân khác nhau, một số nớc không có điều kiện để
phát triển cây ăn quả hoặc trình độ sản xuất cây ăn quả nằm ở mức thấp, không
tự đáp ứng nhu cầu tiêu dùng thì Nhà nớc phải có chính sách nhập khẩu quả tơi
hàng năm. Sự điều phối thị trờng mua bán quả cả sản phẩm tơi và chế biến, tạo
nên sự giao lu hàng hoá ngày càng rộng rãi và trở thành một nhân tố kích thích
cho sự phát triển cây ăn quả trên phạm vi toàn thế giới.
ở Việt Nam, sau khi vấn đề lơng thực giải quyết cơ bản nhu cầu quả tơi
nhu cầu tiêu dùng ngày một gia tăng ( bình quân tiêu dùng quả/ đầu ngời một
năm là 60 Kg(2000) và dự báo đến năm 2010 là 70Kg ). Sự giao lu hàng hoá
trong đó có quả dứa hai miền Nam Bắc tạo nên một thị trờng tiêu thụ phong phú
và đa dạng .
Nhìn trên tổng thể, Việt Nam hoàn toàn có đủ điều kiện để phát triển cây
ăn quả. Thực tế cho thấy những năm trớc đây việc sản xuất cây ăn quả cha đợc
quan tâm đúng mức, tốc độ phát triển chậm và còn mang tính tự phát, kim ngạch
xuất khẩu quả thấp, ngay cả tiêu thụ nội địa cũng cha đáp ứng nhu cầu đang có
xu hớng ngày càng tăng.
Hà nội vốn là vùng có một số cây ăn quả đặc sản nh: cam Canh, bởi Diễn,
hồng xiêm Xuân Đỉnh. Các cây trồng này đã đợc trồng ở ngoại thành từ lâu đời.
Những năm gần đây, do yêu cầu của thị trờng, bên cạnh các cây ăn quả đặc sản,
Hà Nội còn phát triển nhiều loại cây ăn quả khác nh: nhãn, táo, na dai, vải thiều.
Trong những năm qua, nhiều chơng trình dự án có liên quan đến sản xuất
cây ăn quả đã đợc triển khai ở 5 huyện ngoại thành nh chơng trình 327, khuyến

số cây ăn quả chủ yếu trong vùng.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tiến hành trên phạm vi 5 huyện ngoại thành Hà nội: Từ
Liêm, Thanh Trì, Gia Lâm, Đông Anh, Sóc Sơn.
4.Nội dung của đề tài bao gồm:
- Lời nói đầu
- Phần I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển cây ăn quả
- Phần II: Thực trạng phát triển cây ăn quả ở ngoại thành Hà nội
2


- Phần III: Phơng hớng và một số giải pháp phát triển sản xuất cây ăn
quả ở ngoại thành Hà Nội
- Kết luận
Do thời gian nghiên cứu có hạn, với vốn kiến thức của bản thân còn hạn
chế, nên nội dung đề tài không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong đợc sự
đóng góp ý kiến của các thầy cô để đề tài đợc tốt hơn.

ChơngI:
Cơ sở lý luận và thực tiễnvề phát triển cây ăn quả
I. Vị trí và vai trò của cây ăn quả
1. Vị trí cây ăn quả trong kinh tế nông nghiệp hiện nay
Lịch sử loài ngời cho thấy rằng: ngay từ thửa xa xa, trái cây đã là một
trong các nguồn thức ăn sẵn có trong tự nhiên của con ngời nguyên thuỷ. Giá trị
dinh dỡng và sinh tố của các loại quả đã khiến chúng đợc con ngời sử dụng ngày
càng nhiều trong cuộc sống hàng ngàn năm nay.Theo tài liệu của FAO sản lợng
quả các loại toàn thế giới thời kỳ 1989-1991 là 352 triệu tấn/năm, đến năm 2000
đã tăng lên đạt 429,4 triệu tấn/năm ( tăng 22% ). Trong khi đó mức tăng tơng ứng
của lúa gạo là 10,8%, khoai tây 10,6%, chỉ có rau (29,8%) là tăng nhanh hơn quả
các loại. Năm 2000 sản lợng bình quân đầu ngời trên thế giới là 73kg, có những

1,8
2,5
2,2
3,6
1,6
2,9
2,1

1,7
1,8
1,7
1,6
2,9
1,6
1,8
2,6

2,1
2,1
2,5
2,2
3,8
2,1
2,7
2

1,6
1,6
1,6
1,6

thời kỳ chăm sóc (2-4 năm) mới bắt đầu có quả và năng suất sẽ tăng lên dần. Do
vậy, tỷ trọng cây ăn quả trong cơ cấu giá trị sản xuất trồng trọt trong 5 năm qua
không tăng, bình quân là 8,3% (bảng2). Tính ra năm 2000 cây ăn quả mới chiếm
7,9% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp cả nớc.
Bảng 2: Vị trí cây ăn quả trong cơ cấu giá trị sản xuất trồng trọt cả nớc
1996 1997 1998 1999 2000 Bình quân
Loại cây
%
%
%
%
%
%
Tổng số
100
100
100
100
100
100
Trong đó:
Cây lơng thực
65,9 63,6 64,1 62,5 63,9 64
Rau đậu
6,4
7,5
7,3
7,3
7,2
7,1

Biểu 3: Sản lợng tính theo đầu ngời / năm ở các nớc trong khu vực Châu áThái Bình Dơng ( từ năm 1985 -1987 )
Sản lợng
Sảnlợng
STT Nớc
theo đầu
STT Nớc
theo đầu ngngời
ời
(Kg/năm)
( Kg/ năm)
1
Bangladesh
13,0
11
Papua Niu Ghilê
307,8
2
Mianma
23,3
12
Philippin
113,6
3
Trung quốc
11,3
13
Srilanka
49,2
4
Campuchia

35,5
19
TB Châu á-TBD
30,1
10
Malaixia
69,3
20
TB Thế Giới
65,5
Theo tài liệu điều tra của GS .TS Trần Thế Tục và cộng sự năm (1993) lợng
tiêu thụ quả tơi ở Hà Nội bình quân là 30/kg/ngời.
Theo các công trình nghiên cứu khoa học, để con ngời hoạt động bình thờng thì hàng năm phải cung cấp khoảng 100kg quả/ ngời/ năm( các loại hoa quả
nh nho, táo chuối, xoài, cam, mơ, mận, chanh..). Đó là những chỉ tiêu cơ bản để
định kế hoạch cây ăn quả ở mỗi nớc ( xem biểu 1).
2.2 Sản xuất cây ăn quả cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế
biến-xuất khẩu
Vai trò cung cấp nguyên liệu cho công nghệ chế biến và xuất khẩu đã tác
động tới sự phát triển của công nghiệp, tạo nguồn ngoại tệ mạnh cho sự phát triển
kinh tế nhất là những nớc cha phát triển, đặc biệt là Việt Nam.
Vào đầu những năm 60, ngành công nghiệp chế biến rau quả của Việt
Nam đã đợc hình thành và phát triển. Nó phát triển mạnh vào những năm 70 với
nhiều chủng loại sản phẩm nh: rau quả hộp, rau quả sấy, bán thành phẩm của quả
(puple). Trớc những năm 75, song song với việc phát triển các nhà máy ở phía
Bắc, việc sản xuất phục vụ và các mặt hàng chế biến ngày cành phong phú, đa
dạng:
* Mặt hàng sấy có: chuối sấy ,vải sấy, long nhãn.
* Mặt hàng nớc giải khát:
6


quả, qua quá trình sấy đặc vừa sấy khô thành dạng bột , có thêm một số phụ gia
thực phẩm để tăng thêm màu sắc hơng vị và độ hoà tan cho sản phẩm. Bột quả
giải khát không hoà tan thì đợc chế biến từ quả nghiền mịn ( cả thịt lẫn với phần
7


xơ ) rồi sấy khô bằng máy sấp phun hoặc máy sấy kiểu trục cán để sản phẩm đạt
độ khô rất cao, thuỷ phân chỉ còn 2-5%. Sau đó, sản phẩm đợc gia màu, gia hơng
tơng tự nh bột quả giải khát hoà tan.
-Nớc quả giải khát : Thành phần chủ yếu là dịch quả, chiếm 10-50% ( tuỳ
theo dạng nguyên liệu và dạng sản phẩm) cộng với đờng axit thực phẩm, chất
màu thực phẩm và hơng liệu. Sản phẩm có thể đợc nạp CO2 hoặc không nạp
CO2.
Hiện nay công ty rau quả Việt Nam đang lập dự án xây dựng mới các cơ sở
chế biến rau quả tại các trọng điểm trớc mắt là các xí nghiệp NCN Đồng Giao.
Trong các dự án nói trên sản phẩm nớc quả giải khát luôn đợc coi là một trong
những sản phẩm chủ yếu của các cơ sở chế biến rau quả .
Công nghiệp chế biến rợu vang: mới phát triển trong những năm gần đây và
chủ yếu là ở các tỉnh miền Bắc nh Hà Nội, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên. Sản lợng rợu vang năm 1993 khoảng 10 triệu lít, nguyên liệu quả cần dùng khoảng 25
nghìn tấn . Các loại quả đợc sử dụng nh nho, dứa, chuối, mận và những loại quả
khác.
Công nghệ chế biến rợu vang đang có triển vọng phát triển do nhu cầu tiêu
dùng của thị trờng dang ngày một tăng lên. Hiện nay có khoảng 17 nhà máy chế
biến quả xuất khẩu.Trong đó tông công ty quản lý 12 nhà máy và 5 nhà máy địa
phơng quản lý ( Sơn La, Sơn Tây, Hữu Giang, Linh Xuân, Tiền Giang) với tông
công xuất 50.000 tấn /năm về đồ hộp và 25.000 tấn/năm về rau quả đông lạnh.
Hầu hết các thiết bị đều nhập từ các nớc XHCN ( cũ) nh Nga, Đức, Bungari,
Balan, Hungari và đã sử dụng 20-30 năm nay nên thiết bị và công nghệ đã lạc
hậu. Những năm cao điểm, các nhà máy trên đã sản suất đợc 19.000 tấn quả
đóng hộp ( 1987) và 20.000 tấn dứa đông lạnh(1984).

nguồn sản phẩm dinh dỡng quý vừa có độ che phủ chống xói mòn, bảo vệ đất với
hiệu quả cao hơn nhiều so với các cây trồng trớc đó.
2.4. Sản xuất cây ăn quả góp phần tăng thu nhập
Một số cây ăn quả mặc dù có giá trị kinh tế cao nh nhãn, vải, xoài, nhng lại có
thể tận dụng trồng ở đất qoanh vờn nhà, đất đồi và những đất cha đợc khai thác
góp phần tăng thu nhập cho nông dân.
II. Đặc điểm của sản xuất cây ăn quả
2.1 Đặc điểm kinh tế
Các loại cây ăn quả thờng có chu kỳ sản xuất dài chỉ trồng một lần, đời
sống cơ thể kéo dài và thu hoạch nhiều năm với năng suất cao, giá trị gấp 10-15
lần trồng lúa.Trong khi đó, đầu t cho cây ăn quả không cao, ít sâu bệnh, độ rủi ro
thấp ( chủ yếu do điều kiện thời tiết mang lại hơn ) so với cây trồng khác .
Chính vì vậy ,cây ăn quả đợc đánh giá cao, giữ vai trò quan trọng trong
việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng hiện nay ở nớc ta.
9


2.2 Đặc Điểm Kỹ Thuật .
Cây ăn quả là loại cây trồng cạn, có tính chịu hạn cao, không kén đất, với
khả năng này nó tận dụng đợc đất đai không thể trồng đợc cây lơng thực, với kỹ
thuật canh tác trên đất dốc, cây ăn quả có thể trụ lại và phát triển bình thờng, sau
thời kỳ kiến thiết cơ bản ( thờng từ 3-4 năm) đến thời kỳ sản xuất kinh doanh,
thời kì này kéo dài vài chục năm thậm chí kéo dài cả trăm năm. Cho tới nay vẫn
cha xác định chắc chắn chu kì sản xuất của nó là bao nhiêu năm, điểm này rất
thuận lợi cho việc sản xuất. Tuy nhiên, do đặc điểm về kỹ thuật trong sản xuất
dẫn đến tính thời vụ cao nếu chuyên môn hoá quá sâu.Để giảm bớt tính thời vụ
trong việc phát triển ngành cây ăn quả cần lu ý mấy vấn đề sau:
+ Thực hiện chuyên môn hoá sản xuất kết hợp với phát triển tổng hợp bằng
cách kết hợp cơ cấu cây ăn quả hợp lý, kết hợp cây ăn quả với các loại cây trồng
và vầt nuôi khác. Bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý để sử dụng tối đa lực lợng lao

bằng, sông suối và ven biển đã tạo nên những lợi thế về địa lý -sinh thái so với
nhiều nớc khác. Các hệ thống giao thông đờng bộ, đờng biển và hàng không
thuận tiện cho việc giao lu hàng hóa quốc tế và khu vực.
2. Nhân tố kinh tế xã hội
*Lao động: là yếu tố sản xuất, là nhân tố quyết định đến sự phát triển của
các ngành trong đó có ngành rau quả.
Việt Nam là một nớc nông nghiệp, hiện tại 80% dân số cả nớc sống ở nông
thôn và trên 70% lực lợng lao động toàn xã hội làm việc trong khu vực này. Do
vậy, có thể nói lực lợng lao động của nớc ta rất dồi dào và có thể cung cấp đủ lao
động cho sản xuất cây ăn quả.
Ngời nông dân nớc ta cần cù sáng tạo, qua nhiều thế hệ đã tích lũy đợc
nhiều kinh nghiệm trồng trọt, chọ giống rau đậu, cam, quýt, bởi, hồng xoài,
chôm chôm, thanh long. Nông dân ở nhiều vùng rau quả thuyền thống đã thu đợc
năng suất và lợi nhuận cao. Tuy nhiên, chỉ với kinh nghiệm thì nhiều vấn đề cha
giải quyết đợc, nhất là các khâu nh: giống, phòng trừ sâu bệnh, xử lý sau thu
hoạch. Nhìn chung, trình độ dân trí của nớc ta còn thấp so với nhiều nớc trên thế
giới.
*Cơ sở vật chất kỹ thuật: là nhân tố rất quan trọng ảnh hởng đến việc sản
xuất cây ăn quả. Hiện nay Việt Nam nhập khẩu nhiều dây chuyền sản xuất của
một số nớc trên thế giới do vậy nớc ta đã có nhiều dây chuyền sản xuất hiện đại
đa vào sản xuất với công suất lớn, chất lợng cao. Nhng nhìn chung chúng ta vẫn
còn nhiều công nghệ lạc hậu so với thế giới. Vì vậy, sản lợng và chất lợng các
loại sản phẩm cha cao, khả năng cạnh tranh các loại sản phẩm nông nghiệp nớc
ta ( kể cả rau quả ) còn rất hạn chế.
*Phong tục tập quán: sản xuất cây ăn quả nớc ta vẫn còn mang tính tự
phát , sản xuất nhỏ, phân tán theo tập quán. Ruộng đất phân chia nhỏ theo từng
hộ nông dân, vốn liếng ít ỏi nhất là ở phía bắc, càng ngại rủi ro, cha dám mạnh
dạn đầu t và thích ứng kịp thời với sản xuất hàng hòa theo cơ chế thị trờng. Do
11


hiểu nhu cầu của thị trờng trong và ngoài nớc về số lợng, chất lợng, mẫu mã, giá
cả. Trên cơ sở đó mà có sự bố trí sắp xếp sản xuất hợp lý đáp ứng nhu cầu thị trờng, thúc đẩy nhanh tái sản xuất mở rộng.

12


IV Tình hình sản xuất cây ăn quả ở Việt Nam và trên thế giới
1. Tiềm năng và thực trạng phát triển sản xuất cây ăn quả ở Việt Nam
Với điều kiện khí hậu và thổ nhỡng đa dạng phù hợp với yêu cầu sinh trởng của nhiều loại cây ăn quả nhiệt đới và á nhiệt đới, Việt Nam là một trong
các quốc gia có những điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc sản xuất cây ăn quả.
Trong khi đó nhu cầu tiêu dùng trái cây trên thế giới ngày càng gia tăng. Trong
các năm 1980-1995 thị trờng trái cây thế giới tăng 20,5%. Mặc dù hiện nay thị
trờng thế giới chỉ nhập khẩu hơn 5% tổng sản lợng trái cây nhiệt đới, song nhu
cầu đối với trái cây nhiệt đới ngày càng tăng lên. Trong các năm 1980-1995 trái
cây nhiệt đới xuất khẩu tơi tăng mạnh: dứa tăng gấp đôi, xoài tăng gấp 6, bơ tăng
gấp 3, đu đủ tăng 4 lần. Hầu hết các loại trái cây nhiệt đới đợc a chuộng trên thị
trờng thế giới nh xoài, chuối, dứa, thanh long, chôm, măng cụt, bơ nhãn đều rất
phù hợp với điều kiện khí hậu và thổ nhỡng của nhiều vùng lãnh thổ Việt Nam.
Cùng với sự gia tăng nhu cầu trái cây của trị trờng thế giới, nhu cầu tiêu
dùng trái cây trong nớc cũng ngày càng tăng do thu nhập và mức sống của dân c
ngày càng đợc nâng cao. Hiện nay mức tiêu dùng trái cây bình quân đầu ngời ở
nông thôn nớc ta là 20-30kg/ ngời/ năm, ở thành thị là 35-45kg/ ngời/ năm. Mức
này còn thấp xa hơn so với mức trung bình của thế giới (năm 2000, mức trung
bình của thế giới khoảng 75-80kg/ ngời/ năm). Với tốc độ tăng thu nhập của dân
c nh những năm đổi mới vừa qua thì tới năm 2010 mức tiêu dùng trái cây bình
quân đầu ngời ở Việt Nam có thể gần đạt tới mức trung bình của thế giới hiện
nay. Đến năm 2010, nếu theo dự báo dân số nớc ta là 90 triệu ngời và mức tiêu
thụ trái cây bình quân đầu ngời đạt mức 65-70kg/ ngời/ năm thì nhu cầu tiêu thụ
trái cây trong nớc ta sẽ là 6,0-6,3 triệu tấn/ năm. Ngoài ra, nhu cầu của thị trờng
trái cây trong nớc tăng lên còn do lợng khách nớc ngoài du lịch vào Việt Nam

phát huy các tiềm năng phát triển sản xuất cây ăn quả và hạn chế rất lớn hiệu quả
sản xuất cũng nh lợi ích của ngời sản xuất cây ăn quả nớc ta .
2. Tình hình sản xuất cây ăn quả ở Việt Nam
Cây ăn quả ở nớc ta tuy đã đợc trồng từ lâu đời, song trớc kia sản xuất chủ
yếu dựa theo tập quán. Theo các tài liệu thì sang thế kỷ 20 các hoạt động điều tra
nghiên cứu mới bắt đầu đợc quan tâm.
Thời Pháp thuộc, từ năm 1930 một số cơ quan nông nghiệp bắt đầu điều
tra giống cây ăn quả, thành lập một số trại nghiên cứu ở Gia Rai-Biên Hoà, Vân
Du-Thanh Hoá; tổ chức hội thi quả ngon; lập vờn ơm giống cấp tỉnh.
Sau năm 1954, Bác Hồ phát động tết trồng cây (1959), không chỉ làm
bóng mát, lấy gỗ, lấy quả mà còn làm sạch môi trờng. Từ năm 1960 nhiều nông
trờng trồng cây ăn quả đợc thành lập, Vụ trồng trọt - Bộ nông nghiệp đã xây
dựng các quy trình kỹ thuật trồng cam, quýt, chuối, dứa. Năm 1968, Viện cây
công nghiệp - cây ăn quả đợc thành lập. Công tác nghiên cứu về cam đợc chú
trọng từ năm 1962, đến năm 1964 có sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô và
từ năm 1976 có các chuyên gia Cuba, cùng với các tập đoàn giống cam quýt của
14


Cuba viện trợ cho Việt Nam. Thời kỳ này một số kêt quả nghiên cứu đã đợc tổng
kêt nh: Báo cáo tổng kết thí nghiệm về cam và cà phê tại hội nghị toàn quốc ở
Tây Hiếu- Nghệ An (1977), Bộ nông nghiệp đã xây dựng quy hoạch các vùng
cây ăn quả (cam dứa quýt, chuối) trình Thủ tớng Chính phủ. Năm 1970 quy
hoạch vùng sản xuất dứa Miền Bắc Việt Nam đã đợc xây dựng.
Sau năm 1975, Bộ nông nghiệp đã phát động phong trào vờn quả Bác Hồ
trong cả nớc (1979). Năm 1986 Đề án phát triển cây ăn quả có múi ở Viêt
Nam thời kỳ 1986-2000 đã đợc xây dựng, xác định khả năng phát triển sản xuất
cây ăn quả có múi cả nớc là 70 ngàn ha. Năm 1986, Hội làm vờn Việt nam đợc
thành lập, mô hình VAC đã đợc phổ biến ngày càng rộng, trong đó cây ăn quả là
một chủ lực. Thực hiện hiệp định hợp tác rau quả Việt Xô 1986-1990, chơng

Qui mô vờn quả của các nông hộ sản xuất ở các vùng tập trung tuỳ thuộc
vào đặc điểm đất đai từng vùng. Vùng đồng bằng Sông Hồng dới 200 m2; miền
Nam, miền Núi Trung Du Phía Bắc Phổ biến từ 1000-2000m 2.Đã có những điện
hình tổ chức sản xuất theo kiểu trang trại cây ăn quả cả vùng đồng bằng và vùng
đất đồi núi. Những vùng cây ăn quả thâm canh và có hiệu quả kinh tế cao thờng
gắn viẹc trồng cây ăn quả trong kinh tế sinh thái VAC vừa nuôi trồng thuỷ sản,
phát triển chăn nuôi công nghiệp .
Với điều kiện đất đai, khí hậu nhiệt đới có pha trộn tính ôn đới rất thuật tiện
cho nhiều loại cây ăn quả ở nớc ta phát triển. Hiện nay tập đoàn cây ăn quả ở nớc
ta rất phong phú trong đó có nhiều loại cây ăn quả quí không chỉ có ý nghĩa tiêu
dùng trong nớc, mà còn có ý nghĩa xuất khẩu có giá thị nh cam, nhãn, vải, dứa,
sầu riêng, xoài, diện tích cây ăn quả nớc ta từ năm 1985 đến nay đã có sự phát
triển khá mạnh: năm 1985 mới có 213 ngàn ha, đến năm 1988 đã có 272,2 ngàn
ha và đến năm 2000 đã có khoảng 500 ngàn ha và sản lợng đạt 7 triệu tấn, tổng
kim ngạch xuất khẩu đạt 70 triệu USD( theo bộ NN và PTNT).
Việc bố trí sản xuất cây ăn quả. Ngoài việc bố trí trồng rải rác trên tất cả các
vùng, các địa phơng , chúng ta còn bố trí trồng tập trung quy mô cây ăn quả ở
những vùng và những địa phơng có điều kiện nh: vùng cây ăn quả tập trung Nam
Bộ và miền núi phía Bắc trong đó 70% diện tích nằm ở các vùng phía Nam
3. Tình hình sản xuất cây ăn quả trên thế giới.
Ngày nay nhiều nớc trên thế giới quan tâm tới việc phát triển cây ăn quả và
họ đã giàu lên nhờ xuất khẩu sản phẩm tơi và chế biến từ quả .
Những nớc có diện tích trồng cây ăn quả lớn nh là Mĩ, Trung Quốc, ấn Độ,
ví dụ : năm 1995 Trung Quốc có 6,4 triệu ha cây ăn quả với sản lợng khoảng 35
triệu tấn. ấn độ có 2,94 triệu ha với sản lợng 25,5 triệu tấn.
Theo thống kê của tổ chức FAO năm 1998 sản lợng quả toàn thế giới là
333,6 triệu tấn, trong đó số quả mọng là 3329,5 triệu tấn chiếm 98,8% tổng sản lợng toàn thế giới, còn lại 4,1 triệu tấn là quả vỏ cứng chiếm 1,2% tổng sản lợng .
Nếu xếp theo số thứ tự sản lợng châu á đứng đầu tiếp theo là Mĩ ,Châu Âu, Châu
Phi, cuối cùng là châu Đại Dơng.
Năm 1998 Braxin sản xuất ra 27,5 triệu tấn chiếm 8,33% tổng sản lợng quả

vùng trong nền kinh tế mở cửa và là điều kiện quan trọng trong việc thúc đẩy
phát triển sản xuất hàng hoá.
1.2 Đất đai
Hà Nội có tổng diện tích tự nhiên là 911.800 ha, trong đó đất nông nghiệp là
43.465 ha chiếm 4,76%, đất lâm nghiệp 6717 ha chiếm 0,73% còn lại là đất
chuyên dùng. ở ngoại thành Hà Nội có 3 loại đất chủ yếu, đất phù sa chiếm
khoảng 46%, đất gò đồi bán sơn địa chiếm khoảng 31% và đất trũng chiếm 23%.
Ngoại thành Hà Nội đợc chia làm 2 vùng đồi núi thấp và trung bình với dãy núi
Sóc Sơn có đỉnh cao nhất là đỉnh Chân Chim với độ cao là 462m, vùng đồi núi
của Hà Nội có thể kết hợp sản xuất nông nghiệp và du lịch. Với địa bàn đồi núi
thấp, nơi đây phù hợp với nhiều loại cây ăn quả và chăn nuôi đại gia súc. Vùng
đồng bằng của Hà Nội là vùng châu thổ của sông Hồng đã đợc khai phá từ lâu
đời. Vùng này đặc trng dân c đông đúc với tập quán canh tác của các vùng nông
nghiệp truyền thống ngoại thành. Vùng đồng bằng ngoại thành phù hợp với phát
triển nhiều loại cây trồng ngắn ngày đòi hỏi vốn đầu t lớn, có giá trị kinh tế cao,
đặc biệt là các loại cây ăn quả, hoa, cây cảnh. Trong đất nông nghiệp, diện tích
đất canh tác là 38.885 ha chiếm 89,48%, đất vờn tạp là 473 ha chiếm 1,09%, đất
mặt nớc nuôi trồng thủy sản là 2820 ha chiếm 6,49%, đất trồng cây lâu năm
1.200 ha chiếm 2,76% và đất trồng cây thức ăn chăn nuôi là 78 ha chiếm 0,18%.
Hà Nội có nhiều diện tích ao hồ, ruộng 1 vụ lúa, 1 vụ cá, đất canh tác hàng năm,
đất trồng cây lâu năm, đất rừng, nhất là các vùng xa nh Sóc Sơn, một số xã của
huyện Từ Liêm, Thanh Trì, Gia Lâm, Đông Anh có nhiều khả năng phát triển
cây ăn quả.
18


1. Biểu số 4: Cơ cấu diện tích đất đai toàn quốc và vùng
ngoại thành Hà Nội
Toàn quốc
Ngoại thành HN

1.453.302
17,93
1.200
2,76
1.4. Đất đồng cỏ
71.584
0,88
78
0,18
1.5. Đất mặt nớc nuôi thuỷ sản
339.331
4,19
2.820
6,49
2. Đất lâm nghiệp
10.935.362 33,27
6.717
0,73
3. Đất cha sử dụng
12.087.040 36,77
1.137
0,12
3.1. Đất bằng
868.772
7,19
364
32,01
3.2. Đất đồi núi
8.549.550
70,73

đang bị ô nhiễm nặng nề, nguy cơ ô nhiễm ngày càng cao đặc biệt là các xã ven
nội của Thanh Trì và Từ Liêm.
Nhìn chung, những đặc điểm về điều kiện đất đai, thời tiết, khí hậu ở ngoại
thành Hà Nội có nhiều lợi thế để phát triển một nền sản xuất nông nghiệp hàng
hoá tỷ suất cao. Cơ cấu giống cây trồng vật nuôi phong phú nhng quy mô bố trí
các loại đất ở các huyện ngoại thành là không giống nhau, đặc biệt đất gò đồi.
Lâm nghiệp tập trung chủ yếu ở huyện Sóc Sơn, diện tích mặt nớc nuôi trồng
thuỷ sản tập trung phần lớn ở Thanh Trì.
2. Đặc điểm về kinh tế - xã hội
2.1Cơ cấu đất nông nghiệp ngoại thành
a.Khái niệm đất nông nghiệp
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mọi quốc gia, là t liệu sản xuất
chủ yếu và đặc biệt của sản xuất nông nghiệp, là một trong các yếu tố quan trọng
nhất của môi trờng sống và là địa bàn phân bố dân c. Nh vậy, đất đai đợc dùng
hầu hết vào các ngành sản xuất, các lĩnh vực của đời sống, đất đai đợc phân
thành các loại khác nhau và gọi tên theo ngành và lĩnh vực sử dụng chúng.
Với ý nghĩa đó đất nông nghiệp là đất đợc sử dụng chủ yếu vào sản xuất
các ngành nông nghiệp nh trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản hoặc sử
dụng để nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp. Ngoài tên gọi đất nông nghiệp,
đất sử dụng vào sản xuất nông nghiệp còn đợc gọi là ruộng đất.
Khi nói đất nông nghiệp ngời ta nói đất sử dụng chủ yếu vào sản xuất của
các ngành nông nghiệp, bởi vì trên thực tế có trờng hợp đất đai đợc sử dụng vào
những mục đích khác nhau của các ngành. Trong trờng hợp đó, đất đai đợc sử
dụng chủ yếu cho mục đích hoạt động sản xuất nông nghiệp mới coi là đất nông
nghiệp, nếu không sẽ là các loại đất khác (tuỳ theo việc sử dụng vào mục đích
nào là chính).
Tuy nhiên, để sử dụng đầy đủ hợp lý ruộng đất, trên thực tế ngời ta coi đất
đai có thể tham gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp mà không cần có đầu t
lớn nào cả, là đất nông nghiệp cho dù nó đã đa vào sản xuất nông nghiệp hay cha. Vì vậy trong luật đất đai năm 1993, điều 17 có ghi rõ: khoanh định các loại đất
nông nghiệp... điều chỉnh việc khoanh định cho phù hợp với từng giai đoạn phát

(ha)

Tỷ lệ
(%)

Biến động so
với năm
1998/DT (ha)
-542,6

1. Tổng
42.460
100
số
I. Đất trồng cây hàng năm
38.300
90,20
- 1.029,5
1. Đất lúa, đất màu
31.023
73,06
- 2.947,3
- Ruộng 3 vụ
5.621
13,23
- Ruộng 2 vụ
21.205
49,94
- Ruộng 1 vụ
3.297

40
0,09
3. Đất ơm cây giống
10
IV.Đồng cỏ dùng vào chăn nuôi
110
0,26
+ 21,3
V.Mặt nớc nuôi trồng thuỷ sản
3.200
7,54
+ 397
1. Chuyên nuôi cá
3.200
7,54
2. Nuôi trồng thuỷ sản khác
Nguồn: Sở NN và PTNT Hà Nội - 2000
Đánh giá về cơ cấu các loại đất nông nghiệp nh sau: đất trồng cây hàng năm
chiếm tỷ lệ gần nh tuyệt đối 90,20%, trong đó đất lúa và lúa + màu chiếm
73,06%. Nh vậy cơ cấu đất canh tác ở Hà Nội chủ yếu vẫn là đất lúa. Đất màu và
cây ngắn ngày khác chiếm 17,14%, đa số loại đất này gieo trồng từ 2 đến 3 vụ
trong năm. Nếu cộng tỷ lệ phần trăm đất gieo cấy 3 vụ lúa màu là 13,23% thì
diện tích canh tác làm vụ đông ở Hà Nội mới đạt từ 26 -28% tổng diện tích đất
canh tác. Có thể so sánh diện tích gieo trồng vụ đông ở Hà Nội cao hơn các vùng
khác ở đồng bằng sông Hồng nhng vẫn cha khai thác hết tiềm năng sản xuất vụ
đông ở Hà Nội (ớc tính có thể đạt tới 40 - 45% tổng diện tích đất canh tác). Đất
trồng cây lâu năm còn quá thấp mà nguyên nhân chính là do các năm trớc đây
cha phát triển mạnh nghề làm vờn theo nền sản xuất hàng hoá, thiếu chủ trơng
và mức đầu t còn thấp.
22

1.265,2
1.516
118
8
Sóc Sơn
245
779
25
1
Đông Anh
260,1
1.429
23
1
Gia Lâm
340,2
1.968
31
4
Từ Liêm
193,2
2.573
15
1
Thanh Trì
226,7
2.837
25
1
Nguồn: Niên giám thống kê - Cục thống kê Hà Nội

thôn hàng năm đều tăng, tổng số vốn từ năm 1996 - 2001 là:
- Nông nghiệp
43,204 tỷ đồng
- Thuỷ lợi đê điều
142,365 tỷ đồng
- Giao thông nông thôn
75,889 tỷ đồng
- Nớc sinh hoạt
10,599 tỷ đồng
- Điện nông thôn
51,552 tỷ đồng

24


Biểu7: Cơ sở hạ tầng toàn quốc và ngoại thành Hà Nội
Chỉ tiêu
Toàn quốc Ngoại thành HN
1. Số xã có đờng ô tô đến
87,9
99,2
2. Số xã có trạm biến thế
49,3
97,66
3. Số xã có điện
60,4
100
4. Số xã có trạm bu điện
16,0
100

a.Hệ thống thuỷ lợi đê điều
Với tổng số vốn đầu t (1995 - 2000) là 142,365 tỷ đồng để cải tạo xây dựng
mới các công trình thuỷ lợi, đến nay hệ thống thuỷ nông của toàn thành phố đảm
bảo tới chủ động cho 76% diện tích, tiêu chủ động cho 73,9% diện tích, có
khoảng 25% số kênh mơng dẫn nớc đợc cứng hoá.
b. Giao thông nông thôn
Tổng số vốn đầu t từ năm 1995 - 2000 là 75,889 tỷ đồng. Tới nay đã có 80%
đờng giao thông nông thôn đợc rải nhựa, cả cấp phối hoặc lát gạch. Giao thông
nông thôn phát triển đã làm thay đổi bộ mặt nông thôn ngoại thành, tạo điều kiện
cho ngời dân đi lại và dịch vụ buôn bán nông sản, cung cấp vật t phục vụ sản
xuất thuận tiện.
c.Xây dựng điện nông thôn.
Đa nghị quyết điện nông thôn của Thủ tớng Chính phủ và nghị quyết của hội
đồng nhân dân thành phố Hà Nội vào thực tiễn, hai năm qua (2000 - 2001) Hà
Nội đã cơ bản hoàn thành đề án nâng cấp điện đến nhiều thôn xã của ngoại
thành. Đến nay đã có 100% số xã có điện, gần 100% số hộ đã sử dụng điện, chỉ
có một số hộ dân ở một vài xóm vùng núi của Sóc Sơn là cha có điện, hầu hết các
xã bán giá điện cho nông thôn ổn định, có 100% xã có giá điện bình quân dới
700 đồng/ kwh, có 87% số xã, trong đó huyện Từ Liêm có 100% xã có giá điện
bình quân dới 700 đồng/kwh, Thanh Trì 96%, Gia Lâm 93,75%, Đông Anh 96%,
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status