Đề tài: "Thực trạng và giải pháp phát triển sản xuất rau an toàn ở Việt Nam" - Pdf 12



Đề tài
Thực trạng và giải pháp phát triển
sản xuất rau an toàn ở Việt Nam

SVTH: Thái Thị Bun My
Lớp: Kinh tế nông nghiệp 46A Thái Thị Bun My Lớp: Kinh tế Nông nghiệp 46A
1

1
MỤC LỤC
Lời mở đầu 1
Chương I: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về sản xuất rau an toàn 7
1.1. Khái niệm và vai trò của sản xuất rau an toàn 7
1.1.1. Khái niệm rau an toàn và nguyên nhân khiến rau không an toàn 7
1.1.2. Vai trò của việc sản xuất rau an toàn 9
1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất rau an toàn 9
1.2.1. Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên 9
1.2.1.1. Điều kiện địa lý 9
1.2.1.2. Điều kiện đất đai 10
1.2.1.3. Điều kiện khí hậu 11

2.2.1.2. Chất lượng rau an toàn 46
2.2.1.3. Tiêu thụ rau an toàn 48
2.3. Đánh giá chung về tình hình sản xuất rau an toàn ở Việt Nam 52
2.3.1. Thành tựu đạt được và nguyên nhân 52
2.3.2. Tồn tại và nguyên nhân 54
Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển 58
sản xuất rau an toàn ở Việt Nam đến 2020 58
3.1. Phương hướng phát triển sản xuất rau an toàn trong những năm tới 58
3.2. Một số giải pháp nhằm phát triển sản xuất rau an toàn 59
3.2.1. Các giải pháp về quản lý Nhà nước 59
3.2.1.1. Tổ chức và quản lý đồng bộ 59
3.2.1.2. Về cơ chế chính sách 60
3.2.1.3.Về kiểm tra chất lượng rau an toàn 62
3.2.1.3. Về giải pháp kỹ thuật 62
3.2.2. Các giải pháp về những người sản xuất và các doanh nghiệp trong ngành hàng
63
3.2.2.1. Cần tổ chức sản xuất có quy mô, cần có các doanh nghiệp tham
gia vào sản xuất và tiêu thụ rau an toàn 63
3.2.2.2. Tăng cường xây dựng cơ sở hạ tầng và vốn đầu tư cho sản xuất
rau an toàn 64
3.2.2.3. Tăng cường nghiên cứu về giống và bảo tồn giống rau an toàn 65
3.2.2.4. Tổ chức sản xuất rau an toàn theo đúng quy trình kỹ thuật 65
3.2.2.5. Mở rộng diện tích, tăng năng suất sản xuất rau an toàn 66
3.2.3.6. Giải pháp mở rộng thị trường tiêu thụ rau an toàn 67
Kết luận 69
Tài liệu tham khảo 70
Phụ lục


Thái Thị Bun My Lớp: Kinh tế Nông nghiệp 46A
4

4
Danh mục các sơ đồ, hình ảnh

Hình 2.1: Giá trị sản xuất rau quả giai đoạn 1999 - 2006 27
Hình 2.2: Sản lượng rau/đầu người ở một số Quốc gia 28
Hình 2.3: Kim ngạch xuất khẩu rau quả Việt Nam, 1991-2004 (nghìn USD) 29
Hình 2.4: Thị trường xuất khẩu rau quả chính của Việt Nam năm 2000 và 2004 31
Hình 2.5: Mô hình trồng rau an toàn tại quận Long Biên 33
Hình 2.6: Người tiêu dùng thiếu mặn mà với rau an toàn 38
Hình 2.7: Kênh phân phối rau an toàn tại Hà Nội 40
Hình 2.8: Các loại rau trồng trong nhà lưới 45
Hình 2.9: Kênh phân phối rau tại Thành phố Hồ Chí Minh 49

Thái Thị Bun My Lớp: Kinh tế Nông nghiệp 46A
5

5
Lời mở đầu

1. Lý do chọn đề tài
Nước ta là một nước đang phát triển với nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất
cơ bản, giữ vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế cũng như xã hội. Chính vì vậy
việc đầu tư phát triển ngành nông nghiệp là rất cần được quan tâm. Trong đó, sản xuất
rau an toàn cũng là lĩnh vực rất cần thiết cho cuộc sống ngày càng phát triển hiện nay.
Rau là sản phẩm tiêu dùng không thể thiếu của con người, cung cấp rất nhiều
vitamin mà các thực phẩm khác không thể thay thế được. Hiện nay, do nhu cầu hội

 Khảo sát thực tiễn, tham khảo ý kiến của người tiêu dùng, người sản xuất
cũng như các cấp chính quyền.
 Tham khảo ý kiến các chuyên gia về quy trình cũng như các quy định cụ
thể về sản xuất rau an toàn.
+ Phương pháp xử lý số liệu:
 Lựa chọn các số liệu hợp lý với đề tài đã chọn.
 Sử dụng phần mềm Excel để tổng hợp, phân tích và so sánh các kết quả có được.
Từ đó đưa ra những nhận xét về thực trạng sản xuất rau an toàn, đồng thời là cơ
sở để đưa ra những giải pháp phát triển sản xuất rau an toàn ở Việt Nam.
3. Bố cục chuyên đề
Bài viết của em gồm 3 phần chính:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về sản xuất rau an toàn
Chương 2: Thực trạng sản xuất rau an toàn ở Việt Nam
Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển sản xuất rau an toàn
Do trình độ lý luận và kinh nghiệm thực tế còn hạn chế nên bài viết của em
không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự giúp đỡ đóng góp của
các thầy cô giáo, các bác, các cô chú, anh chị trong Trung tâm Khuyến nông
Khuyến Ngư Quốc gia.
Trong thời gian thực tập tại Trung tâm Khuyến nông Khuyến Ngư Quốc gia
– Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với sự giúp đỡ của các cô chú, anh chị và
sự hướng dẫn của cô giáo Vũ Thị Minh, em đã hoàn thành quá trình thực tập
của mình. Em xin chân thành cám ơn cô giáo Vũ Thị Minh và các cô chú anh
chị tại Trung tâm Khuyến nông Khuyến Ngư Quốc gia đã tạo mọi điều kiện để
em hoàn thành tốt báo cáo thực tập này. Thái Thị Bun My Lớp: Kinh tế Nông nghiệp 46A
7

7


Thái Thị Bun My Lớp: Kinh tế Nông nghiệp 46A
8

8
Một là, người nông dân chỉ quen sản xuất nhỏ lẻ, hầu như không áp dụng các
kỹ thuật mới, các quy trình trồng rau quả an toàn và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
tràn lan không hề quan tâm đến loại thuốc, liều lượng, thời gian cách ly. Đây chính
là nguyên nhân chủ yếu khiến sản phẩm rau trở nên không an toàn và gây ra nhiều
vụ ngộ độc cấp tính trong thời gian gần đây đặc biệt là ở các đô thị lớn.
Thứ hai, vấn đề quy hoạch vùng sản xuất rau an toàn chưa đồng bộ và có quy
mô tương đối về diện tích, thậm chí rau an toàn còn được canh tác xen kẽ với rau
không an toàn hoặc cây trồng khác. Vì thế, thiên dịch của sâu hại rau vẫn bị mất đi
do việc sử dụng thuốc của thửa ruộng bên cạnh và lúc này ruộng rau an toàn lại trở
thành nơi “lánh nạn” của sâu hại. Để đảm bảo năng suất, người trồng rau an toàn bắt
buộc phải sử dụng thuốc nhiều hơn dự định, kết quả là làm sản phẩm rau trở nên
không an toàn.
Thứ ba, tình trạng bất lực trong kiểm soát nhập khẩu và kinh doanh, sử dụng
hóa chất bảo vệ thực vật bị cấm sử dụng trong nông nghiệp do chế tài xử phạt còn
chưa nghiêm khắc, tiền phạt là quá nhỏ so với lợi nhuận do việc vi phạm thu được.
Thứ tư, mức độ tiêu thụ rau an toàn trong cộng đồng còn quá thấp, chưa đủ
hấp dẫn để các doanh nghiệp đầu tư vào kinh doanh. Mặt khác trình độ hạn chế của
người dân và cán bộ kỹ thuật ngành nông nghiệp cũng là một cản trở đáng kể đối
với sản xuất rau an toàn.
Tuy nhiên bất chấp những nguyên nhân trên, nhu cầu sử dụng rau an toàn
của người dân đặc biệt là những người dân ở những đô thị lớn ngày càng tăng cao.
Rau được sử dụng trong phần lớn các gia đình hiện nay là những loại không rõ
nguốn gốc, xuất xứ và không được đảm bảo về chất lượng. Ở thời điểm hiện tại có 2
loại rau có thể được coi là an toàn cho người tiêu dùng, đó là:
- Rau hữu cơ: Được sản xuất theo phương thức dùng phân vi sinh, tưới nước

cải thiện cuộc sống của họ qua đó góp phần ổn định trật tự xã hội.
1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất rau an toàn
1.2.1. Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên
1.2.1.1. Điều kiện địa lý

Điều kiện địa lý ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất nông nghiệp nói chung cũng
như sản xuất rau an toàn nói riêng. Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên không
gian rộng lớn, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên mang tính khu vực rõ rệt. Ở

Thái Thị Bun My Lớp: Kinh tế Nông nghiệp 46A
10
10
mỗi vùng, mỗi quốc gia có điều kiện địa lý, khí hậu rất khác nhau. Lịch sử hình
thành các loại đất, quá trình khai phá và sử dụng các loại đất ở các địa bàn có địa
hình khác nhau, ở đó diễn ra các hoạt động nông nghiệp cũng không giống nhau.
Điều kiện địa lý có thuận lợi mới có cơ hội để phát triển sản xuất.
Việt Nam nằm ở phía Đông bán đảo Đông Dương, gần trung tâm Đông Nam Á.
Lãnh thổ Việt Nam bao gồm hai bộ phận: Phần đất liền (có diện tích 331.000 km
2
) và
phần biển giàu tiềm năng rộng lớn gấp nhiều lần so với phần đất liền tạo điều kiện
thuận lợi cho nước ta có thể dễ dàng giao lưu về kinh tế và văn hóa với nhiều nước trên
thê giới. Việt Nam vừa gia nhập WTO tạo điều kiện cho nước ta học hỏi, tiếp thu
những kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp nói chung và trong sản xuất rau an toàn
nói riêng của các nước trong khu vực và trên thế giới, đồng thời cũng tạo nhiều điều
kiện cho nước ta trong xuất khẩu rau quả ra các nước trên thế giới.

1.2.1.2. Điều kiện đất đai

Đất đai là điều kiện không thể thiếu trong sản xuất nông nghiệp nói chung

toàn nói riêng nhiều thuận lợi cơ bản, đồng thời cũng có những khó khăn rất lớn
trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp.
Thời tiết, khí hậu của nước ta có những thuận lợi rất cơ bản. Đó là hàng năm
có lượng mưa quân bình tương đối lớn 880m
2
, trong đó chỉ riêng lưu vực sông
Hồng và sông Mêkông chiếm 75%. Bên cạnh đó, nguồn nước ngọt rất phong phú
cho sản xuất và đời sống, có nguồn năng lượng mặt trời dồi dào (cường độ, ánh
sáng, nhiệt độ trung bình hàng năm là 23
0
C…), tập đoàn cây trồng và vật nuôi
phong phú, đa dạng. Nhờ những thuận lợi đó mà ta có thể gieo trồng nhiều loại rau
phong phú, và quanh năm, đảm bảo sản xuất liên tục và thu lợi nhuận cao.
Bên cạnh những thuận lợi nêu trên cũng còn nhiều khó khăn lớn như: mưa
nhiều và lượng mưa thường tập trung vào ba tháng trong năm gây lũ lụt, ngập úng.
Nắng nhiều thường gây nên khô hạn, có nhiều vùng thiếu cả nước cho người, vật
nuôi sử dụng. Khí hậu ẩm ướt, sâu bệnh, dịch bệnh dễ phát sinh và lây lan gây ra
những tổn thất lớn đối với mùa màng. Bên cạnh đó một mùa thường chỉ cơ một số
loại rau nhất định mà nhu cầu của người dân vẫn rất nhiều, điều đó đặt ra nhiều vấn
đề về sản xuất rau trái vụ… Thái Thị Bun My Lớp: Kinh tế Nông nghiệp 46A
12
12
1.2.2. Nhóm nhân tố về kinh tế - xã hội
1.2.2.1. Đất đai
Đất đai khi xem xét những đặc tính về cơ, lý, hóa, sinh ảnh hưởng như thế
nào đến sản xuất nông nghiệp, được coi là điều kiện tự nhiên. Song, nếu xem xét nó
về quy mô diện tích bình quân cho một nhân khẩu, một lao động, cách thức phân

hiện tập trung ở Nghị quyết Trung ương lần thứ năm (khóa VII) và Nghị quyết
14/CP ngày 2/3/1993 của Chính phủ về chính sách hỗ trợ người sản xuất vay vốn,
gồm những nội dung chủ yếu sau đây:
- Đổi mới tổ chức ngành ngân hàng thành hệ thống hai cấp: ngân hàng Nhà
nước và ngân hàng thương mại. Các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng
tự nguyện do nhân dân lập ra sẽ tạo khả năng huy động nguồn vốn tối đa đáp ứng
cho nhu cầu phát triển nông nghiệp.
- Huy động tối đa mọi nguồn vốn nhàn rỗi của các tổ chức kinh tế và nhân
dân bằng nhiều hình thức thích hợp như: tiết kiệm (có và không có kỳ hạn), tín
phiếu và trái phiếu kho bạc, ngân phiếu và kỳ phiếu ngân hàng…
- Mở rộng việc cho vay của các tổ chức tín dụng đến hộ sản xuất nông, lâm,
ngư nghiệp và thủy sản để phát triển sản xuất, không phân biệt thành phần kinh tế.
- Ưu tiên cho vay để triển khai các dự án do Nhà nước chỉ định, cho vay đối
với vùng cao, vùng xa, vùng sâu, vùng kinh tế mới, hải đảo và các hộ nghèo, góp
phần xóa đói hiảm nghèo trong nông thôn.
Vốn trong sản xuất rau an toàn thường là vốn tự có của người dân, hay vốn
đi vay của các tổ chức tín dụng, ngân hàng có chính sách ưu đãi. Nhà nước cũng có
các chính sách đầu tư vốn ngân sách cho nông nghiệp qua các tổ chức khuyến nông
hoặc các hình thức cho vay vốn ưu đãi khác nhau.
1.2.2.4. Thị trường
Nhân tố thị trường có ảnh hưởng rất lớn chi phối quá trình sản xuất kinh
doanh rau an toàn của các cơ sở sản xuất kinh doanh rau an toàn.
Về nhu cầu thị trường đối với rau an toàn: cầu thị trường phụ thuộc vào thu
nhập, cơ cấu dân cư ở các vùng, các khu vực. Thu nhập của dân cư tăng lên thì nhu
cầu về rau an toàn cũng tăng lên, do rau an toàn là sản phẩm có nhu cầu thiết yếu
hàng ngày của dân cư, cũng như đối với các sản phẩm cao cấp đã qua chế biến
khác. Hiện nay, thu nhập của dân cư ngày càng gia tăng, người dân ngày càng chăm

Thái Thị Bun My Lớp: Kinh tế Nông nghiệp 46A
14

Thái Thị Bun My Lớp: Kinh tế Nông nghiệp 46A
15
15
- Về đất trồng: Có đặc điểm lý, hóa, sinh học phù hợp với sự sinh trưởng, phát
triển của cây rau, không bị ảnh hưởng trực tiếp các chất thải công nghiệp, chất thải
sinh hoạt từ các khu dân cư, bệnh viện, các lò giết mỏ gia súc tập trung và từ các
nghĩa trang, đường giao thông lớn. Đất ở các vùng sản xuất rau an toàn phải được
kiểm tra mức độ ô nhiễm định kỳ hoặc đột xuất.
- Về phân bón: Chỉ sử dụng các loại phân bón trong danh mục phân bón
được phép sản xuất kinh doanh ở Việt Nam, phân hữu cơ đã qua xử lý bảo đảm
không còn nguy cơ ô nhiễm hóa chất vi sinh vật có hại. Không sử dụng các loại
phân bón có nguy cơ ô nhiễm cao như: phân chuồng tươi, nước giải, phân chế biến
từ nước thải sinh hoạt, rác thải công nghiệp để bón trực tiếp cho rau.
- Về nước tưới: Nước tưới cho rau phải lấy từ nguồn không bị ô nhiễm bởi
các vi sinh vật và hóa chất độc hại, phải đảm bảo chất lượng nước tưới theo tiêu
chuẩn quy định, không sử dụng nước thải công nghiệp chưa qua xử lý, nước thải từ
các bệnh viện, các khu dân cư tập trung, các trang trại chăn nuôi, các lò giết mổ gia
súc, nước phân tươi, nước giải, nước ao tù đọng để tưới trực tiếp cho rau. Nguồn
nước tưới cho các cùng rau an toàn phải được kiểm tra định kỳ và đột xuất.
- Về kỹ thuật canh tác rau an toàn: Sử dụng các phương pháp luân canh, xen
canh hợp lý, vệ sinh đồng ruộng thường xuyên. Không sử dụng các loại rau biến đổi
gen (GMO) khi chưa có giấy chứng nhận an toàn sinh học. Bón phân đúng chủng
loại, liều lượng, thời gian bón và cách bón theo quy trình trồng trọt rau an toàn cho
từng loại rau; riêng phân đạm phait đảm bảo thời gian cách ly trước khi thu hoạch ít nhất
10 ngày và ít nhất 7 ngày đối với phân bón lá.
- Về phòng trừ sâu bệnh: Sử dụng các biện pháp phòng trừ thủ công hay sử
dụng thuốc trừ sâu bệnh có nguồn gốc sinh học. ruộng, phát hiện sớm đối tượng sâu
bệnh để phòng trừ kịp thời. Hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc hóa học để phòng trừ
sâu bệnh cho rau. Trường hợp cần thiết phải sử dụng thuốc hóa học phải tuân thủ
nguyên tắc 4 đúng: Đúng chủng loại, đúng liều lượng, đúng cách, đúng thời gian.

thông tin liên lạc… Hệ thống này đóng vai trò quan trọng trong việc lưu thông
nhanh chóng kịp thời, đảm bảo an toàn cho sản xuất cũng như tiêu thụ rau an toàn.
- Các nhân tố về kỹ thuật và công nghệ sản xuất đặc biệt quan trọng trong
việc tăng khả năng tiếp cận và mở rộng thị trường tiêu thụ của cơ sở sản xuất kinh
doanh rau an toàn. Đối với các nước tiên tiến, sản xuất nông nghiệp nói chung và

Thái Thị Bun My Lớp: Kinh tế Nông nghiệp 46A
17
17
sản xuất rau quả nói riêng là ngành có hiệu quả rất cao do được ứng dụng tiến bộ
khoa học công nghệ, hầu như từ sản xuất đến thu hoạch, chế biến và tiêu thụ sản
phẩm. Năng suất rau quả trong nhà kính, nhà che nilông, rau trồng trong dung dịch
không đất rất cao (bình quân từ 25 – 30 kg/m
2
đối với cà chua, dưa chuột là 250 –
300 tấn/ha, gấp 20 lần so với trồng ngoài đồng và phương thức canh tác truyền
thống), do khống chế được các yếu tố ngoại cảnh. Rau quả trồng trong nhà kính,
nhà lưới không chứa độc tố, hợp vệ sinh, mẫu mã đẹp, dễ xuất khẩu.
1.3. Các chỉ tiêu phản ánh kết quả và hiệu quả của sản xuất rau an toàn
1.3.1. Chỉ tiêu kết quả
- Số lượng cơ sở đủ điều kiện sản xuất rau an toàn
- Số lượng cơ sở kinh doanh rau an toàn
- Số lượng cơ sở đủ điều kiện sơ chế rau an toàn
- Số lượng tổ chức chứng nhận rau an toàn
- Diện tích đất trồng rau an toàn

-
Sản lượng rau an toàn đạt được hàng năm, giá trị sản lượng sản xuất rau an toàn

- Năng suất sản xuất rau an toàn

28 triệu hecta đồng cỏ. Lao động nông nghiệp của Australia chỉ có 371.900 người,
nhưng với kinh nghiệm và trình độ sản xuất của mình, nông nghiệp Australia không
những đáp ứng đủ nhu cầu trong nước mà còn còn có thể đảm bảo xuất khẩu. Trình
độ của nông dân Australia thấp hơn so với các ngành nghề khác trong nước, chỉ
khoảng 31% là có trình độ đại học hoặc cao đẳng (trung bình toàn quốc 52%). Hộ
nông dân có trình độ đại học (khoảng 67.768 USD/năm) cao hơn hẳn so với hộ
không có trình độ (khoảng 44.076 USD) (theo Kipatrick,1996).
Giá trị nông sản của Australia đạt khoảng 25 tỷ USD/năm, chiếm khoảng
3,8% giá trị tổng sản lượng quốc gia, trong đó suất khẩu đạt 10-20 tỷ USD, chiếm
75-80% tổng sản lượng nông sản. Ngành sản xuất rau, hoa quả của Australia có giá
trị sản lượng khoảng 5,3 tỷ USD vào năm 2005-2006. Nông nghiệp Australia có lợi
thế trong sản xuất những loại nông sản trái vụ. Vào năm 2004-2005, ngành làm
vườn Australia đã xuất khẩu gần 1 tỷ USD, trong đó có khoảng 600 triệu USD rau,
quả, trái cây tươi và 290 triệu USD rau, quả chế biến. Cũng trong năm đó, Australia
nhập khẩu 272 triệu USD rau, quả tươi và 648 triệu USD rau, quả chế biến.
1.4.1.2. Tổ chức và chính sách khuyến khích sản xuất rau an toàn ở
Australia
Để phát triển ngành làm vườn, Australia đã xây dựng chính sách 3 điểm:
- Cải thiện mức lãi trong thu nhập của nông dân

Thái Thị Bun My Lớp: Kinh tế Nông nghiệp 46A
19
19
- Tăng cường sức cạnh tranh của mặt hàng rau, hoa, quả
- Nâng cao tính bền vững của ngành làm vườn
Để triển khai 3 điểm nói trên, Nhà nước Australia đã có sáng kiến tổ chức
nhiều cơ quan hỗ trợ về nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, tiếp thị,
kiểm dịch… để tạo sự đồng bộ trong dây chuyền sản xuất. Cơ quan làm vườn HAL
(Horticulture Australia Limited) có trách nhiệm xây dựng chiến lược và định hướng
phát triển cho toàn ngành; cơ quan Nghiên cứu và phát triển kỹ nghệ nông thôn

như toàn bộ vành đai xanh ven các thành phố lớn hoặc những vùng làng nghề xa xôi
đã sản xuất rau, hoa quả theo công nghệ cao, vừa có năng suất cao vừa đảm bảo an
toàn vệ sinh. Năng suất 500 tấn cà chua hoặc 450 tấn dưa chuột/ha/năm không còn
là một con số không tưởng. Nông gia trồng rau, hoa Australia đã có một thu nhập
khoảng hơn nửa triệu USD/năm từ một nhà kính chỉ có diện tích 5.000m
2
.
1.4.1.4. Bài học đối với Việt Nam

Những vấn đề cần tập trung giải quyết để phát triển ngành rau, hoa ,quả công
nghệ cao ở Việt Nam với chất lượng cao, an toàn vệ sinh và giá rẻ. Việt Nam cần
tiếp thu những kinh nghiệm và ứng dụng triển khai hợp lý các nguồn lực nông
nghiệp. Đồng thời việc xây dựng quy trình sản xuất tốt GAP và ký kết thực hiện
những quy định về kiểm dịch (SPS – Sanitary and Phytosanitary) cũng cần phải hỗ
trợ cho xuất khẩu. Theo báo cáo của FAO (2006), thị trường nhập khẩu thế giới về
rau, hoa, quả lớn gấp 20 lần thị trường lúa gạo. Như vậy, sản xuất rau, hoa, quả theo
tiêu chí GAP sẽ vừa thỏa mãn yêu cầu của thị trường nội địa, đồng thời cũng sẽ tăng
lượng xuất khẩu, đem ngoại tệ về cho đất nước. Vị trí trung tâm ở Đông Nam Á sẽ
giúp Việt Nam xuất khẩu rau, hoa, quả sang các nước trong khu vự ASEAN, Trung
Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ và Australia. Tình trạng sụt giảm xuất khẩu rau,
quả liên tục 5 năm liền của Trung Quốc là một kinh nghiệm cho thấy không có thị
trường nào ổn định cho nông sản nếu không giải quyết được các yêu cầu cơ bản về
số lượng, chất lượng, giá cả và an toàn vệ sinh
.
1.4.2. Kinh nghiệm sản xuất rau an toàn ở Thái Lan
Thái Lan là một trong những nước xuất khẩu rau lớn trên thế giới. Công
nghệ sản xuất rau an toàn của Thái Lan cũng có nhiều tiến bộ so với nước ta. Chính
vì vậy chúng ta cần phải học hỏi và tiếp thu những kinh nghiệm quý báu về quản lý,
sản xuất cũng như kiểm tra chất lượng rau an toàn của Thái Lan.


chứng nhận, Trung tâm sẽ kiểm tra đột xuất hoặc định kỳ, nếu vi phạm lần 2 về các
tiêu chuẩn sẽ bị thu hồi giấy chứng nhận GAP.

Thái Thị Bun My Lớp: Kinh tế Nông nghiệp 46A
22
22
- Một cán bộ của Trung tâm phụ trách khoảng 30 ha đăng ký chứng nhận sản
phẩm (tạm hiểu là cán bộ giám sát). Lực lượng này được chương trình vệ sinh an
toàn thực phẩm đào tạo và được Nhà nước trả lương hàng tháng. Gần đến cuối vụ,
cán bộ giám sát sẽ quyết định phân tích các chỉ tiêu dư lượng nào và đăng ký với
Hội đồng cấp giấy chứng nhận của Trung tâm tiến hành xem xét và cấp giấy chứng
nhận và logo dán trên sản phẩm.
- Nông dân Thái Lan được trang bị kiến thức sản xuất rau an toàn theo hướng
sinh học và GAP, được trang bị GT test kit (kiểm tra nhanh) miễn phí để tự kiểm tra
dư lượng thuốc khi có sử dụng thuốc thuộc nhóm lân hữu cơ và cac ba mat trên
đồng ruộng.
Bên cạnh đó Cục Khuyến nông Thái Lan chuyển giao, tập huấn cho các
nhóm nông dân sản xuất rau an toàn để tự kiểm tra chất lượng trước khi cắt bán.
Điều quan trọng nhất trong sản xuất và tiêu thụ rau an toàn là phải giữ được uy tín
và lòng tin của khách hàng. Rau an toàn Thái Lan đã làm được điều đó.
Để thấy rõ sự khác nhau giữa cách kiểm tra chất lượng rau an toàn và kinh
nghiệm cần học hỏi ở sản xuất rau an toàn Thái Lan, ta có thể tiến hành các so sánh
như sau:


nhận
-

Mô hình vệ sinh an toàn thực phẩm:
“Từ trang trại đến bàn ăn” là chương
trình hành động quốc gia, đầu mối là
Bộ Y tế => Công cụ kiểm tra chất
lượng thống nhất toàn quốc, các ngành
-

Mô hình vệ sinh an toàn thực phẩm:
“Chương trình quốc gia về vệ sinh an toàn
thực phẩm”. Trong đó Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn quản lý trang trại còn
Bộ Y tế quản lý bàn ăn => Chưa có tính
thống nhất toàn quốc, giữa các ngành

Thái Thị Bun My Lớp: Kinh tế Nông nghiệp 46A
24
24
Chương 2: Thực trạng sản xuất rau an toàn ở Việt Nam
2.1. Thực trạng sản xuất rau an toàn ở Việt Nam
2.1.1. Đánh giá thực trạng sản xuất rau ở Việt Nam
 Kết quả sản xuất rau ở Việt Nam về diện tích, năng suất như sau:
Trong thời gian qua, nhất là kể từ đầu thập kỷ 90, diện tích rau, quả của Việt
Nam phát triển nhanh chóng và ngày càng có tính chuyên canh cao. Tính đến năm
2004, tổng diện tích trồng rau, đậu trên cả nước đạt trên 600 nghìn ha, gấp hơn 3 lần
so với năm 1991, đến năm 2007 đạt 670,4 nghìn ha (xem biểu 2.1)
Qua biểu đồ 2.1 ta thấy, diện tích và sản lượng rau có xu hướng tăng lên qua
các năm cho thấy hiệu quả của việc ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status