Thực trạng & Giải pháp triển sản xuất cây ăn quả ở ngoại thành Hà Nội - Pdf 12

Lời Mở Đầu
1.Tính cấp thiết của đề tài
Trên thế giới, các nớc có mức sống cao cũng là những nớc có nhu cầu tiêu
thụ sản phẩm quả rất lớn trong đó quả tơi là loại thực phẩm không thể thiểu trong
cơ cấu bữa ăn hàng ngày. Ngoài việc cung cấp chất khoáng và nhiều loại Vitamin
khác nhau, hoa quả còn có tác dụng rất tốt trong việc tiêu hoá thực phẩm và chống
chứng táo bón cũng nh một số biểu hiện bất thờng khác.
ở những những nớc này, cây ăn quả dợc coi là một ngành kinh tế quan
trọng, thúc đẩy sự phát triển ngành nông nghiệp nói riêng và nền kinh tế xã hội nói
chung. Do nhiều nguyên nhân khác nhau, một số nớc không có điều kiện để phát
triển cây ăn quả hoặc trình độ sản xuất cây ăn quả nằm ở mức thấp, không tự đáp
ứng nhu cầu tiêu dùng thì Nhà nớc phải có chính sách nhập khẩu quả tơi hàng
năm. Sự điều phối thị trờng mua bán quả cả sản phẩm tơi và chế biến, tạo nên sự
giao lu hàng hoá ngày càng rộng rãi và trở thành một nhân tố kích thích cho sự
phát triển cây ăn quả trên phạm vi toàn thế giới.
ở Việt Nam, sau khi vấn đề lơng thực giải quyết cơ bản nhu cầu quả tơi nhu
cầu tiêu dùng ngày một gia tăng ( bình quân tiêu dùng quả/ đầu ngời một năm là
60 Kg(2000) và dự báo đến năm 2010 là 70Kg ). Sự giao lu hàng hoá trong đó có
quả dứa hai miền Nam Bắc tạo nên một thị trờng tiêu thụ phong phú và đa dạng .
Nhìn trên tổng thể,Việt Nam hoàn toàn có đủ điều kiện để phát triển cây ăn
quả. Thực tế cho thấy những năm trớc đây việc sản xuất cây ăn quả cha đợc quan
tâm đúng mức, tốc độ phát triển chậm và còn mang tính tự phát, kim ngạch xuất
khẩu quả thấp, ngay cả tiêu thụ nội địa cũng cha đáp ứng nhu cầu đang có xu hớng
ngày càng tăng.
Hà nội vốn là vùng có một số cây ăn quả đặc sản nh: cam Canh, bởi Diễn,
hồng xiêm Xuân Đỉnh. Các cây trồng này đã đợc trồng ở ngoại thành từ lâu đời.

1
Những năm gần đây, do yêu cầu của thị trờng, bên cạnh các cây ăn quả đặc sản,
Hà Nội còn phát triển nhiều loại cây ăn quả khác nh: nhãn, táo, na dai, vải thiều.
Trong những năm qua, nhiều chơng trình dự án có liên quan đến sản xuất

3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tiến hành trên phạm vi 5 huyện ngoại thành Hà nội: Từ
Liêm, Thanh Trì, Gia Lâm, Đông Anh, Sóc Sơn.
4.Nội dung của đề tài bao gồm:
- Lời nói đầu
- Phần I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển cây ăn quả
- Phần II: Thực trạng phát triển cây ăn quả ở ngoại thành Hà nội
- Phần III: Phơng hớng và một số giải pháp phát triển sản xuất cây ăn quả ở
ngoại thành Hà Nội
- Kết luận
Do thời gian nghiên cứu có hạn, với vốn kiến thức của bản thân còn hạn chế,
nên nội dung đề tài không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong đợc sự đóng góp ý
kiến của các thầy cô để đề tài đợc tốt hơn.3
Phần I: Cơ sở lý luận và thực tiễn
về phát triển cây ăn quả
I. Vị trí và vai trò của cây ăn quả
1. Vị trí cây ăn quả trong kinh tế nông nghiệp hiện nay
Lịch sử loài ngời cho thấy rằng: ngay từ thửa xa xa, trái cây đã là một trong
các nguồn thức ăn sẵn có trong tự nhiên của con ngời nguyên thuỷ. Giá trị dinh d-
ỡng và sinh tố của các loại quả đã khiến chúng đợc con ngời sử dụng ngày càng
nhiều trong cuộc sống hàng ngàn năm nay.Theo tài liệu của FAO sản lợng quả các
loại toàn thế giới thời kỳ 1989-1991 là 352 triệu tấn/năm, đến năm 2000 đã tăng
lên đạt 429,4 triệu tấn/năm ( tăng 22% ). Trong khi đó mức tăng tơng ứng của lúa
gạo là 10,8%, khoai tây 10,6%, chỉ có rau (29,8%) là tăng nhanh hơn quả các loại.
Năm 2000 sản lợng bình quân đầu ngời trên thế giới là 73kg, có những nớc bình
quân này rất cao nh ý 273 kg, Thổ Nhĩ Kỳ 200 kg, Pháp 174 kg. Năm 2000 tốc độ
tiêu thụ quả các loại tăng lên rõ rệt, trong khi các loại nông sản chủ yếu khác đều

3,6
1,6
2,9
2,1
1,7
1,8
1,7
1,6
2,9
1,6
1,8
2,6
2,1
2,1
2,5
2,2
3,8
2,1
2,7
2
1,6
1,6
1,6
1,6
2,7
1,5
2,1
2,4

4

1996
%
1997
%
1998
%
1999
%
2000
%
Bình quân
%
Tổng số
Trong đó:
Cây lơng thực
Rau đậu
Cây công nghiệp
Cây ăn quả
100
65,9
6,4
16,7
8,8
100
63,6
7,5
28,3
8,4
100
64,1

ngành nghề khác nhau. Trong quả có loại đờng dể tiêu, các axit hữu cơ, prôtêin,
lipit, chất khoáng, pectin, tananh, các hợp chất thơm và các chất khác có nhiều loại
vitamin khácc nh A, B1, B2, B6,C,PP. Đặc biệt là vitamin C rất cần thiết cho cơ thể
con ngời, vitamin A cần thiết cho trẻ em. Trong khẩu phần ăn của con ngời không
những cần đầy đủ calo mà cần có vitamin, muối khoáng, các axit hữu cơ và các
hoạt chất khác để các họt động sinh lý đợc tiến hành bình thờng. Nhu cầu về calo
dựa vào việc cung cấp đạm, mỡ, hydrat cacbon từ động vật và thực vật, còn vitamin
và các hoạt chất khác thì chủ yếu dựa vào quả và rau.

6
Biểu 3: Sản lợng tính theo đầu ngời / năm ở các nớc trong khu vực Châu á-
Thái Bình Dơng ( từ năm 1985 -1987 )
STT Nớc
Sản lợng
theo đầu ng-
ời (Kg/năm)
STT Nớc
Sảnlợng
theo đầu ngời
( Kg/ năm)
1 Bangladesh 13,0 11 Papua Niu Ghilê 307,8
2 Mianma 23,3 12 Philippin 113,6
3 Trung quốc 11,3 13 Srilanka 49,2
4 Campuchia 39,9 14 Thái Lan 104,3
5 Bắc Triều Tiên 56,7 15 Việt Nam 61,1
6 Hàn Quốc 37,2 16 Nhật Bản 47,1
7
ấn Độ
31,3 17 Niuzilân 170,7
8 Inđônêxia 34,2 18

-Necta quả: còn gọi là nớc quả đục, nớc quả ngiền với thịt quả. Necta quả
khác với nớc quả tự nhiên ở chỗ chứa nhiều thịt quả và ở dạng sệ, chế biến bằng
cách chà mịn các loại quả khó ép lấy dịch nh: chuối, xoài, đu đủ, mẵng cầu. Do
chứa thành phần quả; là chủ yếu nên Necta quả cũng có giá trị dinh dỡng cao- t-
ơng tự nh nớc quả tự nhiên .
-Nớc quả cô đặc: là nớc quả ép, lọc trong rồi đợc cô đặc tới hàm lợng chất
khô 60-70%. Có thể coi nớc quả cô đặc là một dạng bán chế phẩm để chế biến nớc
giải khát, rợu vang quả, rợu mùi, kem. Để nớc quả cô đặc có mùi vị và giá trị dinh
dỡng cao ngời ta ứng dụng những công nghệ cô đặc tiên tiến. Phổ biến hơn cả là
công nghệ cho nớc quả bốc hơi ở độ chân không cao ( trên 500mm thuỷ ngân) để
nhiệt độ đợc hạ thấp 50-60
0
C. Cũng có thể áp dụng công nghệ làm lạnh đông: dịch
quả đợc làm đông tới nhiệt độ -5 đến -10
0
C. Khi ấy phần nớc trong dung dịch đóng
băng trớc và đợc tách khỏi dịch quả bằng cách li tâm. Dịch quả đợc làm đặc từng
bớc và sản phẩm cuối cùng đạt độ khô 60-70% .
-Xirô quả: Là nớc quả đợc pha thêm nhiều đờng (thờng dùng đờng kính trắng)
để độ đờng trong Xirô đạt 60-70% .Cần phân biệt Xiro quả với nớc quả cô đặc, 2
sản phẩm này cùng chứa dịch quả, có cùng hàm lợng đờng cao nhng nớc quả cô
đặc không bổ sung đờng còn Xiro quả đờng bổ sung đờng với số lợng lớn.
-Squash quả:Tơng tự nh Xiro quả nhng chứa nhiều thịt quả hơn và ở dạng đặc
sánh hơn.

8
-Nớc quả lên men: đợc chế biến bằng cách cho nớc quả lên men rợu. Sau thời
gian lên men từ 24-36 giờ, độ rợu trong sản phẩm đạt tới 4 -5% V .Sau đó sản
phẩm đợc triệt trùng, đóng vào bao bì kín và tiêu thụ nhanh. Nớc quả lên men có
hơng vị đặc biệt do nấm men tạo ra, lại chứa nhiều CO2 nên có tác dụng tiêu hoá

và 20.000 tấn dứa đông lạnh(1984).
Từ sau 1990, khi bị mất thị trờng truyền thống, quả đợc xuất sang thị trờng
Châu á và Tây Âu , song mới ở dạng thăm dò, giới thiệu. Do vậy hiện nay các nhà
máy mới chỉ sử dụng 40-50% công suất và hiệu quả kinh tế đa lại còn thấp. Ngoài
hệ thông các nhà máy chế biến nêu trên,vài năm gần đây hệ thống lò sấy thủ công
chế biến long nhãn xuất khẩu sang Trung Quốc cũng đợc phát triển ở vùng nhãn
đồng bằng Sông Cửu Long và các tỉnh có nhiều nhãn ở đồng bằng sông Hồng nh
Hng Yên, Hải Dơng, Hà Nam.
Theo số liệu điều tra thì cả nớc có khoảng 140 lò sấy, trong đó đồng bằng
sông Cửu Long có 115 lò đồng bằng Sông Hồng có 25 lò, tiêu thụ khoảng 70%
nhãn tơi trong vùng. Khối lợng long nhãn thành phẩm khoảng 4000-5000 tấn.
Chỉ từ năm 1981-1990 nghành rau quả xuất khẩu đợc khối lợng đáng kể và
thu đợc kim ngạch khá lớn. Năm 1981 xuất đợc 42106 tấn sản phẩm thu đợc
11.992.000 USD ( chiếm 9,7% tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản). Về xuất khẩu
rau quả tơi chiếm 40-60% ( từ năm 1989-1990 chỉ còn chiếm 18-30%) kim ngạch
chỉ đạo 32-36% tổng kim ngạch xuất khẩu.Trong đó nhóm gia vị chiếm 5-15% nh-
ng kim ngạch xuất khẩu lại cao chiếm 25-30%. Vì vậy,ta tăng sản phẩm chế biến,
giảm xuất khẩu tơi (năm 1993 kim ngạch xuất khẩu còn 6,9 triệu USD) .
2.3. Cây ăn quả còn có tác dụng lớn trong việc bảo vệ môi trờng sinh thái với các
chức năng làm sạch môi trờng, giảm tiếng ồn, làm rừng phòng hộ, làm đẹp cảnh
quan.

10
Nhiều cây giống ăn quả cho nguồn mật có chất lợng cao đợc nhiều ngời tiêu
dùng a thích. ở vùng nhiệt đới cây ăn quả còn có tác dụng bảo vệ dất chống xói
mòn, làm hàng rào cản bão. ở các khu dân c, đô thị ngời ta trồng cây ăn quả với
mục đích cây cảnh, cây bóng mát. Nhiều cây ăn quả có tán lá đẹp, màu sắc hấp
dẫn dùng trồng trong công viên hoặc các công trình kiến trúc, các bảo tàng, bệnh
viện hay các khu điều dỡng. Các vùng vải, nhãn ở Hng Yên, Lục Ngạn vừa là
nguồn sản phẩm dinh dỡng quý vừa có độ che phủ chống xói mòn, bảo vệ đất với

vụ) để hạn chế tính thời vụ.
III. Các nhân tố ảnh hởng đến sản xuất cây ăn quả
1. Nhân tố tự nhiên
* Đất đai: là yếu tố sản xuất không thể thiếu đợc của mọi nhành sản xuất, đặc
biệt là ngành trồng trọt, trong đó có ngành rau quả. Số lợng, chất lợng, vị trí của
đất đai có ảnh hởng đến sự phát triển của ngành sản xuất câu ăn quả.
Việt Nam nằm ở vùng Đông Nam Châu á, đất nớc có chiều dài trên 15 vĩ độ
với mấy ngàn km giáp biển đông. Đất đai nớc ta rất phong phú, cả nớc có 13 nhóm
đất chính, trong đó nhóm đất đỏ chiếm gần 54% đợc phân bố ở trung du miền núi
phía Bắc. Đây là nhóm đất có chất lợng tốt thuận lợi cho việc phát triển cây công
nghiệp lâu năm và đặc biệt là cây ăn quả. Còn lại là tất cả các loại đất nh: đất đen,
đất xám, dất phù sa, đều thuận lợi cho việc phát triển cây ăn quả.
*Khí hậu: khí hậu là môi trờng sống của các loại cây trồng. Vì vậy, nếu khí
hậu thời tiết thuận lợi cây trồng phát triển tốt và ngợc lại, nếu thời tiết không thuận
lợi thì cây trồng không phát triển đợc hoặc kém phát triển.
Việt Nam nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa với sự biến đổi khí hậu giữa
các miền Bắc- Nam. Điều đó cho phép nớc ta trồng đợc nhiều loại hoa quả nhiệt
đới, á nhiệt đới và một số rau quả gốc ôn đới, mùa vụ thu hoạch kế tiếp nhau nhiều
tháng trong năm. Việt Nam còn là một trong những vùng phát sinh của một số cây

12
ăn quả nh cam, quýt, vải, chuối và có nguồn gien di truyền thực vật phong phú, đa
dạng về cây ăn quả, gia vị và hoa.
Bên cạnh những lợi thế sinh thái, rau quả nớc ta cũng bị ảnh hởngcủa một số
hạn chế và bất lợi của khí hậu đối với nông nghiệp nh : bão lụt, thời tiết kém ổn
định do gió mùa đông bắc, dẫn tới rủi ro về chất lợng.
*Địa hình: Rải đều khắp từ Bắc tới Nam là địa hình từ núi cao đến đồng bằng,
sông suối và ven biển đã tạo nên những lợi thế về địa lý -sinh thái so với nhiều nớc
khác. Các hệ thống giao thông đờng bộ, đờng biển và hàng không thuận tiện cho
việc giao lu hàng hóa quốc tế và khu vực.

triển sản xuất và tăng khối lợng xuất khẩu. Nhng ngợc lại, nếu cơ chế chính schs
mà không đúng thì sẽ cản trở phát triển sản xuất câu ăn quả.
Do hoàn cảnh nớc ta một thời gian dài phải tạp trung cho sản xuất lơng thực,
nên khả năng đầu t cho các ngành sản xuất nông sản có giới hạn. Trong đó , ngành
rau quả cha đợc đầu t đúng mức do vậy cha phát huy đợc tiềm năng vốn có. Những
năm gần đây, nhà nớc đã có chình sách đầu t cho ngành rau quả thích đáng hơn,
công tác nghiên cứu khoa học đợc nhà nớc quan tâm nhiều hơn. Cho nên, ngành
rau quả đã có sj phát triển nhất định. Song các chính sách khuyến khích sản xuất
cây ăn quả còn nhiều hạn chế cha khuyến khích đợc ngành rau quả phat triển
mạnh.
3. Nhân tố về tổ chức kỹ thuật
Những nhân tố nông nghiệp này bao gồm: các hình thức tổ chức sản xuất
( trang trại, hợp tác xã , hộ gia đình); sự phát triển của khoa học kỹ thuật và việc
ứng dụng chúng vào sản xuất.
Các hình thức tổ chức sản xuất phản ánh mức độ tập trung cac nguồn lực của
địa phơng cho sản xuất. Trong ngành nông nghiệp ở các nớc t bản phát triển thì
hình thức tổ chức sản xuất chủ yều là trang trại, có rất nhiều những trang trại với

14
quy mô hàng ngàn ha, còn ở nớc ta thì chủ yếu lại là hộ gia đình, sản xuất với quy
mô nhỏ bé, ruộng đất manh mún, phân tán là nguyên nhân cản trở sản xuất hàng
hoá phát triển.
Việc ứng dụng các tiến bộ khoa học vào sản xuất góp phần hoàn thiện các ph-
ơng thức sản xuất nhằm khai thác, ứng dụng hợp lý và hiệu quả hơn các nguồn lực
xã hội vào ngành trồng trọt.
Trong lĩnh vực trồng trọt, việc xác định cơ cấu cây trồng trớc tiên phải tìm hiểu
nhu cầu của thị trờng trong và ngoài nớc về số lợng, chất lợng, mẫu mã, giá cả.
Trên cơ sở đó mà có sự bố trí sắp xếp sản xuất hợp lý đáp ứng nhu cầu thị trờng,
thúc đẩy nhanh tái sản xuất mở rộng.
IV Tình hình sản xuất cây ăn quả ở Việt Nam và trên thế giới

ớc) để phát triển sản xuất các loại cây ăn quả trong những năm tới.
Cả nớc ta hiện có 140 loài cây ăn quả thuộc gần 40 họ thực vật. Những năm
qua diện tích và sản lơng cây ăn quả ở nớc ta tăng lên nhanh chóng. Năm 1999 cả
nớc có hơn 425.000 ha cây ăn quả, đến năm 2002 đã có khoảng 500.000 ha, trong
đó Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long chiếm 54% diện tích cây ăn quả
của cả nớc và có tới 30 loại trái cây có sản lợng sản xuất hàng năm khá lớn nh
xoài, dứa, măng cụt, dă hấu, sầu riêng, chôm chôm, cam quýt. Về sản lợng trái
cây, theo số liệu của cục khuyến nông-khuyến lâm, năm 1994 cả nớc sản xuất 2,6
triệu tấn trái cây, năm 1996 là 3,2 triệu tấn, năm 1998 là 4 triệu tấn, năm 2000 là
4,5 triệu tấn.
Trái với tốc độ tăng nhanh diện tích và sản lợng, việc tiêu thụ sản phẩm trái
cây lại luôn gặp nhiều khó khăn và ách tắc.Trái cây Việt Nam xuất khẩu rất khó
khăn, năm 1998 cả nớc chỉ xuất khẩu đợc dới 10.000 tấn, mới bằng 0,25% sản l-
ợng trái cây sản xuất trong nớc. Các năm 1999-2000 xuất khẩu trái cây có tăng
song sản lợng xuất khẩu còn rất nhỏ bé. Trái cây Việt Nam không chỉ ách tắc trong

16
xuất khẩu mà tiêu thụ cũng rất khó khăn ở thị trờng nội địa và rất khó cạnh tranh
với trái cây cùng loại nhập khẩu. Theo tổng cục Hải quan, chỉ tính nguồn nhập
khẩu chính ngạch, hiện mỗi năm nớc ta nhập khẩu từ 20.000 đến 30.000 tấn trái
cây,trong đó có khoảng 8000 tấn táo, 3000 tấn nho, 340 tấn nho khô. Ngoài ra
nguồn trái cây nhập khẩu từ Trung Quốc qua con đờng tiểu ngạch (bao gồm táo,
lê, cam, quýt, nho) vào nớc ta có khối lợng khá lớn. Riêng lợng ngoại tệ để nhập
khẩu trái cây chính ngạch hàng năm ớc tính đã tới 13-15 triệu USD/ năm. Những
khó khăn và ách tắc trong tiêu thụ sản phẩm đã hạn chế việc phát huy các tiềm
năng phát triển sản xuất cây ăn quả và hạn chế rất lớn hiệu quả sản xuất cũng nh
lợi ích của ngời sản xuất cây ăn quả nớc ta .
2. Tình hình sản xuất cây ăn quả ở Việt Nam
Cây ăn quả ở nớc ta tuy đã đợc trồng từ lâu đời, song trớc kia sản xuất chủ
yếu dựa theo tập quán. Theo các tài liệu thì sang thế kỷ 20 các hoạt động điều tra

+ Trồng phân tán trong các vờn của các nông hộ với mục đích tự túc, bổ sung
dinh dỡng bữa ăn. Tuy vậy chỉ mới có khoảng 15-20%số hộ có trồng cây ăn quả
trong vờn. Theo kết quả điều tra nông hộ ở các vùng nông nghiệp khác nhau, ớc
tính bình quân mỗi nông hộ ttrồng khoảng 40 m
2
cây ăn quả trong vờn với nhiều
loại cây truyền thống nh mít, nhãn, ổi, chuối.
+ Tập trung trành vùng có mục đích sản xuất hàng hoá, chủ yếu là do các nông
hộ trồng, trong đó có 28 nông trờng có trrồng cây ăn quả với nhiều quy mô, diện
tích khác nhau .
Quá trình hình thành vùng quả từ 3 khu vực đặc trng là :
+ Do chủ trơng của nhà nớc về quy hoạch phát triển vùng cây ăn quả, bắt đầu từ
các nông trờng quốc doanh, sau đó phổ biến rộng ra các nông hộ trong vùng, gắn
với công nghệ chế biến xuất khẩu, chẳng hạn nh khu vực trồng dứa vùng đất

18
phènTứ Giác Long Xuyên, đồng Tháp Mời, khu vực Đồng Giao( Ninh Bình), Hà
Trung( Thanh Hoá).
+ Do điều kiện lợi thế về sinh thái của các loại cây ăn quả có vị trí thuận lợi về
giao thông vận tải và có rhị trờng tiêu thụ nên đã hình thành vùng cây ăn quả nh
vùng quả của đồng bằng sông củ long, Đông Nam Bộ , ngoại thành Hà Nội
+Từ những vờn cây ăn quả đặc sản của những địa phơng đợc thị trờng tiêu thụ
mạnh phát triển nên thanhg các vùng quả tập trung nh các vùng bởi Năm Roi
(Vĩnh Long). Tân Triều ( Đồng Nai), Phúc Trạch ( Hà Tĩnh), mơ mận (Tây
Bắc,Đông Bắc).
Qui mô vờn quả của các nông hộ sản xuất ở các vùng tập trung tuỳ thuộc vào
đặc điểm đất đai từng vùng. Vùng đồng bằng Sông Hồng dới 200 m
2
; miền Nam,
miền Núi Trung Du Phía Bắc Phổ biến từ 1000-2000m

cùng là châu Đại Dơng.
Năm 1998 Braxin sản xuất ra 27,5 triệu tấn chiếm 8,33% tổng sản lợng quả thế
giới. Sau đó là các nớc Mĩ 25 triệu tấn và chiếm 7,8%, ấn Độ 24,6 triệu tấn
( chiếm 7,48%) Italia 18,8 triệu tấn ( chiếm 5,72%),Trung Quốc 18,4 triệu tấn
( chiếm 5,59%) sản lợng quả của 5 nớc này tơng đơng 35% tổng sản lợng quả trên
thế giới. Ngoài 5 nớc có sản lợng quả lớn kể trên còn có các nớc khác nh Liên Xô (
cũ) 14,5 triệu tấn, Pháp 11,1 triệu tấn ,Tây Ban Nha 11,02 triệu tấn, Thổ Nhĩ Kì 8,8
triệu tấn.
Để phát triển diện tích và tăng sản lợng cây ăn quả,trên thế giới đã chú trọng
những vấn đề nh: chọn giống mới, nghiên cứu ký thuật trồng và quản lý, chăm sóc
cây ăn quả ; tới nớc giữ độ ẩm, chống xói mòn đất cho cây ăn quả ; nghiên cứu kỹ
thuật thu hái xử lý sau thu hoạch

20
Phần II
Thực trạng phát triển sản xuất cây ăn quả ở
ngoại thành hà nội
I. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hởng đến sản xuất cây ăn quả
ngoại thành Hà Nội
1. Đặc điểm về tự nhiên
1.1. Vị trí địa lý
Ngoại thành Hà Nội gồm 5 huyện: Đông Anh, Gia Lâm, Thanh Trì, Từ Liêm và
Sóc Sơn. Hà Nội nằm ở trung tâm vùng Đồng bằng sông Hồng, trong phạm vi
từ 2053 đến 2123 vĩ độ Bắc và từ 10544 đến 10602 độ kinh Đông. Hà Nội
tiếp giáp với 5 tỉnh: Bắc Kạn và Thái Nguyên ở phía Bắc, Hà Tây và Hà Nam ở
phía Nam và Tây nam. Vị trí này tơng đối thuận lợi cho việc giao lu kinh tế của
vùng trong nền kinh tế mở cửa và là điều kiện quan trọng trong việc thúc đẩy
phát triển sản xuất hàng hoá.
1.2 Đất đai
Hà Nội có tổng diện tích tự nhiên là 911.800 ha, trong đó đất nông nghiệp là

1. Đất nông nghiệp
8.104.241 24,66 43.456 4,76
1.1. Đất trồng cây hàng năm 5.678.655 70,07 38.885 89,48
1.2. Đất vờn tạp 561.369 6,93 473 1,09
1.3. Đất trồng cây lâu năm 1.453.302 17,93 1.200 2,76
1.4. Đất đồng cỏ 71.584 0,88 78 0,18
1.5. Đất mặt nớc nuôi thuỷ sản 339.331 4,19 2.820 6,49
2. Đất lâm nghiệp
10.935.362 33,27 6.717 0,73
3. Đất cha sử dụng
12.087.040 36,77 1.137 0,12
3.1. Đất bằng 868.772 7,19 364 32,01
3.2. Đất đồi núi 8.549.550 70,73 210 18,47
3.2. Mặt nớc 189.313 1,57 563 49,52
Nh vậy, diện tích đất ngoại thành Hà Nội chiếm 2,77% so với tổng diện tích
toàn quốc trong đó đất nông nghiệp chiếm 0,54%, đất lâm nghiệp chiếm 0,06% và
đất cha sử dụng chiếm 0,009%, do đó ngoại thành Hà Nội có thế mạnh phát triển
sản xuất nông nghiệp cao.
1.3 Thời tiết, khí hậu, thuỷ văn
Khí hậu của Hà Nội mang đặc trng của đồng bằng sông Hồng, đó là nền khí
hậu nhiệt đới, á nhiệt đới ẩm, có pha trộn ít nhiều tính chất ôn đới. Tuy nhiên do

22
ngoại thành Hà Nội còn có các tiểu vùng sinh thái đặc thù nh vùng đồi gò Sóc Sơn,
vùng trũng Thanh Trì... nên cũng có một số nét đặc trng. Nhiệt độ trung bình năm
24C, tối cao là 42,8C, tối thấp là 5,6C. Lợng ma cả năm dao động 1.300 - 1.700
mm, với năm cao nhất là 2.714 mm và năm thấp nhất là 25%, bão ảnh hởng đến
Hà Nội từ tháng 7 đến tháng 10, tỷ suất dao động từ 2,5 - 32,5%. Số giờ nóng dao
động từ 1.500 - 1.700 giờ/ha, tổng bức xạ quang hợp từ 55 - 62 kcal cm
2

Khi nói đất nông nghiệp ngời ta nói đất sử dụng chủ yếu vào sản xuất của các
ngành nông nghiệp, bởi vì trên thực tế có trờng hợp đất đai đợc sử dụng vào những
mục đích khác nhau của các ngành. Trong trờng hợp đó, đất đai đợc sử dụng chủ
yếu cho mục đích hoạt động sản xuất nông nghiệp mới coi là đất nông nghiệp, nếu
không sẽ là các loại đất khác (tuỳ theo việc sử dụng vào mục đích nào là chính).
Tuy nhiên, để sử dụng đầy đủ hợp lý ruộng đất, trên thực tế ngời ta coi đất đai
có thể tham gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp mà không cần có đầu t lớn
nào cả, là đất nông nghiệp cho dù nó đã đa vào sản xuất nông nghiệp hay cha. Vì
vậy trong luật đất đai năm 1993, điều 17 có ghi rõ: khoanh định các loại đất nông
nghiệp... điều chỉnh việc khoanh định cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển
kinh tế - xã hội trong phạm vi từng địa phơng và cả nớc. Những diện tích đất đai
phải qua cải tạo mới đa vào hoạt động sản xuất nông nghiệp đợc coi là đất có khả
năng nông nghiệp.
Trong nông nghiệp đặc biệt là trong ngành trồng trọt, đất đai có vị trí hết sức
quan trọng. ở đây, đất đai không chỉ là chỗ đứng, chỗ tựa của lao động nh các
ngành khác mà còn cung cấp thức ăn cho cây trồng và thông qua sự phát triển của
trồng trọt tạo điều kiện cho ngành chăn nuôi phát triển. Với ý nghĩa đó, trong nông
nghiệp đất đai là t liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt là cơ sở tự nhiên sản sinh ra
của cải vật chất cho xã hội. Đúng nh Uyliam petis đã nói: Lao động là cha, đất là
mẹ của mọi của cải vật chất.
b. Cơ cấu đất nông nghiệp ngoại thành

24
Năm 2000, diện tích đất nông nghiệp của Hà Nội là 42.460 ha, chiếm 50,8%
trong tổng diện tích đất tự nhiên của thành phố. Tỷ lệ trên sẽ còn biến động trong
các năm tới, khi mà tốc độ phát triển đô thị của Hà Nội diễn ra nhanh. Những ý đồ
về quy hoạch không gian đô thị của thủ đô Hà Nội sẽ tạo ra những thay đổi lớn
trên từng khu vực, có thể sẽ làm phong phú thêm chức năng, nhiệm vụ của ngành
nông nghiệp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status