Thực trạng và giải pháp phát triển cây ăn quả ở ngoại thành Hà Nội - Pdf 81

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Lời Mở Đầu
1.Tính cấp thiết của đề tài
Trên thế giới, các nớc có mức sống cao cũng là những nớc có nhu cầu tiêu
thụ sản phẩm quả rất lớn trong đó quả tơi là loại thực phẩm không thể thiểu trong
cơ cấu bữa ăn hàng ngày. Ngoài việc cung cấp chất khoáng và nhiều loại Vitamin
khác nhau, hoa quả còn có tác dụng rất tốt trong việc tiêu hoá thực phẩm và chống
chứng táo bón cũng nh một số biểu hiện bất thờng khác.
ở những những nớc này, cây ăn quả dợc coi là một ngành kinh tế quan
trọng, thúc đẩy sự phát triển ngành nông nghiệp nói riêng và nền kinh tế xã hội nói
chung. Do nhiều nguyên nhân khác nhau, một số nớc không có điều kiện để phát
triển cây ăn quả hoặc trình độ sản xuất cây ăn quả nằm ở mức thấp, không tự đáp
ứng nhu cầu tiêu dùng thì Nhà nớc phải có chính sách nhập khẩu quả tơi hàng
năm. Sự điều phối thị trờng mua bán quả cả sản phẩm tơi và chế biến, tạo nên sự
giao lu hàng hoá ngày càng rộng rãi và trở thành một nhân tố kích thích cho sự
phát triển cây ăn quả trên phạm vi toàn thế giới.
ở Việt Nam, sau khi vấn đề lơng thực giải quyết cơ bản nhu cầu quả tơi nhu
cầu tiêu dùng ngày một gia tăng ( bình quân tiêu dùng quả/ đầu ngời một năm là
60 Kg(2000) và dự báo đến năm 2010 là 70Kg ). Sự giao lu hàng hoá trong đó có
quả dứa hai miền Nam Bắc tạo nên một thị trờng tiêu thụ phong phú và đa dạng .
Nhìn trên tổng thể,Việt Nam hoàn toàn có đủ điều kiện để phát triển cây ăn
quả. Thực tế cho thấy những năm trớc đây việc sản xuất cây ăn quả cha đợc quan
tâm đúng mức, tốc độ phát triển chậm và còn mang tính tự phát, kim ngạch xuất
khẩu quả thấp, ngay cả tiêu thụ nội địa cũng cha đáp ứng nhu cầu đang có xu hớng
ngày càng tăng.
Hà nội vốn là vùng có một số cây ăn quả đặc sản nh: cam Canh, bởi Diễn,
hồng xiêm Xuân Đỉnh. Các cây trồng này đã đợc trồng ở ngoại thành từ lâu đời.

1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Những năm gần đây, do yêu cầu của thị trờng, bên cạnh các cây ăn quả đặc sản,

Là mối quan hệ giữa các loại cây ăn quả với điều kiện sinh thái trong vùng,
các yếu tố thúc đẩy, các yếu tố hạn chế, từ đó đề ra giải pháp phát triển một số cây
ăn quả chủ yếu trong vùng.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tiến hành trên phạm vi 5 huyện ngoại thành Hà nội: Từ
Liêm, Thanh Trì, Gia Lâm, Đông Anh, Sóc Sơn.
4.Nội dung của đề tài bao gồm:
- Lời nói đầu
- Phần I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển cây ăn quả
- Phần II: Thực trạng phát triển cây ăn quả ở ngoại thành Hà nội
- Phần III: Phơng hớng và một số giải pháp phát triển sản xuất cây ăn quả ở
ngoại thành Hà Nội
- Kết luận
Do thời gian nghiên cứu có hạn, với vốn kiến thức của bản thân còn hạn chế,
nên nội dung đề tài không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong đợc sự đóng góp ý
kiến của các thầy cô để đề tài đợc tốt hơn.3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Phần I: Cơ sở lý luận và thực tiễn
về phát triển cây ăn quả
I. Vị trí và vai trò của cây ăn quả
1. Vị trí cây ăn quả trong kinh tế nông nghiệp hiện nay
Lịch sử loài ngời cho thấy rằng: ngay từ thửa xa xa, trái cây đã là một trong
các nguồn thức ăn sẵn có trong tự nhiên của con ngời nguyên thuỷ. Giá trị dinh d-
ỡng và sinh tố của các loại quả đã khiến chúng đợc con ngời sử dụng ngày càng
nhiều trong cuộc sống hàng ngàn năm nay.Theo tài liệu của FAO sản lợng quả các
loại toàn thế giới thời kỳ 1989-1991 là 352 triệu tấn/năm, đến năm 2000 đã tăng
lên đạt 429,4 triệu tấn/năm ( tăng 22% ). Trong khi đó mức tăng tơng ứng của lúa

1,9
1,8
2,5
2,2
3,6
1,6
2,9
2,1
1,7
1,8
1,7
1,6
2,9
1,6
1,8
2,6
2,1
2,1
2,5
2,2
3,8
2,1
2,7
2
1,6
1,6
1,6
1,6
2,7
1,5

tổng giá trị sản xuất nông nghiệp cả nớc.

5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Bảng 2: Vị trí cây ăn quả trong cơ cấu giá trị sản xuất trồng trọt cả nớc
Loại cây
1996
%
1997
%
1998
%
1999
%
2000
%
Bình quân
%
Tổng số
Trong đó:
Cây lơng thực
Rau đậu
Cây công nghiệp
Cây ăn quả
100
65,9
6,4
16,7
8,8
100

mà vấn đề lơng thực cơ bản đã đợc giải quyết, đời sống nông dân đợc cải thiện thì
nhu cầu về tiêu thụ
Sản phẩm quả ngày càng cao cả về số lợng lẫn chất lợng. Có thể nói rằng cây
ăn quả có vai trò hết sức to lớn đối với con ngời. Cụ thể là:
2.1 Quả dùng cho bữa ăn hàng ngày
Các loại quả là nguồn dinh dỡng quý giá của con ngời ở mọi lứa tuổi và
ngành nghề khác nhau. Trong quả có loại đờng dể tiêu, các axit hữu cơ, prôtêin,
lipit, chất khoáng, pectin, tananh, các hợp chất thơm và các chất khác có nhiều loại
vitamin khácc nh A, B1, B2, B6,C,PP. Đặc biệt là vitamin C rất cần thiết cho cơ thể
con ngời, vitamin A cần thiết cho trẻ em. Trong khẩu phần ăn của con ngời không
những cần đầy đủ calo mà cần có vitamin, muối khoáng, các axit hữu cơ và các
hoạt chất khác để các họt động sinh lý đợc tiến hành bình thờng. Nhu cầu về calo
dựa vào việc cung cấp đạm, mỡ, hydrat cacbon từ động vật và thực vật, còn vitamin
và các hoạt chất khác thì chủ yếu dựa vào quả và rau.

6
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Biểu 3: Sản lợng tính theo đầu ngời / năm ở các nớc trong khu vực Châu á-
Thái Bình Dơng ( từ năm 1985 -1987 )
STT Nớc
Sản lợng
theo đầu ng-
ời (Kg/năm)
STT Nớc
Sảnlợng
theo đầu ngời
( Kg/ năm)
1 Bangladesh 13,0 11 Papua Niu Ghilê 307,8
2 Mianma 23,3 12 Philippin 113,6
3 Trung quốc 11,3 13 Srilanka 49,2

7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
* Mặt hàng sấy có: chuối sấy ,vải sấy, long nhãn.
* Mặt hàng nớc giải khát:
-Nớc quả tự nhiên ( nguyên chất): là sản phẩm mà thành phẩm chủ yếu là dịch
quả, trong đó có một phần thịt quả hoặc không chứa dịch quả. Nớc quả tự nhiên có
hàm lợng dinh dỡng cao, cảm quan hấp dẫn do có màu sắc của sản phẩm rất gần
với hơng vị màu sấc của nguyên liệu .
-Necta quả: còn gọi là nớc quả đục, nớc quả ngiền với thịt quả. Necta quả
khác với nớc quả tự nhiên ở chỗ chứa nhiều thịt quả và ở dạng sệ, chế biến bằng
cách chà mịn các loại quả khó ép lấy dịch nh: chuối, xoài, đu đủ, mẵng cầu. Do
chứa thành phần quả; là chủ yếu nên Necta quả cũng có giá trị dinh dỡng cao- t-
ơng tự nh nớc quả tự nhiên .
-Nớc quả cô đặc: là nớc quả ép, lọc trong rồi đợc cô đặc tới hàm lợng chất
khô 60-70%. Có thể coi nớc quả cô đặc là một dạng bán chế phẩm để chế biến nớc
giải khát, rợu vang quả, rợu mùi, kem. Để nớc quả cô đặc có mùi vị và giá trị dinh
dỡng cao ngời ta ứng dụng những công nghệ cô đặc tiên tiến. Phổ biến hơn cả là
công nghệ cho nớc quả bốc hơi ở độ chân không cao ( trên 500mm thuỷ ngân) để
nhiệt độ đợc hạ thấp 50-60
0
C. Cũng có thể áp dụng công nghệ làm lạnh đông: dịch
quả đợc làm đông tới nhiệt độ -5 đến -10
0
C. Khi ấy phần nớc trong dung dịch đóng
băng trớc và đợc tách khỏi dịch quả bằng cách li tâm. Dịch quả đợc làm đặc từng
bớc và sản phẩm cuối cùng đạt độ khô 60-70% .
-Xirô quả: Là nớc quả đợc pha thêm nhiều đờng (thờng dùng đờng kính trắng)
để độ đờng trong Xirô đạt 60-70% .Cần phân biệt Xiro quả với nớc quả cô đặc, 2
sản phẩm này cùng chứa dịch quả, có cùng hàm lợng đờng cao nhng nớc quả cô
đặc không bổ sung đờng còn Xiro quả đờng bổ sung đờng với số lợng lớn.

dùng của thị trờng dang ngày một tăng lên. Hiện nay có khoảng 17 nhà máy chế
biến quả xuất khẩu.Trong đó tông công ty quản lý 12 nhà máy và 5 nhà máy địa

9
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
phơng quản lý ( Sơn La, Sơn Tây, Hữu Giang, Linh Xuân, Tiền Giang) với tông
công xuất 50.000 tấn /năm về đồ hộp và 25.000 tấn/năm về rau quả đông lạnh. Hầu
hết các thiết bị đều nhập từ các nớc XHCN ( cũ) nh Nga, Đức, Bungari, Balan,
Hungari và đã sử dụng 20-30 năm nay nên thiết bị và công nghệ đã lạc hậu. Những
năm cao điểm, các nhà máy trên đã sản suất đợc 19.000 tấn quả đóng hộp ( 1987)
và 20.000 tấn dứa đông lạnh(1984).
Từ sau 1990, khi bị mất thị trờng truyền thống, quả đợc xuất sang thị trờng
Châu á và Tây Âu , song mới ở dạng thăm dò, giới thiệu. Do vậy hiện nay các nhà
máy mới chỉ sử dụng 40-50% công suất và hiệu quả kinh tế đa lại còn thấp. Ngoài
hệ thông các nhà máy chế biến nêu trên,vài năm gần đây hệ thống lò sấy thủ công
chế biến long nhãn xuất khẩu sang Trung Quốc cũng đợc phát triển ở vùng nhãn
đồng bằng Sông Cửu Long và các tỉnh có nhiều nhãn ở đồng bằng sông Hồng nh
Hng Yên, Hải Dơng, Hà Nam.
Theo số liệu điều tra thì cả nớc có khoảng 140 lò sấy, trong đó đồng bằng
sông Cửu Long có 115 lò đồng bằng Sông Hồng có 25 lò, tiêu thụ khoảng 70%
nhãn tơi trong vùng. Khối lợng long nhãn thành phẩm khoảng 4000-5000 tấn.
Chỉ từ năm 1981-1990 nghành rau quả xuất khẩu đợc khối lợng đáng kể và
thu đợc kim ngạch khá lớn. Năm 1981 xuất đợc 42106 tấn sản phẩm thu đợc
11.992.000 USD ( chiếm 9,7% tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản). Về xuất khẩu
rau quả tơi chiếm 40-60% ( từ năm 1989-1990 chỉ còn chiếm 18-30%) kim ngạch
chỉ đạo 32-36% tổng kim ngạch xuất khẩu.Trong đó nhóm gia vị chiếm 5-15% nh-
ng kim ngạch xuất khẩu lại cao chiếm 25-30%. Vì vậy,ta tăng sản phẩm chế biến,
giảm xuất khẩu tơi (năm 1993 kim ngạch xuất khẩu còn 6,9 triệu USD) .
2.3. Cây ăn quả còn có tác dụng lớn trong việc bảo vệ môi trờng sinh thái với các
chức năng làm sạch môi trờng, giảm tiếng ồn, làm rừng phòng hộ, làm đẹp cảnh

chắc chắn chu kì sản xuất của nó là bao nhiêu năm, điểm này rất thuận lợi cho việc

11
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
sản xuất. Tuy nhiên, do đặc điểm về kỹ thuật trong sản xuất dẫn đến tính thời vụ
cao nếu chuyên môn hoá quá sâu.Để giảm bớt tính thời vụ trong việc phát triển
ngành cây ăn quả cần lu ý mấy vấn đề sau:
+ thực hiện chuyên môn hoá sản xuất kết hợp với phát triển tổng hợp bằng cách
kết hợp cơ cấu cây ăn quả hợp lý,kết hợp cây ăn quả với các loại cây trồng và vầt
nuôi khác.Bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý để sử dụng tối đa lực lợng lao động và sở
dụng hợp lý các loại ạt t kỹ thuật.
+ Tạo ra các giống cây cho sản phẩm không trùng nhau trong một năm( cây trái
vụ) để hạn chế tính thời vụ.
III. Các nhân tố ảnh hởng đến sản xuất cây ăn quả
1. Nhân tố tự nhiên
* Đất đai: là yếu tố sản xuất không thể thiếu đợc của mọi nhành sản xuất, đặc
biệt là ngành trồng trọt, trong đó có ngành rau quả. Số lợng, chất lợng, vị trí của
đất đai có ảnh hởng đến sự phát triển của ngành sản xuất câu ăn quả.
Việt Nam nằm ở vùng Đông Nam Châu á, đất nớc có chiều dài trên 15 vĩ độ
với mấy ngàn km giáp biển đông. Đất đai nớc ta rất phong phú, cả nớc có 13 nhóm
đất chính, trong đó nhóm đất đỏ chiếm gần 54% đợc phân bố ở trung du miền núi
phía Bắc. Đây là nhóm đất có chất lợng tốt thuận lợi cho việc phát triển cây công
nghiệp lâu năm và đặc biệt là cây ăn quả. Còn lại là tất cả các loại đất nh: đất đen,
đất xám, dất phù sa, đều thuận lợi cho việc phát triển cây ăn quả.
*Khí hậu: khí hậu là môi trờng sống của các loại cây trồng. Vì vậy, nếu khí
hậu thời tiết thuận lợi cây trồng phát triển tốt và ngợc lại, nếu thời tiết không thuận
lợi thì cây trồng không phát triển đợc hoặc kém phát triển.
Việt Nam nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa với sự biến đổi khí hậu giữa
các miền Bắc- Nam. Điều đó cho phép nớc ta trồng đợc nhiều loại hoa quả nhiệt
đới, á nhiệt đới và một số rau quả gốc ôn đới, mùa vụ thu hoạch kế tiếp nhau nhiều

công nghệ lạc hậu so với thé giới. Vì vậy, sản lợng và chất lợng các loại sản phẩm

13
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
cha cao, khả năng cạnh tranh các loại sản phẩm nông nghiệp nớc ta ( kể cả rau quả
) còn rất hạn chế.
*Phong tục tập quán:sản xuất cây ăn quả nớc ta vẫn còn mang tính tự phát ,
sản xuất nhỏ, phân tán theo tập quán. Ruộng đất phân chia nhỏ theo từng hộ nông
dân, vốn liếng ít ỏi nhất là ở phía bắc, càng ngại rủi ro, cha dám mạnh dạn đầu t và
thích ứng kịp thời với sản xuất hàng hòa theo cơ chế thị trờng. Do vậy, có những
trờng hợp nông dân bị tác động bởi giá cao hơn, không đảm bảo chữ tín hợp đồng.
Đây là một nhợc điểm và trở ngại trong tổ chức sản xuất rau quả chế biến.
*Cơ chế chính sách: là nhân tố ảnh hởng lớn đến quá trình sản xuất cây ăn
quả. Nếu chính sách đúng nó sẽ tạo điều kiện và kích thích ngành rau quả phát
triển sản xuất và tăng khối lợng xuất khẩu. Nhng ngợc lại, nếu cơ chế chính schs
mà không đúng thì sẽ cản trở phát triển sản xuất câu ăn quả.
Do hoàn cảnh nớc ta một thời gian dài phải tạp trung cho sản xuất lơng thực,
nên khả năng đầu t cho các ngành sản xuất nông sản có giới hạn. Trong đó , ngành
rau quả cha đợc đầu t đúng mức do vậy cha phát huy đợc tiềm năng vốn có. Những
năm gần đây, nhà nớc đã có chình sách đầu t cho ngành rau quả thích đáng hơn,
công tác nghiên cứu khoa học đợc nhà nớc quan tâm nhiều hơn. Cho nên, ngành
rau quả đã có sj phát triển nhất định. Song các chính sách khuyến khích sản xuất
cây ăn quả còn nhiều hạn chế cha khuyến khích đợc ngành rau quả phat triển
mạnh.
3. Nhân tố về tổ chức kỹ thuật
Những nhân tố nông nghiệp này bao gồm: các hình thức tổ chức sản xuất
( trang trại, hợp tác xã , hộ gia đình); sự phát triển của khoa học kỹ thuật và việc
ứng dụng chúng vào sản xuất.
Các hình thức tổ chức sản xuất phản ánh mức độ tập trung cac nguồn lực của
địa phơng cho sản xuất. Trong ngành nông nghiệp ở các nớc t bản phát triển thì

thôn nớc ta là 20-30kg/ ngời/ năm, ở thành thị là 35-45kg/ ngời/ năm. Mức này còn

15
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
thấp xa hơn so với mức trung bình của thế giới (năm 2000, mức trung bình của thế
giới khoảng 75-80kg/ ngời/ năm). Với tốc độ tăng thu nhập của dân c nh những
năm đổi mới vừa qua thì tới năm 2010 mức tiêu dùng trái cây bình quân đầu ngời ở
Việt Nam có thể gần đạt tới mức trung bình của thế giới hiện nay. Đến năm 2010,
nếu theo dự báo dân số nớc ta là 90 triệu ngời và mức tiêu thụ trái cây bình quân
đầu ngời đạt mức 65-70kg/ ngời/ năm thì nhu cầu tiêu thụ trái cây trong nớc ta sẽ
là 6,0-6,3 triệu tấn/ năm. Ngoài ra, nhu cầu của thị trờng trái cây trong nớc tăng
lên còn do lợng khách nớc ngoài du lịch vào Việt Nam trong những năm tới sẽ
ngày càng gia tăng. Từ năm 2010 theo dự báo hàng năm số khách du lịch nớc
ngoài vào Việt nam có thể đạt mức 8 triệu ngời/ năm.
Nh vậy, có thể thấy rằng Việt Nam có những tiềm năng to lớn về điều kiện tự
nhiên và điều kiện về thị trờng tiêu thụ trái cây (cả thị trờng trong nớc và ngoài n-
ớc) để phát triển sản xuất các loại cây ăn quả trong những năm tới.
Cả nớc ta hiện có 140 loài cây ăn quả thuộc gần 40 họ thực vật. Những năm
qua diện tích và sản lơng cây ăn quả ở nớc ta tăng lên nhanh chóng. Năm 1999 cả
nớc có hơn 425.000 ha cây ăn quả, đến năm 2002 đã có khoảng 500.000 ha, trong
đó Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long chiếm 54% diện tích cây ăn quả
của cả nớc và có tới 30 loại trái cây có sản lợng sản xuất hàng năm khá lớn nh
xoài, dứa, măng cụt, dă hấu, sầu riêng, chôm chôm, cam quýt. Về sản lợng trái
cây, theo số liệu của cục khuyến nông-khuyến lâm, năm 1994 cả nớc sản xuất 2,6
triệu tấn trái cây, năm 1996 là 3,2 triệu tấn, năm 1998 là 4 triệu tấn, năm 2000 là
4,5 triệu tấn.
Trái với tốc độ tăng nhanh diện tích và sản lợng, việc tiêu thụ sản phẩm trái
cây lại luôn gặp nhiều khó khăn và ách tắc.Trái cây Việt Nam xuất khẩu rất khó
khăn, năm 1998 cả nớc chỉ xuất khẩu đợc dới 10.000 tấn, mới bằng 0,25% sản l-
ợng trái cây sản xuất trong nớc. Các năm 1999-2000 xuất khẩu trái cây có tăng

(1977), Bộ nông nghiệp đã xây dựng quy hoạch các vùng cây ăn quả (cam dứa

17
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
quýt, chuối) trình Thủ tớng Chính phủ. Năm 1970 quy hoạch vùng sản xuất dứa
Miền Bắc Việt Nam đã đợc xây dựng.
Sau năm 1975, Bộ nông nghiệp đã phát động phong trào vờn quả Bác Hồ
trong cả nớc (1979). Năm 1986 Đề án phát triển cây ăn quả có múi ở Viêt Nam
thời kỳ 1986-2000 đã đợc xây dựng, xác định khả năng phát triển sản xuất cây ăn
quả có múi cả nớc là 70 ngàn ha. Năm 1986, Hội làm vờn Việt nam đợc thành lập,
mô hình VAC đã đợc phổ biến ngày càng rộng, trong đó cây ăn quả là một chủ
lực. Thực hiện hiệp định hợp tác rau quả Việt Xô 1986-1990, chơng trình nghiên
cứu cấp Nhà nớc đã đợc tiến hành, sau đó các đề tài về dứa, cam, chuối, rau đã đợc
tổng kết. Năm 1990, Viện nghiên cứu rau quả đã đợc thành lập, bao gồm 3 trung
tâm Phú Hộ, Xuân Mai và Phủ Quỳ. Tiếp đó năm 1994, trung tâm cây ăn quả Long
Định đợc thành lập (nay là Viện nghiên cứu cây ăn quả miền Nam). Lực lợng
nghiên cứu cây ăn quả đã đợc tăng cờng trong cả nớc.
ở nớc ta cây ăn quả đợc phát triển dới 2 hình thức :
+ Trồng phân tán trong các vờn của các nông hộ với mục đích tự túc, bổ sung
dinh dỡng bữa ăn. Tuy vậy chỉ mới có khoảng 15-20%số hộ có trồng cây ăn quả
trong vờn. Theo kết quả điều tra nông hộ ở các vùng nông nghiệp khác nhau, ớc
tính bình quân mỗi nông hộ ttrồng khoảng 40 m
2
cây ăn quả trong vờn với nhiều
loại cây truyền thống nh mít, nhãn, ổi, chuối.
+ Tập trung trành vùng có mục đích sản xuất hàng hoá, chủ yếu là do các nông
hộ trồng, trong đó có 28 nông trờng có trrồng cây ăn quả với nhiều quy mô, diện
tích khác nhau .
Quá trình hình thành vùng quả từ 3 khu vực đặc trng là :
+ Do chủ trơng của nhà nớc về quy hoạch phát triển vùng cây ăn quả, bắt đầu từ

khá mạnh: năm 1985 mới có 213 ngàn ha, đến năm 1988 đã có 272,2 ngàn ha và
đến năm 2000 đã có khoảng 500 ngàn ha và sản lợng đạt 7 triệu tấn, tổng kim
ngạch xuất khẩu đạt 70 triệu USD( theo bộ NN và PTNT).
Việc bố trí sản xuất cây ăn quả.Ngoài việc bố trí trồng rải rác trên tất cả các
vùng, các địa phơng , chúng ta còn bố trí trồng tập trung quy mô cây ăn quả ở
những vùng và những địa phơng có điều kiện nh: vùng cây ăn quả tập trung Nam
Bộ và miền núi phía Bắc trong đó 70% diện tích nằm ở các vùng phía Nam

19
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
3. Tình hình sản xuất cây ăn quả trên thế giới.
Ngày nay nhiều nớc trên thế giới quan tâm tới việc phát triển cây ăn quả và họ
đã giàu lên nhờ xuất khẩu sản phẩm tơi và chế biến từ quả .
Những nớc có diện tích trồng cây ăn quả lớn nh là Mĩ, Trung Quốc, ấn Độ, ví
dụ : năm 1995 Trung Quốc có 6,4 triệu ha cây ăn quả với sản lợng khoảng 35 triệu
tấn. ấn độ có 2,94 triệu ha với sản lợng 25,5 triệu tấn.
Theo thống kê của tổ chức FAO năm 1998 sản lợng quả toàn thế giới là 333,6
triệu tấn, trong đó số quả mọng là 3329,5 triệu tấn chiếm 98,8% tổng sản lợng toàn
thế giới, còn lại 4,1 triệu tấn là quả vỏ cứng chiếm 1,2% tổng sản lợng . Nếu xếp
theo số thứ tự sản lợng châu á đứng đầu tiếp theo là Mĩ ,Châu Âu, Châu Phi, cuối
cùng là châu Đại Dơng.
Năm 1998 Braxin sản xuất ra 27,5 triệu tấn chiếm 8,33% tổng sản lợng quả thế
giới. Sau đó là các nớc Mĩ 25 triệu tấn và chiếm 7,8%, ấn Độ 24,6 triệu tấn
( chiếm 7,48%) Italia 18,8 triệu tấn ( chiếm 5,72%),Trung Quốc 18,4 triệu tấn
( chiếm 5,59%) sản lợng quả của 5 nớc này tơng đơng 35% tổng sản lợng quả trên
thế giới. Ngoài 5 nớc có sản lợng quả lớn kể trên còn có các nớc khác nh Liên Xô (
cũ) 14,5 triệu tấn, Pháp 11,1 triệu tấn ,Tây Ban Nha 11,02 triệu tấn, Thổ Nhĩ Kì 8,8
triệu tấn.
Để phát triển diện tích và tăng sản lợng cây ăn quả,trên thế giới đã chú trọng
những vấn đề nh: chọn giống mới, nghiên cứu ký thuật trồng và quản lý, chăm sóc

truyền thống ngoại thành. Vùng đồng bằng ngoại thành phù hợp với phát triển

21
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
nhiều loại cây trồng ngắn ngày đòi hỏi vốn đầu t lớn, có giá trị kinh tế cao, đặc biệt
là các loại cây ăn quả, hoa, cây cảnh. Trong đất nông nghiệp, diện tích đất canh tác
là 38.885 ha chiếm 89,48%, đất vờn tạp là 473 ha chiếm 1,09%, đất mặt nớc nuôi
trồng thủy sản là 2820 ha chiếm 6,49%, đất trồng cây lâu năm 1.200 ha chiếm
2,76% và đất trồng cây thức ăn chăn nuôi là 78 ha chiếm 0,18%. Hà Nội có nhiều
diện tích ao hồ, ruộng 1 vụ lúa, 1 vụ cá, đất canh tác hàng năm, đất trồng cây lâu
năm, đất rừng, nhất là các vùng xa nh Sóc Sơn, một số xã của huyện Từ Liêm,
Thanh Trì, Gia Lâm, Đông Anh có nhiều khả năng phát triển cây ăn quả.
1. Biểu số 4: Cơ cấu diện tích đất đai toàn quốc và vùng
ngoại thành Hà Nội
Chỉ tiêu
Toàn quốc Ngoại thành HN
Diện tích
(ha)
% Diện tích
(ha)
%
Tổng diện tích 32.868.095 100 911.800 100
1. Đất nông nghiệp
8.104.241 24,66 43.456 4,76
1.1. Đất trồng cây hàng năm 5.678.655 70,07 38.885 89,48
1.2. Đất vờn tạp 561.369 6,93 473 1,09
1.3. Đất trồng cây lâu năm 1.453.302 17,93 1.200 2,76
1.4. Đất đồng cỏ 71.584 0,88 78 0,18
1.5. Đất mặt nớc nuôi thuỷ sản 339.331 4,19 2.820 6,49
2. Đất lâm nghiệp

ngoại thành. Tuy nhiên nó cũng tồn tại khó khăn cơ bản là nớc một số nơi đang bị
ô nhiễm nặng nề, nguy cơ ô nhiễm ngày càng cao đặc biệt là các xã ven nội của
Thanh Trì và Từ Liêm.
Nhìn chung, những đặc điểm về điều kiện đất đai, thời tiết, khí hậu ở ngoại
thành Hà Nội có nhiều lợi thế để phát triển một nền sản xuất nông nghiệp hàng
hoá tỷ suất cao. Cơ cấu giống cây trồng vật nuôi phong phú nhng quy mô bố trí các
loại đất ở các huyện ngoại thành là không giống nhau, đặc biệt đất gò đồi. Lâm
nghiệp tập trung chủ yếu ở huyện Sóc Sơn, diện tích mặt nớc nuôi trồng thuỷ sản
tập trung phần lớn ở Thanh Trì.
2. Đặc điểm về kinh tế - xã hội
2.1Cơ cấu đất nông nghiệp ngoại thành
a.Khái niệm đất nông nghiệp
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mọi quốc gia, là t liệu sản xuất chủ
yếu và đặc biệt của sản xuất nông nghiệp, là một trong các yếu tố quan trọng nhất
của môi trờng sống và là địa bàn phân bố dân c. Nh vậy, đất đai đợc dùng hầu hết

23
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
vào các ngành sản xuất, các lĩnh vực của đời sống, đất đai đợc phân thành các loại
khác nhau và gọi tên theo ngành và lĩnh vực sử dụng chúng.
Với ý nghĩa đó đất nông nghiệp là đất đợc sử dụng chủ yếu vào sản xuất các
ngành nông nghiệp nh trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản hoặc sử dụng để
nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp. Ngoài tên gọi đất nông nghiệp, đất sử dụng
vào sản xuất nông nghiệp còn đợc gọi là ruộng đất.
Khi nói đất nông nghiệp ngời ta nói đất sử dụng chủ yếu vào sản xuất của các
ngành nông nghiệp, bởi vì trên thực tế có trờng hợp đất đai đợc sử dụng vào những
mục đích khác nhau của các ngành. Trong trờng hợp đó, đất đai đợc sử dụng chủ
yếu cho mục đích hoạt động sản xuất nông nghiệp mới coi là đất nông nghiệp, nếu
không sẽ là các loại đất khác (tuỳ theo việc sử dụng vào mục đích nào là chính).
Tuy nhiên, để sử dụng đầy đủ hợp lý ruộng đất, trên thực tế ngời ta coi đất đai


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status