BÀI THU HOẠCH
Họ và tên:………………………………………………………………...
Chức vụ, đơn vị công tác: ……………………………………………….
Từ ngày….. đến ngày …… tháng… năm 2016 tôi được học tập văn kiện,
nghị quyết Đại hội XII của Đảng do …..triển khai, sau quá trình học tập và
nghiên cưu tôi xin hệ thống lại nhận thức của bản thân về Nghị quyết như sau:
I. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NGHỊ QUYẾT
Đại hội XII của Đảng đã đưa ra những quyết sách mới, đúng đắn, mạnh
mẽ, phù hợp để phát huy thuận lợi, vượt qua mọi khó khăn, tiếp tục đưa đất
nước ta phát triển nhanh, bền vững, đáp ứng kỳ vọng của cán bộ, đảng viên và
Nhân dân. Sau đây là một số điểm mới nổi bật trong văn kiện Đại hội XII của
Đảng.
1- Chủ đề Đại hội XII được xác định là: Tăng cường xây dựng Đảng
trong sạch, vững mạnh; phát huy sức mạnh toàn dân tộc, dân chủ xã hội chủ
nghĩa; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; bảo vệ vững chắc Tổ
quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu sớm đưa nước ta cơ
bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Trong các thành tố chủ đề
Đại hội XII đều có những điểm mới, nhất là thành tố “Tăng cường xây dựng
Đảng trong sạch, vững mạnh” Thư hai “Phát huy sức mạnh dân tộc dân chủ xã
hội chủ nghĩa”; thứ ba “Đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới” thứ
tư “bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định” được
đưa vào chủ đề Đại hội.
2- Đại hội nhìn lại 30 năm đổi mới
Đại hội XII đánh giá tổng quát: Nhìn tổng thể, qua 30 năm đổi mới, đất
nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường
xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đồng thời cũng
còn nhiều vấn đề lớn, phức tạp, nhiều hạn chế, yếu kém cần phải tập trung giải
quyết, khắc phục để đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững. So với Đại hội
X nhìn lại 20 năm đổi mới, Đại hội XII không chỉ đánh giá tổng quát thành tựu,
mà còn đánh giá tổng quát hạn chế, khuyết điểm.
Đại hội XII rút ra ba kết luận quan trọng: (1) Những thành tựu đó tạo tiền
suất lao động, ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ, đổi mới và sáng tạo, nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực, phát huy lợi thế so sánh và chủ động hội nhập
quốc tế phát triển nhanh và bền vững (hướng tới các mục tiêu phát triển bền
vững đến năm 2030 của Liên hợp quốc). Đổi mới mô hình tăng trưởng chuyển
mạnh từ chủ yếu dựa vào xuất khẩu và vốn đầu tư sang phát triển đồng thời dựa
cả vào vốn đầu tư, xuất khẩu và thị trường trong nước. Động lực quan trọng nhất
và cũng là điều kiện để đổi mới mô hình tăng trưởng là đẩy mạnh nghiên cứu,
ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới, sáng tạo.
Thống nhất nhận thức nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế
thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng
giai đoạn phát triển của đất nước. Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng
và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch
và lành mạnh; sử dụng các công cụ, chính sách và các nguồn lực của Nhà nước
để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và bảo vệ
2
môi trường; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính
sách phát triển. Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế xã hội.
5- Chủ trương phát triển các vấn đề văn hóa, xã hội, môi trường
Về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo; phát triển, nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực; tăng cường tiềm lực và đẩy mạnh ứng dụng khoa
học, công nghệ, Đại hội XII xác định:
Giáo dục là quốc sách hàng đầu. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ các
yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất,
năng lực của người học. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị
kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học: yêu gia
đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, sống tốt và làm việc hiệu quả. Từng bước
hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục mở, học
quản lý phát triển xã hội đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng,
thực hiện các chính sách phù hợp với các giai tầng xã hội; giải quyết có hiệu quả
những vấn đề xã hội bức xúc; khắc phục từng bước sự mất cân đối về phát triển
giữa các lĩnh vực, các vùng, miền; bảo đảm sự hài hoà về lợi ích, về quan hệ xã
hội, quan tâm thích đáng đến các tầng lớp, bộ phận yếu thế trong xã hội, đồng
bào các dân tộc thiểu số ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, khắc phục xu hướng gia
tăng phân hoá giàu - nghèo. Kịp thời kiểm soát và xử lý các rủi ro, mâu thuẫn,
xung đột xã hội. Đẩy mạnh các giải pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm và tệ
nạn xã hội; giảm thiểu tai nạn giao thông.
Gắn kết chặt chẽ chính sách kinh tế với chính sách xã hội, phát triển kinh
tế với nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, bảo đảm để nhân dân được
hưởng thụ ngày một tốt hơn thành quả của công cuộc đổi mới, xây dựng và phát
triển đất nước. Mọi người dân đều có cơ hội và điều kiện phát triển toàn diện.
Về quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó biến đổi khí
hậu, Đại hội XII xác định:
Tài nguyên là tài sản quốc gia, nguồn lực quan trọng của đất nước, phải
được đánh giá đầy đủ, hạch toán trong nền kinh tế; được quản lý, bảo vệ, khai
thác, sử dụng tiết kiệm, hợp lý, có hiệu quả và bền vững, gắn với mục tiêu phát
triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh. Chú trọng sử dụng năng lượng mới,
năng lượng tái tạo, vật liệu mới.
Chủ động xây dựng, triển khai và kiểm tra, giám sát việc thực hiện các
chương trình, kế hoạch ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai cho
từng giai đoạn. Trước mắt tập trung xử lý hiệu quả tình trạng lũ lụt, hạn hán, sạt
lở bãi sông, bãi biển, xâm nhập mặn và triều cường,... đang tác động trực tiếp
đến đời sống, sản xuất của nhân dân.
6- Chủ trương bảo vệ vững chắc Tổ quốc; giữ vững môi trường hòa
bình, ổn định; nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động và tích cực
hội nhập quốc tế
Đại hội XII xác định: Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất,
toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội
nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài
nước, tăng cường quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, tạo sinh
lực mới của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Chú trọng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức. Thực hiện thí
điểm dân trực tiếp bầu một số chức danh ở cơ sở và cấp huyện; mở rộng đối
tượng thi tuyển cán bộ quản lý.
8- Chủ trương xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng
lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng
Trong những năm tới, yêu cầu, nhiệm vụ nặng nề của thời kỳ phát triển
mới đòi hỏi phải đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng Đảng, trọng tâm là kiên
quyết, kiên trì tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI. Các cấp uỷ,
tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị và cá nhân cán bộ lãnh đạo, quản
lý các cấp từ Trung ương đến cơ sở phải nghiêm túc, tự giác và có kế hoạch,
biện pháp phù hợp để khắc phục, sửa chữa những yếu kém, khuyết điểm.
5
Trước hết, phải chú trọng xây dựng Đảng về chính trị. Kiên định chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù
hợp với thực tiễn Việt Nam; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội; kiên định đường lối đổi mới. Nâng cao bản lĩnh chính trị, trí tuệ, tính chiến
đấu của toàn Đảng và của mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo,
quản lý chủ chốt các cấp; không dao động trong bất cứ tình huống nào.
Tăng cường rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá
nhân, cơ hội, thực dụng. Tập trung thực hiện mục tiêu: “Xây dựng Đảng trong
sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức”. Tiếp tục đẩy mạnh
việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với
chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự
diễn biến”, “tự chuyển hoá”, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, bè phái, “lợi ích
nhóm”, nói không đi đôi với làm.
hệ thống chính trị phải kiên quyết phòng, chống tham nhũng, lãng phí; chủ động
phòng ngừa, không để xảy ra tham nhũng, lãng phí; xử lý kịp thời, nghiêm minh
các hành vi tham nhũng, lãng phí, bao che, dung túng, tiếp tay cho các hành vi
tham nhũng, lãng phí, can thiệp, ngăn cản việc chống tham nhũng, lãng phí.
Đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính
trị, đặc biệt là với Nhà nước. Tiếp tục cụ thể hoá phương thức lãnh đạo của
Đảng đã được xác định trong Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 ở tất cả
các cấp bằng những quy chế, quy định, quy trình cụ thể. Coi trọng xây dựng văn
hoá trong các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước, trong hệ thống chính trị. Đổi mới
phương pháp, phong cách, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo của Đảng từ
Trung ương tới cơ sở, xây dựng phong cách làm việc khoa học, tập thể, dân chủ,
gần dân, trọng dân, vì dân, bám sát thực tiễn, nói đi đôi với làm. Tiếp tục đổi
mới, nâng cao chất lượng việc xây dựng, ban hành nghị quyết của Đảng, luật
pháp, chính sách của Nhà nước. Nghị quyết phải thiết thực, ngắn gọn, khả thi;
phải tính đến cân đối nguồn lực và điều kiện bảo đảm triển khai thực hiện có
hiệu quả; phân công rõ trách nhiệm tổ chức, cá nhân, thời hạn hoàn thành các
nhiệm vụ, giải pháp được ghi trong Nghị quyết.
9- Các chỉ tiêu chủ yếu, nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ Đại hội
XII
Mục tiêu tổng quát :
Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực
lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh.
Phát huy sức mạnh toàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đẩy mạnh toàn
diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; phát triển kinh tế nhanh, bền vững, phấn đấu
sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nâng
cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh
bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ
quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Giữ gìn hoà
bình, ổn định, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế để phát triển đất nước;
nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.
Ba là, tập trung nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và
sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả ba đột phá chiến
lược; cơ cấu lại tổng thể và đồng bộ nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng
trưởng; đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chú trọng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn gắn với xây dựng nông thôn
mới. Chú trọng giải quyết tốt vấn đề cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, cơ cấu
lại ngân sách nhà nước, xử lý nợ xấu và bảo đảm an toàn nợ công.
8
Bốn là, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ
quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; giữ vững môi trường hoà
bình, ổn định để phát triển đất nước. Mở rộng và đưa vào chiều sâu các quan hệ
đối ngoại; tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, thực hiện hiệu quả hội nhập
quốc tế trong điều kiện mới, tiếp tục nâng cao vị thế và uy tín của đất nước trên
trường quốc tế.
Năm là, thu hút, phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực và sức sáng tạo của
nhân dân. Chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, giải quyết tốt những
vấn đề bức thiết; tăng cưòng quản lý phát triển xã hội, bảo đảm an ninh xã hội,
an ninh con người; bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội và giảm
nghèo bền vững. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, phát huy sức mạnh đại
đoàn kết toàn dân tộc.
Sáu là, phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã
hội; tập trung xây dựng con người về đạo đức, nhân cách, lối sống, trí tuệ và
năng lực làm việc; xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh.
II. XÁC ĐỊNH CHƯƠNG TRÌNH THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT CỦA
CÁ NHÂN
NẾU LÀ CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN CÔNG CHỨC TRONG CƠ QUAN
NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI CÁN BỘ CẤP ỦY, NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU CẤP ỦY
Thứ nhất, Bản thân cùng hoặc chỉ đạo (Các cấp uỷ, tổ chức Đảng, cơ
quan, đơn vị lực lượng vũ trang, các tổ chức đoàn thể) tiếp tục đẩy mạnh công
tác tuyên truyền, quán triệt Nghị quyết Đại hội XII của Đảng trong cán bộ, đảng
viên, đoàn viên, hội viên, chiến sỹ và các tầng lớp nhân dân nhằm nâng cao nhận
thức, hiểu sâu, nắm vững về những nội dung cơ bản, những nội dung mới của
văn kiện Đại hội XII của Đảng; đồng thời, phải nâng cao tính chiến đấu, tính tư
tưởng, kịp thời uốn nắn những nhận thức lệch lạc, phản bác lại những quan điểm
sai trái; kiên quyết đấu tranh bác bỏ những quan điểm thù địch.
Thứ hai, trên cơ sở quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội XII của Đảng,
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII và tình hình thực tế của địa
phương, đơn vị, cùng BTV, BCH, chi uỷ chi bộ cơ quan, đơn vị xây dựng
chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội của cấp mình, ngành
mình. Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết của mỗi địa phương, đơn vị
phải bám sát Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, phù hợp với điều kiện cụ thể của
địa phương, xác định rõ mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ và đề ra giải pháp cụ thể,
thiết thực, nhất là các giải pháp mang tính đột phá, nhằm tạo chuyển biến thực
sự trong từng lĩnh vực.
Chú trọng phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng tổ chức, cá nhân chịu
trách nhiệm để tập trung chỉ đạo, tạo chuyển biến thực sự ngay từ những quý
đầu, năm đầu của nhiệm kỳ; khắc phục tình trạng rập khuôn, sao chép, sơ lược,
làm cho xong chuyện trong việc xây dựng chương trình hành động. Đồng thời,
tăng cường công tác chỉ đạo, kiểm tra, giám sát việc triển khai, tổ chức thực hiện
để Nghị quyết sớm đi vào cuộc sống.
10
Thứ ba, cùng với triển khai, quán triệt và tổ chức thực hiện Nghị quyết
Đại hội XII của Đảng, các cấp ủy đảng tập trung lãnh đạo, phát huy sức mạnh
Tiếp tục đẩy mạnh vận động tuyên truyền, làm tốt hơn nữa công tác tư
tưởng trong nhân dân để triển khai một số dự án đã có chủ trương đầu tư. Tích
cực đẩy mạnh các hoạt động du lịch, dịch vụ, tập trung các giải pháp nhằm tháo
gỡ khó khăn, kích cầu du lịch sau ảnh hưởng của sự cố môi trường biển. Nâng
cao chất lượng các sản phẩm dịch vụ, du lịch gắn với bảo đảm môi trường, an
ninh trật tự ở các khu du lịch, tạo chuyển biến tích cực về chất lượng tăng
trưởng, năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của ngành du lịch.
11
Quan tâm đẩy mạnh và thực hiện tốt nhiệm vụ trên các lĩnh vực văn hóa xã hội. Tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh, bảo đảm trật tự an toàn xã
hội; đẩy mạnh cải cách tư pháp, thực hành tiết kiệm, phòng chống tham nhũng,
lãng phí. Không ngừng nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều hành của chính quyền
các cấp; đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao năng lực, trách nhiệm trong
giải quyết công việc của chính quyền các cấp. Tập trung xây dựng, củng cố,
nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng
đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Thứ tư, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo kiện toàn bộ máy chính quyền các cấp
sau bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp,
nhiệm kỳ 2016-2021 bảo đảm đúng quy định của pháp luật; thực hiện tốt chủ đề
năm 2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy là “Tăng cường siết chặt kỷ luật, kỷ
cương, biến lời nói thành hành động” nhằm chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương trong
thực thi nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nâng cao trách nhiệm phục vụ
nhân dân, phấn đấu vì sự phát triển của tỉnh, quyết tâm không để tỉnh ta rơi vào
vòng xoáy của sự tụt hậu.
Hơn lúc nào hết, mỗi một cán bộ, đảng viên hãy phát huy cao độ lòng yêu
quê hương, ra sức đổi mới, năng động, sáng tạo nhằm phấn đấu vì mục tiêu cao
cả, xây dựng ….. ngày càng phát triển nhanh và bền vững như Nghị quyết Đại
hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII đã đề ra.
- Đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động “Mỗi thầy, cô giáo là một tấm
gương đạo đức tự học và sáng tạo” bằng cách từng CBGVNV thể hiện được
công trình, phần việc cụ thể trong năm học.
- Đặc biệt coi trọng tinh thần tự giác, ý thức trách nhiệm trong việc tự
học, tự bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để đáp ứng
với nhiệm vụ mới của giáo dục. Luôn coi trọng kết quả chất lưọng giáo dục, lấy
học sinh làm thước đo cuối cùng để đánh giá chất lượng và sự cố gắng của đội
ngũ giáo viên.
2. Xây dựng quy chế làm việc khoa học nhằm nâng cao hiệu quả của các
hoạt động trong nhà trường.
- Thực hiện mục tiêu kế hoạch, chỉ đạo các tổ, các cá nhân làm việc theo
kế hoạch, tất cả công việc phải được kế hoạch hoá, cụ thể hóa, tiêu chuẩn hoá.
Các quy định cụ thể:
+ Quy dịnh về trực lãnh đạo, trực tuần của giáo viên.
+ Quy định về hồ sơ giáo viên.
+ Quy định về soạn bài, chấm bài.
+ Quy định về lịch hội họp, chế độ thông tin báo cáo.
- Thông qua quy chế trên để cán bộ giáo viên có lề lối làm việc khoa học,
từ đó siết chặt được kỷ cương, nề nếp trong nhà trường.
3. Xây dựng củng cố hoạt động của tổ chuyên môn.
13
Xác định đây là một nội dung quan trọng của công tác quản lý, đánh giá
cán bộ, giáo viên, nó có vai trò rất lớn trong công tác bồi dưỡng, xây dựng đội
ngũ giáo viên và chất lượng giáo dục. Hoạt động hiệu quả của mỗi giáo viên sẽ
tạo ra điều kiện tốt nhất để mỗi giáo viên tự học hỏi lẫn nhau về kiến thức,
chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm, từ đó nâng cao trình độ năng lực của mình.
Với vai trò như vậy đòi hỏi tổ chuyên môn phải được tổ chức hợp lý và hoạt
động có nề nếp và khoa học.
thiếu sự công tâm, trung thực thì khó có thể đánh giá một cách khách quan, vô
tư - cho dù có đầy đủ tri thức để đánh giá cán bộ, công chức. Cái “tâm” đòi hỏi
việc đánh giá cán bộ, công chức không được phiến diện, hời hợt, chủ quan cảm
tính; không được định kiến, nhìn sự phát triển của con người theo quan điểm
tĩnh, bất biến.
Thứ hai, Khi đánh giá cán bộ, GV không thể chỉ xem xét một lúc, một thời
điểm, một thời gian ngắn hoặc chỉ nhìn thấy hiện tại mà cần có thời gian dài,
một quá trình. Mọi việc đều có sự chuyển biến, con người cũng có sự thay đổi
về nhiều mặt, nên nhận xét một con người không thể cố định, bất biến mà phải
trong quá trình vận động. Do đó, phải kết hợp theo dõi đánh giá thường xuyên
và đánh giá định kỳ về cán bộ, công chức nhằm phản ánh liên tục và kịp thời sự
phát triển của cán bộ, công chức, kết hợp nhiều nguồn thông tin khác nhau để
phân tích, chọn lọc cho khách quan. Hơn nữa, phải có hiểu biết khá sâu sắc công
việc, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của người mà mình đánh giá và những thông
tin đầy đủ, chân thực về bản thân cũng như hoàn cảnh gia đình cán bộ, công
chức đó.
Thứ ba, đánh giá cán bộ, giáo viên, nhân viên phải lấy hiệu quả công tác
thực tế làm thước đo chủ yếu. Đánh giá cán bộ, công chức phải dựa vào những
quy định cụ thể về tiêu chuẩn của từng chức danh và tiêu chí đánh giá đối với
từng đối tượng cán bộ, công chức. Năng lực cán bộ, chức thể hiện ở hiệu quả
hoàn thành nhiệm vụ chính trị của họ theo chức trách nhiệm vụ được giao, thể
hiện ở khối lượng, chất lượng hiệu quả công tác trên các lĩnh vực lãnh đạo, quản
lý. Vì vậy, để có thể đánh giá cán bộ, công chức khách quan hơn, phương thức
đánh giá cần được bổ sung những yếu tố định lượng (về công việc, thời gian
hoàn thành công việc, tỷ lệ xử lý tình huống thỏa đáng và những giải pháp sáng
tạo trong công việc …) bằng cách xây dựng một hệ thống yêu cầu, đòi hỏi của
công việc cho mỗi vị trí công chức với các tiêu chí về tiêu chuẩn trình độ, năng
lực; về khối lượng công việc, quy trình xử lý; quy trình tổng hợp, báo cáo kết
quả công tác định kỳ.
Thứ tư, nâng cao tính tự giác, tích cực, chủ động trong phấn đấu, tu
năng lực tư duy khoa học của cán bộ không nên chỉ xem xét bằng cấp, học vị
chung chung mà xem nhẹ học lực, trình độ chuyên môn sâu, kết quả lao động, tư
duy khoa học. Với cán bộ lãnh đạo, quản lý, cần đánh giá tính mẫn cảm chính
trị, năng lực tư duy khoa học, khả năng vận dụng, tổ chức, kiểm tra, tổng kết,
khả năng dùng người... Một bộ phận cán bộ, công chức hiện nay còn chạy theo
bằng cấp là do ảnh hưởng của cách đánh giá này.
Muốn đánh giá cán bộ, giáo viên một cách đúng đắn, chính xác, người có
trách nhiệm phải kiên nhẫn tìm hiểu, theo dõi cán bộ trong một thời gian dài;
xác định đánh giá cán bộ không phải một lần, mà bao hàm cả một quá trình nhận
thức, là yếu tố thường xuyên trong quá trình quy hoạch, luân chuyển, đào tạo và
bố trí sử dụng cán bộ (tức là quá trình đánh giá và đánh giá lại cán bộ). Do đó,
người làm công tác này phải có kế hoạch thật chặt chẽ, hợp lý trong quản lý cán
bộ, phải có các bước đánh giá phù hợp, khoa học, phải hợp lực với nhiều người,
tham khảo ý kiến số đông trong đánh giá cán bộ. Muốn vậy, phải thực hành dân
chủ rộng rãi trong Đảng và quần chúng.
16
Thứ chín, Cần vận dụng sáng tạo những nội dung đánh giá cán bộ. Tùy
vào đối tượng cán bộ đánh giá, tùy vào thời điểm đánh giá, vào mục đích đánh
giá mà người tham gia đánh giá cần phải nghiên cứu kỹ tiêu chuấn, quy chế, quy
trình đánh giá, vận dụng một cách linh hoạt nội dung đánh giá để đảo bảo đảm
công tác đánh giá được hiệu quả nhất đồng thời đánh giá đúng năng lực thật sự
của cán bộ công chức trong nhà trường. Trong đánh giá cán bộ cần phải chống
những thái độ nể nang, né tránh, “dĩ hòa vi quý”, thủ tiêu đấu tranh, tự phê bình
và phê bình yếu, trù dập người thẳng thắng đấu tranh phê bình. Phải bảo đảm
công khai, dân chủ, minh bạch song phải tránh lợi dụng dân chủ, phê bình và tự
phê bình để nói xấu đồng chí, đồng nghiệp nhằm thực hiện ý đồ cá nhân.
Thứ mười, Ban giám hiệu và các đoàn thể trong nhà trường cần xác định,