Khóa luận
Lương Thị Huyền
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được bài khóa luận này, tôi xin chân thành cảm ơn sự
hướng dẫn tận tình của thầy giáo TS. Nguyễn Hoàng Sơn (Giám đốc trung tâm
thông tin thư viện Đại học Quốc Gia Hà Nội), Anh Nguyễn Hồng Vinh Giám
đốc Công ty cổ phần quản lý phần mềm Hiện Đại, Anh Nguyễn Qúy Hoàn phó
giám đốc Trung tâm thông tin – thư viện Đại học Nha Trang, các thầy cô giáo
trong khoa thông tin – thư viện, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân Văn
đã giúp đỡ tôi hoàn thành bài khóa luận này.
Trong quá trình hoàn thành khóa luận với thời gian ngắn, cộng với trình
độ và khả năng có hạn của một sinh viên, dù rất cố gắng song chắc chắn
không tránh khỏi những hạn chế về trình độ kiến thức và kinh nghiệm thực
tiễn. Tôi rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô giáo, các cán bộ thư
viện, các chuyên gia, các nhà nghiên cứu và những người quan tâm tới đề tài
này để làm cơ sở cho tác giả có thể hoàn thành xuất sắc đề tài mang tính thực
tiễn cao hơn.
Xin trân trọng cảm ơn.
Hà Nội, ngày 12 tháng 03 năm 2014
Sinh viên
Lương Thị Huyền
K55 Thông tin – Thư Viện
Khóa luận
Lương Thị Huyền
K55 Thông tin – Thư Viện
Khóa luận
Lương Thị Huyền
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay công nghệ thông tin đang phát triển mạnh mẽ dần đi sâu vào
đời sống con người và có một vai trò hết sức quan trọng. Sự bùng nổ thông tin
theo cấp số nhân khiến cho việc kiểm soát cũng như tìm kiếm thông tin ngày
càng trở nên khó khăn vì vậy cần tới sự giúp đỡ của khoa học công nghệ đặc
biệt là lĩnh vực công nghệ thông tin. Việc áp dụng công nghệ thông tin vào
quản lý dữ liệu đặc biệt là trong các cơ quan thư viện là rất cần thiết và có ý
nghĩa to lớn. Các thư viện ngày nay đã áp dụng khá rộng rãi các trang thiết bị
công nghệ thông tin vào việc quản lý, lưu trữ cũng như bảo quản vốn tài liệu.
Thư viện số là xu thế phát triển hiện nay của các thư viện ở Việt Nam. Chuyển
từ thư viện truyền thống dựa vào năng suất lao động của con người là chính
sang thư viện điện tử, thư viện số với sự hỗ trợ của máy tính và các thiết bị
số. Công tác chuyển từ thư viện truyền thống sang thư viện số là một công
đoạn lâu dài, phức tạp. Việc lựa chọn các phần mềm thích hợp để tiến hành
xây dựng thư viện số là một việc làm rất khó khăn và cần có sự lựa chọn kỹ
lưỡng để phù hợp với tình hình thực tế của cơ quan thông tin thư viện. Hiện
nay có nhiều loại phần mềm để xây dựng thư viện số như phần mềm Dispase,
Greenstone, Koha. Phần mềm Thư viện số KIPOS là một phần mềm quản lí
thư viện số do công tuy phần mềm quản lý Hiện đại xây dựng. Với nhiều tính
năng ưu việt nó không những giúp quản lí thư viện số mà còn tích hợp cả tính
năng thư viện diện tử.
Hiện nay trên thế giới cũng như Việt Nam đang xây dựng thư viện số.
- Tham khảo ý kiến chuyên gia.
5. Bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, bố cục
của báo cáo gồm 3 chương:
- Chương1: Cơ sở lý luận.
- Chương 2: Tổng quan về phần mềm Kipos.Digital
- Chương 3: Nhận xét và kiến nghị
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1
Khái niệm thư viện số
K55 Thông tin – Thư viện
5
Khóa luận
Lương Thị Huyền
Ngày nay, “ Nhiều sinh viên khoa học và công nghệ trên thế giới cho
rằng TVS chính là World Wide Web”. Mặc dù Web đóng vai trò quan trọng
trong hoạt động của TVS nhưng quan điểm trên là không đúng. TVS là World
Wide Web khác nhau ở chỗ Web không có đặc điểm sưu tập và tổ chức thông
tin, trong khi TVS ngày càng hoàn thiện việc tổ chức để người sử dụng tự hình
thành tri thức với phương châm “TVS là nơi sử dụng công nghệ để chuyển
câu hỏi thành câu trả lời”.
Rất nhiều nhà thư viện học cũng như các hiệp hội thư viện đã đưa ra rất
Nhà thư vện học Stephen Pinfifeld định nghĩa như sau: “Thư viện điện
tử là thuật ngữ dùng để chỉ một tập hợp nguồn tin số hóa được liên kết mạng
và là kèm theo hạ tầng kỹ thuật và quản lý. Thư viện điện tử bao gồm dữ liệu
(Data) và siêu dữ liệu (Metadata) ở các dạng thức khác nhau được tập hợp để
cung cấp cho người dùng tin”
Theo Th.s Cao Minh Kiểm “Thư viện số là một thực thể, là một thư
viện được tổ chức theo những phương thức mới và với nguồn tài liệu ngày
càng đa dạng, có chất lượng phục vụ ngày càng cao, thời gian phục vụ ngày
càng lớn” [6].
Theo Vũ Văn Sơn: “Thư viện số là hình thức kết hợp giữa thiết bị tính
toán, lưu trữ và truyền thông số với nội dung và phần mềm cần thiết để tái tạo,
thúc đẩy và mở rộng các dịch vụ của các thư viện truyền thống vốn dựa trên
các biện pháp thu thập, biên mục và phổ biến thông tin trên giấy và các vật
liệu khác”.
Theo Bùi Loan Thùy, Lê Văn Viết: “Thư viện số là thư viện chứa đựng
các thông tin và tri thức được lưu trữ dưới dạng điện tử số trên các phương
tiện khác nhau: bộ nhớ điện tử, đĩa quang, đĩa từ” [20]
Tóm lại TVDT – TVS phải đạt các yêu cầu sau: [7]:
- Phục vụ một cách tốt nhất một cộng đồng hay một tập hợp cộng đồng người
-
dùng tin xác định nào đó.
Không phải là một thực thể đơn độc.
Được cấu tạo bởi một cấu trúc thống nhất, logic và tổ chức.
Kết hợp giữa việc học tập, giáo dục và quá trình truy cập.
Tận dụng tối đa yếu tố con người (cán bộ thư viện) cũng như các yếu tố công
nghệ.
K55 Thông tin – Thư viện
7
dựng theo cách này sẽ tạo ra những phân lớp quan trọng cung cấp việc truy
cập thông tin đã có sẵn trên Web”. Một thư viện số được xem như một nơi
trình bày những bộ sưu tập thông tin có tổ chức. Thông tin số khi đó sẽ được
bảo hành, truy cập và lướt tìm [8].
1.2
Tình hình phát triển thư viện số trên thế giới
K55 Thông tin – Thư viện
8
Khóa luận
Lương Thị Huyền
Thư viện là kho tàng tri thức của xã hội, trên thế giới thư viện đã hình
thành từ lâu đời và nó đã lưu giữ kho tàng tri thức quý báu của nhân loại, có
người còn cho rằng thư viện là đền đài của văn hóa và sự uyên thâm. Được
hình thành trong thời kỳ nông nghiệp thống trị trong tư duy của nhân loại, thư
viện đã trải nghiệm qua một cuộc hồi sinh với việc phát minh ngành in trong
thời kỳ phục hưng, và thực sự bắt đầu khi cuộc cách mạng công nghiệp bùng
phát với hàng loạt những phát minh cơ giới hóa quy trình in ấn. Theo thời gian
thì thư viện cũng ngày càng được phát triển và hiện đại từ các thư viện truyền
thống thủ công hiện nay thư viện đã dần chuyển sang loại hình thư viện số với
sự đóng góp chủ đạo là ứng dụng công nghệ thông tin vào các công tác quản
lý nghiệp vụ chuyên ngành, nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong công tác
thư viện. Thư viện số là một khái niệm khá phổ biến hiện nay trên thế giới
được biết đến với các khái niệm như: số hóa tài liệu, phần mềm thư viện số,
Đây là chương trình nghiên cứu TVS liên thông giữa nhiều trường đại
học khác nhau ở Mỹ. Nó bao gồm nhiều chủ đề và nhiều phương phương tiện,
nhiều dạng sưu tập và nhiều công nghệ mới đã được ứng dụng.
Ngoài dự án sáng kiến TVS, ở Mỹ còn thành lập nhiều trung tâm nghiên
cứu TVS sau: Trung tâm tìm kiếm thông tin thông minh – CIIR; Trung tâm
nghiên cứu TVS – CSDL; Trung tâm văn bản điện tử tạ đại học Virginia –
ETC; Dựa án hạ tầng thông tin Harvard – HIIP; Trung tâm quản trị, tích hợp,
kết nối thông tin Rutger – CIMIC [20].
Dự án nghiên cứu thư viện số Ở Anh
Bước sang những năm 90 của thế kỷ XX, các nguồn tin điện tử có vai
trò quan trọng trong các trường đại học và có ảnh hưởng lớn đến hoạt động
của các thư viện. Do đó, các chương trình nghiên cứu TVS ở Anh chủ yếu tập
trung vào khu vực giáo dục đại học.
Dự án Elib do ủy ban hệ thống thông tin liên kết thông tin điện tử (JSC)
điều hành được đầu tư 15 triệu bảng cho 3 năm đầu tiên (1995-1997) nhằm
ứng dụng CNTT để đáp ứng nhu cầu chuyển đổi của thư viện đại học, giai
đoạn 3 để hình thành dự án.
Giai đoạn 1 của dự án tập trung vào 7 chương trình nghiên cứu sau: Truyền
phát thông tin điện tử; Lưu trữ tài liệu điện tử dạng sách và dạng báo (số hóa);
Báo điện tử; Xuất bản theo yêu cầu và sách điện tử; Nhận thức và đào tạo; Các
công cụ định hướng (truy cập tới các tài nguyên thông tin trên mạng); Hỗ trợ
học tập.
K55 Thông tin – Thư viện
10
Khóa luận
Lương Thị Huyền
công nghệ sau đó mới đến các khía cạnh khác như phát triển và quản lý TVS,
K55 Thông tin – Thư viện
11
Khóa luận
Lương Thị Huyền
người dùng tin, pháp lý, kinh tế, xã hội… Còn TVS của Anh nghiên cứu nhiều
hơn tới vấn đề khoa học TT-TV, nghề thư viện. Nhưng nói chung tất cả các dự
án này đều tập trung vào 4 yếu tố: Nội dung số - Công nghệ - Dịch vụ - Người
dùng tin.
1.3
Tình hình phát triển thư viện số ở Việt Nam
Trên thế giới thư viện số được hình thành và phát triển từ những năm 90
của thế kỷ XX. Tại Việt Nam thư viện số vẫn chưa hoàn toàn được chú tâm
phát triển, có thể nói Việt Nam chưa có một thư viện số hoàn toàn. Thư viện
lai vẫn là mô hình hoạt động chủ đạo của toàn bộ các hệ thống thư viện đại
học, công cộng. Ở Việt Nam người ta biết đến khái niệm thư viện điện tử
nhiều hơn là khái niệm thư viện số. Trong gần một thập kỷ nay việc nghiên
cứu TVS bắt đầu được quan tâm chú ý. Rất nhiều thư viện lớn trên khắp cả
nước đã bắt tay vào triển khai dự án TVS như dự án TVĐT trường đại học
Bách Khoa - 200 tỷ đồng bao gồm cả xây dựng. TVĐT – thư viện Hà Nội 10
tỷ đồng, thư viện đại học Thái Nguyên 14 tỷ đồng, TVĐT trường đại học khoa
học Tự nhiên thành phố Hồ Chí Minh. Tại miền trung có 2 trung tâm lớn đó là
vay và tài trợ nước ngoài cho các dự án TVS như cục thông tin và Khoa học
và Công nghệ quốc gia (NASATI), Thư viện quốc gia Việt Nam và hệ thống
thư viện công cộng, thư viện đại học Quốc gia Hà Nội và thành phố Hồ Chí
Minh và hệ thống thư viện đại học, các trung tâm học liệu Đà Nẵng, Huế, Thái
Nguyên, Cần Thơ [14].
Hạ tầng phần cứng: với kinh phí đầu tư cơ sở vật chất, hệ thống máy tính được
nối mạng Internet tốc độ cao đã được trang bị cho tất cả các hệ thống thư viện
cũng như các thiết bị số hóa tài liệu [14].
Phát triển hạ tầng phần mềm: Ứng dụng các phần mềm quản trị TVĐT như
Libol (Tinh Vân), Ilib (CMC), Vebrary (Lạc Việt) để tự động hóa mọi hoạt
động thư viện, chuyển đổi CSDL thư mục,quản lý tài liệu in ấn và tài liệu số,
ứng dụng các phần mềm TVS (Greenstone, Dspase, Zope) miễn phí để quản
trị tài liệu số [14].
Xây dựng các chuẩn nghiệp vụ thư viện: MARC21, Dublicore [14].
Phát triển nội dung số (số hóa, mua CSDL): Số hóa từng phần vốn tài liệu của
K55 Thông tin – Thư viện
13
Khóa luận
Lương Thị Huyền
thư viện (dựa trên các tiêu chí: quý, hiếm, độc bản), mua CSDL toàn văn của
nước ngoài (chủ yếu là tiếng anh) [15].
Cung cấp CSDL thư mục và toàn văn cho người dùng tin [15].
Đào tạo người dùng tin sử dụng các dịch vụ thư viện [15].
Nhìn chung thư viện số ở Việt Nam đã bước đầu hình thành được nền
tảng và trên đà hình thành phát triển. Với sự tiếp thu các thành tựu khoa học
quản lý của phần mềm sẽ quyết định cấu trúc dữ liệu của phần mềm và các
vấn đề mà hệ thống đó giải quyết.
Cấu trúc dữ liệu của một phầm mềm thư viện số bao gồm:
Hình 1: Cấu trúc dữ liệu của một phần mềm thư viện số
1.Các tệp tin tài liệu: Đây là đối tượng quản lý chính của một hệ thống
phần mềm thư viện số. Mỗi một tài liệu có thể là một hoặc nhiều tệp tin nằm
trên không gian lưu trữ web của hệ thống máy tính của thư viện và như vậy
mỗi tệp tin có địa chỉ web riêng của nó, địa chỉ này chính là đầu mối để liên
kết tệp tin trong các siêu dữ liệu đối tượng số. Sử dụng web làm phương tiện
xuất bản tài liệu số là cách thức hiệu quả nhất vì tính phổ biến và năng lực
web đã hoàn toàn áp đảo các phương thức cá biệt khác.
2. Các biểu ghi thư mục: Tương tự như đối với các tài liệu truyền thống,
mỗi tài liệu số cần có một biểu ghi thư mục mô tả làm cơ sở cho việc tìm kiếm
qua OPAC và quản lý tài liệu đó. Đối với các hệ thống thư viện số giản đơn
biểu ghi thư mục chứa thông tin liên kết trực tiếp tới địa chỉ tệp tin tài liệu số.
Ví dụ thông tin địa chỉ tài liệu điện tử được tham chiếu trong trường 856 với
tiêu chuẩn MARC21 và DC.Identifier với Dublin Core. Với tham chiếu giản
đơn hệ thống thư viện số không cho phép thể hiện tường minh cấu trúc các tài
liệu phức tạp kết hợp nhiều tệp tin và các thông tin mô tả như một tạp chí
nhiều bài, một bài giảng nhiều thể loại tài liệu kết hợp… ngoài ra còn nhiều
những giới hạn về kỹ thuật khác.
K55 Thông tin – Thư viện
15
Khóa luận
Lương Thị Huyền
Khóa luận
Lương Thị Huyền
chỉ trong phạm vi một quốc gia mà trên phạm vi cả thế giới. Cùng với sự phát
triển của công nghệ thông tin, xã hội loài người đã phát triển lên một bước cao
hơn, tiếp cận với loại hình kinh tế mới – “Kinh tế tri thức”
Cùng với tầm quan trọng của nguồn tri thức ngày càng được nâng cao
vai trò của ngành quản lý thông tin và tri thức càng trở nên quan trọng. Khi
thông tin và tri thức càng trở nên phong phú đa dạng, và phát triển mạnh mẽ
theo thời gian thì nhu cầu sử dụng và khai thác về thông tin của xã hội càng
trở nên cao cấp hơn. Việc lưu trữ, khai thác, tổ chức và phân phối thông tin đòi
hỏi nhiều thách thức mới. Cùng lúc đó, với cách mạng công nghệ thông tin
đặc biệt là sự bùng nổ của công nghệ thông tin, kỹ thuật số hóa làm cho khả
năng đáp ứng nhu cầu đang tăng lên chưa từng có về lưu trữ, tổ chức và phân
phối thông tin trở thành hiện thực. Thư viện số ra đời trong bối cảnh trên, thật
sự bắt đầu cho cuộc cách mạng trong lĩnh vực thư viện, đã và đang thay đổi
hẳn cách nhìn về nghề thư viện. Các thư viện số đã làm thay đổi nhanh chóng
cách thức thu thập và phổ biến thông tin ở nhiều quốc gia. Đứng trước yêu cầu
thực tế đấy để đáp ứng nhu cầu số hóa tài liệu và khai thác thông tin các công
ty phần mềm đã nghiên cứu và cung cấp các giải pháp phần mềm thư viện số
như phần mềm mã nguồn mở Greenstone, phần mềm Dspace, phần mềm
Koha, phần mềm KIPOS.
K55 Thông tin – Thư viện
17
Khóa luận
băn khoăn và thể hiện sự không hài lòng của họ về những tính năng của giải
pháp thư viện điện tử tích hợp ngày đó với việc quản lý tài liệu số của họ.
Những phương án tạo lập địa chỉ liên kết trong biểu ghi thư mục đến URL của
tệp tin toàn văn là cách làm của VILAS và các phần mềm quản lý thư viện
khác không thỏa mãn được yêu cầu của khách hàng. Họ mong muốn một cái
gì đó toàn diện hơn và đáp ứng được hầu hết các yêu cầu từ việc quản lý các
tệp pdf luận văn luận án, audio, video... đến các tài liệu phức hợp như một bài
giảng điện tử.
Đứng trước sự hối thúc của nhu cầu thị trường, Công ty phần mềm
Quản lý Hiện Đại đã tìm ra giái pháp để đáp ứng nhu cầu khách hàng.
Bắt đầu bằng việc nghiên cứu GreenStone, DSpace, Fedora...các giải
pháp mã nguồn mở để quản lý các bộ sưu tập số. Đánh giá rằng các phần mềm
đó rất tuyệt vời, tuy nhiên vẫn còn nhiều vấn đề cần phải được thực hiện tốt
hơn nữa. Nét nổi bật trong các giái pháp này là mức độ quản lý tài liệu số mới
dừng lại ở siêu dữ liệu mô tả mà tiêu chuẩn thường dùng là DublinCore. Bản
chất của việc dùng DublinCore hoặc MARC cho vấn đề liên kết đến địa chỉ
tệp tin toàn văn là không có gì khác biệt. Cơ chế chung của các phần mềm xử
lý với mỗi tài liệu là tạo ra một biểu ghi siêu dữ liệu mô tả cho tài liệu rồi gắn
địa chỉ URL của các tệp tin tài liệu vào đó. Việc khai thác của độc giả cơ bản
là tìm ra biểu ghi mô tả tài liệu rồi theo đường link trên biểu ghi tải về các tệp
nội dung toàn văn. Ngày nay các giải pháp này cũng có nhiều nỗ lực
cải tiến nhằm giải quyết các vấn đề còn hạn chế. Tuy nhiên các giải pháp mã
nguồn mở cũng có những hạn chế giống như CDS/ISIS trước đây, ở góc độ
nào đó về các tiêu chuẩn kỹ thuật các giải pháp này thể hiện những tính năng
đặc biệt tốt. Tuy nhiên xét dưới góc độ tích hợp với nhiều yêu cầu quản lý và
cá biệt hóa theo nhu cầu đặc thù của một thư viện thì khó dựa trên các giải
K55 Thông tin – Thư viện
19
mới tuy nhiên tính năng của nó hoàn toàn vượt bậc. METS giúp cho thư viện
có thể xây dựng thư viện số một cách hiệu quả đặc biệt là số hóa và quản lý tài
K55 Thông tin – Thư viện
20
Khóa luận
Lương Thị Huyền
liệu. Hiện tại thì phần mềm KIPOS cũng như là tiêu chuẩn METS chưa được
sử dụng rộng rãi nhưng sẽ hứa hẹn một tương lai phát triển mạnh mẽ trong
việc xây dựng thư viện số của Việt Nam và thế giới.
2.2
Đặc tính kỹ thuật của KIPOS.
1. Tuân thủ chặt chẽ các tiêu chuẩn công nghiệp chuyên ngành thư viện
ISO2709, Z39.50, MARC21, METS…
2. KIPOS được xây dựng dựa trên kiến trúc hướng dịch vụ SOA
(Service Oriented Architecture), cho phép điều chỉnh, triển khai các ứng dụng
mới khi cần thiết. SOA cũng là kiến trúc cho phép triển khai hệ thống phân
tán dễ dàng nhất đáp ứng yêu cầu tích hợp và mở rộng của hệ thống.
3. Xây dựng trên nền Dot.Net, hỗ trợ cơ sở dữ liệu Microsoft SQL
2005/2008. Hỗ trợ kiểu dữ liệu XML, xây dựng các thủ tục xử lý dữ liệu của
SQL bằng .NET cho phép hệ thống tối ưu việc xử lý dữ liệu lớn và phức tạp,
giảm thiểu di chuyển dữ liệu trong mạng.
4. Giao tiếp dữ liệu thông qua Web Services giúp hệ thống hoạt động
ổn định và bảo mật hơn. Hỗ trợ giao diện Việt - Anh với bộ mã TCVN
•
Hoàn toàn tuân thủ và đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn và quy tắc biên
mục mô tả như ISBD, AACR2, MARC21 (thư mục, vốn tư liệu, kiểm soát
tính nhất quán).
K55 Thông tin – Thư viện
22
Khóa luận
•
Lương Thị Huyền
Hỗ trợ nhiều khung phân loại khác nhau như BBK,UDC, DDC, LC…
cũng như các khung phân loại đặc biệt khác.
•
Cho phép thư viện tự xây dựng các khuôn mẫu biên mục linh động đáp
ứng mọi yêu cầu về trường mô tả cũng như đưa vào các dữ liệu mặc định.
•
Giao diện Windows thân thiện và dễ sử dụng, các thao tác thêm bớt các
trường dữ liệu được thực hiện nhanh chóng.
•
nghiệp và trên web cho độc giả.
Cung cấp nhiều tính năng tìm kiếm hiệu quả: tìm lướt, tìm theo từ khóa
•
và tìm chuyên gia.
Cho phép tìm kiếm theo nhiều dấu hiệu tìm kiếm khác nhau đáp ứng
•
chuẩn quốc tế về tìm kiếm như sử dụng các toán tử logic, toán tử lân cận, toán
tử chặt cụt, toán tử so sánh.
Hỗ trợ các ký tự thay thế như * thay cho một chuỗi, ? thay cho một ký
•
tự
•
Sử dụng nháy kép để yêu cầu tìm kiếm cả cụm từ chính xác.
•
Hỗ trợ việc xây dựng các biểu thức tìm kiếm với số lượng điều kiện kết
hợp không giới hạn, cho phép sử dụng ký tự thay thế và các dấu ngoặc, thỏa
mãn mọi yêu cầu tìm kiếm thông tin của độc giả.
•
25