BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT
LƯU THỊ VÂN ANH
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ DI SẢN THỪA
KẾ GỬI TẠI NGÂN HÀNG TMCP
SÀI GÒN THƯƠNG TÍN – CHI NHÁNH
TRUNG TÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
CHUYÊN NGÀNH LUẬT KINH DOANH
TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT
LƯU THỊ VÂN ANH
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ DI SẢN THỪA
KẾ GỬI TẠI NGÂN HÀNG TMCP
SÀI GÒN THƯƠNG TÍN – CHI NHÁNH
TRUNG TÂM
Xin chân thành cảm ơn!
i
LỜI CAM ĐOAN
“Tôi xin cam đoan khóa luận này là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực và chưa từng
được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đã được chỉ rõ
nguồn gốc”
Tác giả khóa luận
Lưu Thị Vân Anh
ii
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT
--- ---
PHIẾU ĐIỂM CỦA ĐƠN VỊ THỰC TẬP
Sinh viên thực tập: LƯU THỊ VÂN ANH MSSV: 33131023889
Lớp: Luật kinh doanh
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT
--- ---
PHIẾU ĐIỂM CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Sinh viên thực tập: LƯU THỊ VÂN ANH
Lớp: Luật kinh doanh
Khóa:
16
MSSV: 33131023889
Hệ: VB2CQ
Đơn vị thực tập:
Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín - Chi nhánh Trung Tâm
Đề tài nghiên cứu:
Áp dụng pháp luật về xử lý di sản thừa kế gửi tại Ngân hàng TMCP
Sài Gòn Thương Tín - Chi nhánh Trung Tâm
Nhận xét chung:
…………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
Đánh giá và chấm điểm quá trình thực tập
(1) Có tinh thần thái độ phù hợp, chấp hành kỷ luật tốt (tối đa 3 điểm)..…….
(2) Thực hiện tốt yêu cầu của GVHD, nộp KL đúng hạn (tối đa 7 điểm)……..
Tổng cộng điểm thực tập cộng (1) + (2)……………….
Đề tài nghiên cứu:
Áp dụng pháp luật về xử lý di sản thừa kế gửi tại Ngân hàng TMCP
Sài Gòn Thương Tín - Chi nhánh Trung Tâm
Nhận xétchung:
…………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………
Đánh giá cụ thể
(1) Điểm quá trình (tối đa 1 điểm)……………………………………….
(2) Hình thức khóa luận (tối đa 1 điểm)………………………………….
(3) Nội dung khóa luận
- Tính phù hợp, thực tiễn và mới của đề tài (tối đa 1 điểm)……..…..
- Phần mở đầu (tối đa 0,5 điểm)…………………………………………
- Phần 1(tối đa 1,5 điểm)………………………………………..………..
- Phần 2 (tối đa 3 điểm)…………………………………………….…….
- Phần 3 (tối đa 1 điểm)……………………………….…………...…….
- Phần kết luận (tối đa 1 điểm)……………………………………..……
Điểm số tổng cộng (1) + (2) + (3)……………………….
Điểm chữ:……………………………………………….
Tp.HCM, ngày …… tháng 10 năm 2015
Người chấm thứ nhất
v
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT
--- ---
- Phần kết luận (tối đa 1 điểm)……………………………………..……
Điểm số tổng cộng (1) + (2) + (3)……………………..….
Điểm chữ:………………..……………………………….
Tp.HCM, ngày …… tháng 10 năm 2015
Người chấm thứ hai
vi
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU..........................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài:.................................................................................1
2. Mục tiêu nghiên cứu:............................................................................2
3. Phương pháp và phạm vi nghiên cứu:................................................2
4. Kết cấu đề tài:.......................................................................................2
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ THỪA
KẾ DI SẢN..................................................................................................4
1.1 Cơ sở lý luận về thừa kế di sản:...........................................................4
1.1.1 Khái niệm thừa kế, quyền thừa kế:.................................................5
1.1.2 Mối quan hệ giữa quyền thừa kế và quyền sở hữu:........................7
1.1.3 Khái niệm di sản thừa kế:................................................................8
1.2 Sơ lược quá trình hoàn thiện, phát triển pháp luật thừa kế của
Việt Nam qua các giai đoạn:......................................................................9
1.2.1 Giai đoạn phong kiến Việt Nam:....................................................9
1.2.2 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1959:.........................................10
1.2.3 Giai đoạn từ năm 1959 đến năm 1980:.........................................10
1.2.4 Giai đoạn từ năm 1980 đến nay:...................................................11
1.3 Cơ sở pháp lý về thừa kế di sản:........................................................11
1.3.1 Xác định di sản thừa kế:................................................................11
1.3.2 Người thừa kế:...............................................................................13
3.1.1 Những mặt tồn tại:........................................................................36
3.1.2 Nguyên nhân:................................................................................37
viii
3.2 Một số giải pháp hoàn thiện việc áp dụng pháp luật về xử lý di
sản thừa kế đối với ngân hàng:................................................................39
3.2.1 Nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ và kiến thức pháp
luật cho cán bộ nhân viên:.....................................................................39
3.2.2 Ban hành quy trình xử lý di sản thừa kế áp dụng toàn hệ
thống Sacombank:..................................................................................40
3.2.3 Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát đối với hoạt động
xử lý di sản thừa kế để đảm bảo chất lượng áp dụng pháp luật:............42
3.3 Một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về thừa kế di sản
gửi tại ngân hàng:......................................................................................43
KẾT LUẬN................................................................................................47
ix
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thừa kế là một quan hệ pháp luật phổ biến trong đời sống xã hội.
Trong giai đoạn hiện nay, khi số lượng và giá trị tài sản của cá nhân ngày
càng đa dạng, phong phú thì vấn đề thừa kế di sản cũng nảy sinh nhiều dạng
tranh chấp.
Nói đến di sản thừa kế tại ngân hàng, ta thường nghĩ ngay đến tiền gửi
tiết kiệm và số dư trên tài khoản của người chết để lại. Đây là di sản chủ yếu
và phổ biến trong những năm qua mà các Ngân hàng thương mại Việt Nam
thương tín (Sacombank).
Mục tiêu thứ hai tác giả đi vào phân tích quy trình về xử lý di sản đang
áp dụng tại ngân hàng trong thời gian qua, đồng thời chỉ ra một số tình huống
thực tế để nhận diện được những vấn đề pháp lý phát sinh tại đơn vị.
Từ hai mục tiêu trên, ở mục tiêu cuối cùng, tác giả đưa ra những nhận
xét, đánh giá thực tiễn cũng như chỉ ra những mặt tồn tại và các nguyên nhân
dẫn đến vấn đề pháp lý trong quá trình áp dụng pháp luật về xử lý di sản thừa
kế gửi tại ngân hàng. Qua đó đề xuất những kiến nghị, giải pháp về mặt pháp
luật cũng như hoàn thiện quy trình tại ngân hàng Sacombank trong việc áp
dụng pháp luật đối với lĩnh vực xử lý di sản thừa kế.
3. Phương pháp và phạm vi nghiên cứu
Tác giả sử dụng các phương pháp khoa học như: so sánh, phân tích, tổng hợp,
thống kê, phương pháp bình luận, miêu tả thực các tình huống xảy ra để giải
quyết những vấn đề đặt ra của đề tài.
Phạm vi nghiên cứu: Việc áp dụng pháp luật về thừa kế theo bộ luật dân sự
năm 2005 cùng các văn bản pháp lý liên quan để xử lý di sản gửi tại Ngân
hàng TMCP Sài gòn thương tín- Chi nhánh Trung Tâm.
4. Kết cấu đề tài
Phần mở đầu:
Lý do chọn đề tài; mục tiêu, phạm vi, ý nghĩa thực tiễn, kết cấu đề tài.
Chương 1: Cở sở lý luận và cơ sở pháp lý về thừa kế di sản.
2
Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật về xử lý di sản thừa kế gửi tại
Ngân hàng TMCP Sài gòn thương tín- Chi nhánh Trung Tâm
Chương 3: Một số kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện việc áp dụng
Theo quy định của pháp luật, khi một người có tiền gửi tại ngân hàng
chết, thì số tiền gửi của người đó sẽ được thừa hưởng bởi một hay nhiều
người thừa kế. Nếu người gửi tiền không để lại di chúc trước khi chết, thì
những người thừa kế theo pháp luật sẽ được nhận số tiền gửi do người chết để
lại.
Báo cáo tổng kết hằng năm của các ngân hàng trong đó có ngân hàng
TMCP Sài gòn thương tín (Sacombank) cho thấy việc giải quyết số tiền gửi
của người chết để lại thường rất phức tạp vì hiện nay, Bộ luật Dân sự
( BLDS) năm 2005 được coi là cơ sở pháp lý duy nhất quy định về vấn đề
thừa kế. Tuy nhiên, cho đến nay nước ta vẫn chưa có các văn bản hướng dẫn
4
thi hành BLDS liên quan đến vấn đề này, đặc biệt là thừa kế có yếu tố nước
ngoài. Do vậy, các chi nhánh trong cùng hệ thống ngân hàng Sacombank
cũng như các ngân hàng khác trên cả nước đã có những cách thức giải quyết
khác nhau về di sản thừa kế là tiền gửi của người để lại di sản. Và điều này
cũng dẫn đến thực tế là trong một số trường hợp, cách xử lý của ngân hàng
còn quá cứng nhắc do nhiều nguyên nhân như: pháp luật quy định chung
chung dẫn đến cách hiểu và vận dụng khác nhau, áp dụng pháp luật một cách
máy móc, rập khuôn gây khó khăn cho khách hàng, làm ảnh hưởng đến quyền
và lợi ích của những người thừa kế. Chính vì lẽ đó, trong chương này, tác giả
đề cập đến một số vấn đề lý luận cơ bản và căn cứ pháp lý có liên quan đến đề
tài nghiên cứu, từ đó giúp cho người đọc có những kiến thức nền tảng, những
cơ sở lý luận ban đầu về vấn đề thừa kế di sản.
1.1.1 Khái niệm thừa kế, quyền thừa kế:
1.1.1.1
Khái niệm thừa kế:
6
1.1.2 Mối quan hệ giữa quyền thừa kế và quyền sở hữu:3
Khi xã hội phân chia thành giai cấp, xuất hiện Nhà nước, việc chiếm
giữ những của cải vật chất trong xã hội được điều chỉnh bằng pháp luật theo
hướng có lợi cho giai cấp thống trị. Vì vậy, quyền sở hữu theo nghĩa khách
quan là tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước quy định nhằm điều
chỉnh những quan hệ về sở hữu đối với các lợi ích vật chất trong xã hội.
Những quy phạm pháp luật đó xác nhận, quy định và bảo vệ quyền sở hữu
của các chủ sở hữu trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của mình.
Quyền thừa kế là tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành quy
định các điều kiện, trình tự dịch chuyển những tài sản của người đã chết cho
những người còn sống.
Quyền sở hữu và quyền thừa kế đều là những phạm trù pháp lý, song
song tồn tại trong cùng một hình thái kinh tế - xã hội nhất định. Giữa chúng
có quan hệ mật thiết và chặt chẽ, từ chỗ pháp luật quy định cho công dân có
quyển sở hữu tài sản và cũng dựa vào đó pháp luật quy định cho các quyền
năng trong quan hệ thừa kế.
Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, một chế độ xã hội dựa trên nền tảng
công hữu hóa tư liệu sản xuất như đất đai, rừng núi, sông hồ... nhà nước là
người đại diện cho nhân dân nắm giữ những tư liệu sản xuất để phục vụ cho
nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước và bảo vệ an ninh quốc phòng. Quyền
thừa kế là thừa hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp mà nhà nước cho phép
chuyển dịch. Đối tượng của thừa kế là những tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu
dùng như nhà máy, cổ phần, các máy móc phục vụ cho sản xuất công, nông
nghiệp...
Công dân có quyền để lại thừa kế những tài sản thuộc quyền sở hữu của
mình cho người khác, nhà nước không hạn chế quyền để lại thừa kế và quyền
nhận thừa kế của công dân trừ trường hợp vi phạm Điều 643 Bộ luật Dân sự
mình phải được sự đồng ý của người đó. Nếu di sản thừa kế bao gồm cả nghĩa
vụ tài sản và việc tiếp nhận di sản thừa kế là một nghĩa vụ, tức là người thừa
kế không có quyền từ chối thì vô hình chung điều này đã đi ngược lại một
trong những nguyên tắc cơ bản nhất của pháp luật dân sự là "nguyên tắc tự
do, tự nguyện". Do vậy, di sản chỉ có thể bao gồm tài sản, không thể bao gồm
nghĩa vụ tài sản.
Vì vậy theo tác giả di sản thừa kế có thể được hiểu là toàn bộ tài sản
thuộc quyền sở hữu của người chết được chuyển dịch cho những người thừa
kế hợp pháp của người đó sau khi đã thanh toán toàn bộ nghĩa vụ tài sản từ di
sản của người chết để lại với người khác. Và quyền sở hữu tài sản là một
8
trong những quyền cơ bản của công dân được nhà nước bảo hộ theo điều 32
Hiến pháp năm 2013 quy định: “ Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp
pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn
góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác. Quyền sở hữu
tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ”.
1.2
Sơ lược quá trình hoàn thiện và phát triển pháp luật thừa
kế của Việt Nam qua các giai đoạn4:
1.2.1 Giai đoạn phong kiến Việt Nam:
Chế độ phong kiến Việt Nam tồn tại qua nhiều thế kỉ. Mỗi nhà nước
phong kiến đều ban hành các văn bản pháp luật để cũng cố quyền lực và phục
vụ cho công việc quản lý đất nước. Đáng chú ý là các bộ luật của các triều đại
phong kiến như Bộ luật Hồng Đức( 1483), Bộ luật Gia Long( 1815). Ngoài bộ
luật, các nhà nước phong kiến còn ban hành nhiều văn đơn hành như chiếu,
sắc lệnh 97/SL về việc sửa đổi một số quy lệ và chế định trong luật dân luật,
quy định một số nguyên tắc mới để áp dụng trong điều kiện của nền dân chủ
nước ta. Riêng trong lĩnh vực thừa kế đã quy định vợ, chồng có quyền thừa kế
tài sản của nhau; con trai, con gái đều có quyền thừa kế di sản của cha mẹ;
chồng góa, vợ góa, các con đã thành niên có quyền xin chia di sản; con, cháu
hoặc vợ góa, chồng góa không bắt buộc phải nhận thừa kế của người đã chết;
các chủ nợ của người đã chết không có quyền đòi người thừa kế phải thanh
toán nợ quá phần di sản mà người đó nhận được.
1.2.3 Giai đoạn từ năm 1959 đến năm 1980:
Hiến pháp năm 1959 đã công nhận vấn đề thừa kế thành nguyên tắc, điều
19 quy định: ”Nhà nước chiếu theo pháp luật, bảo hộ quyền thừa kế tài sản
của công dân”. Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 quy định: ” Các con đều
có quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau trong gia đình và trong việc hưởng thừa
kế, không phân biệt con trai, con gái, con ngoài giá thú, con đẻ, con nuôi”.
Sau này, để đáp ứng yêu cầu của công tác xét xử trong phạm vi chức
năng do Luật tổ chức tòa án quy định. Tòa án nhân dân tối cao ra nhiều thông
tư hướng dẫn. Thông tư số 549/NCPL ngày 27/08/1968 hướng dẫn đường lối
xét xử các việc tranh chấp về thừa kế. Thông tư số 02/TATC ngày 02/08/1973
hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa kế di sản liệt sĩ..
1.2.4 Giai đoạn từ năm 1980 đến nay:
Hiến pháp năm 1980 ghi nhận” Pháp luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản
của công dân” ( điều 27). Để phục vụ cho công tác xét xử các tranh chấp về
thừa kế, đồng thời bổ sung một số điểm cho phù hợp với Hiến pháp mới, qua
10
tổng kết rút kinh nghiệm công tác xét xử, Tòa án nhân dân tối cao đã ban
hành Thông tư 81 ngày 24/07/1981 hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về
thừa kề( di sản thừa kế, thừa kế theo di chúc, thừa kế theo pháp luật, phân
chia di sản thừa kế..) Thông tư số 81 là văn bản tương đối hoàn chỉnh về các
đá quý được dùng làm đồ trang sức hoặc được dùng làm của cải để dành. Nhà
5
Đại học Luật Hà Nội (2006), Giáo trình luật dân sự Việt Nam (tập 1), NXB Công an nhân dân, Hà Nội ,
tr.315.
11
ở, nhà do được thừa kế, tặng cho, mua, trao đổi hoặc tự xây dựng được các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền cho phép và đã làm thủ tục sang tên, trước bạ.
Vốn cổ phần, vật tư, tư liệu sản xuất của những người sản xuất cá thể hoặc
của các tư nhân được sản xuất kinh doanh hợp pháp. Tài liệu, dụng cụ máy
móc của người làm công tác nghiên cứu. Cây cối mà người giao sử dụng đất
trồng và hưởng lợi trên đó.
1.3.1.2
Phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người
khác:6
Trong thực tế có nhiều trường hợp do nhiều người cùng góp vốn để cùng
sản xuất kinh doanh, nên có khối tài sản thuộc quyền sở hữu chung của nhiều
người. Nếu một trong đồng sở hữu chết thì si sản thừa kế của người chết là
phần tài sản thuộc sở hữu của người đó đã đóng góp trong khối tài sản chung.
Khác với hình thức sở hữu chung theo phần, tài sản của vợ chồng trong
thời kỳ hôn nhân là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng. Theo
Điều 219 Bộ luật Dân sự năm 2005, sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu
chung hợp nhất. Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung
bằng công sức của mỗi người; có quyền ngang nhau trong việc chiềm hữu, sử
tinh thần trách nhiệm của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ pháp luật
dân sự. Tuy nhiên các quyền về tài sản gắn liền với nhân thân của người chết
như quyền hưởng trợ cấp, tiền lương hưu không được coi là di sản thừa kế.
1.3.2 Người thừa kế:
Được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2005 tại Điều 635, theo đó
người thừa kế là người được thừa hưởng di sản thừa kế theo di chúc hoặc theo
pháp luật, và người thừa kế theo pháp luật chỉ có thể là cá nhân và phải là
người có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng đối với ngưới để lại
di sản. Người thừa kế theo di chúc có thể là cá nhân hoặc tổ chức hoặc nhà
nước. Những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ về tài sản do người chết
để lại. Quyền của người thừa kế được quy định ở Điều 642 Bộ luật Dân sự
năm 2005 theo nguyên tắc chung mọi cá nhân đều có quyền hưởng di sản
thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật, ngoài ra họ còn có quyền từ chối
nhận di sản trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa
vụ tài sản của mình đối với người khác. Việc từ chối nhận di sản phải được
lập thành văn bản và báo cho những người thừa kế khác, người được giao
nhiệm vụ phân chia di sản, cơ quan công chứng hoặc Uỷ ban nhân dân xã,
phường, thị trấn nơi có địa điểm mở thừa kế về việc từ chối nhận di sản. Thời
hạn từ chối nhận di sản là sáu tháng, kể từ ngày mở thừa kế. Sau sáu tháng kể
từ ngày mở thừa kế nếu không có từ chối nhận di sản thì được coi là đồng ý
nhận thừa kế.
1.3.3 Phân chia di sản thừa kế:
13