LuËn v¨n tèt nghiÖp
33
đáp ứng cho thị trường trong nước. Chính vì thế yếu tố địa lý là rất quan
trọng.
1.2 Yếu tố xã hội và trình độ phát triển.
Bên cạnh yếu tố địa lý thì các vấn đề xã hội, trình độ dân trí, phong
tục tập quán, cũng ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển khu kinh tế cửa khẩu.
Mặc dù, các khu kinh tế cửa khẩu vùng Đông Bắc nằm ở những nơi đô thị
hóa, có trình độ phát triển cao hơn so với các vùng khác trong vùng nhưng
nhìn tổng thể thì đây vẫn là khu vực khó khăn với trên 30 dân tộc sinh
sống.
Trình độ dân trí ở đây nhìn chung còn rất thấp với tỉ lệ mù chữ cao,
trình độ văn hóa thấp. Số lao động qua đào tọa chỉ chiếm 5% lực lượng lao
động của vùng, đáng chú ý là trong số này chủ yếu là giáo viên và bác sỹ.
Do trình độ lao động thấp, chủ yếu là lao động giản đơn dựa vào kinh
nghiệm là chính, không qua đào tạo nên năng suất lao động thấp, giá trị cá
biệt của hàng hóa cao nhưng chất lượng của sản phẩm còn hạn chế, vì thế
khả năng cạnh tranh của sản phẩm sẽ rất khó khăn khi trao đổi hàng hóa
qua cửa khẩu. Cơ cấu kinh tế vẫn còn ở mức lạc hậu, nông – lâm nghiệp
vẫn chiếm tỉ trọng cao khoảng 55%, do đó thu nhập bình quân đầu người
vẫn ở mức thấp.Vấn đề này sẽ dẫn đến hàng loạt các khó khăn khác như :
Đời sống văn hoá tinh thần không được đảm bảo, các dịch vụ xã hội còn
thiếu và ở mức yếu kém. Đây là những khó khăn cho việc phát triển giao
lưu kinh tế qua cửa khẩu biên giới và nó cũng tác động không nhỏ đến sự
phát triển khu kinh tế cửa khẩu.
2. Bầu không khí chính trị của các nước trong khu vực và trực tiếp là
quan hệ hữu nghị thân thiên giữa Việt Nam và Trung Quốc
Đây là một nhân tố mang tính khách quan, qui định sự hình thành
và phát triển các khu kinh tế cửa khẩu vùng Đông Bắc nói riêng và biên
không có. Vì vậy vấn đề này không chỉ có vai trò quan trọng sống còn, có ý
nghĩa quyết định đến sự hình thành và phát triển khu vực cửa khẩu. Mà
trong tương lai, khi qui mô của loại hình này mở rộng, các hoạt động
thương mại xuất nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, hoạt động dịch vụ du lịch,
trao đổi thông tin tư vấn. Hội trợ phát triển thì sự liên kết không chỉ trực
LuËn v¨n tèt nghiÖp
35
tiếp giữa hai quốc gia, mà đòi hỏi sự tham gia có tính chất khu vực, nơi đây
sẽ thực sự là cầu nối, là kênh quan trọng hỗ trợ cho nền kinh tế hội nhập,
mở cửa theo xu thế toàn cầu hóa và cạnh tranh diễn ra gay gắt giữa các
nước, các nền kinh tế trong khu vực và thế giới.
3. Tác động của chính sách kinh tế đối ngoại và quan hệ kinh tế Việt
Nam Trung Quốc.
Sự phát triển của các khu kinh tế cửa khẩu phụ thuộc trực tiếp vào
chính sách kinh tế đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta. Từ khi thực hiện
chính sách đổi mới năm 1986 đến nay đường lối đối ngoại mở rộng của
chúng ta : " Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước ", trên nguyên tắc:
bình đẳng, cùng có lợi; tôn trọng chủ quyền và không can thiệp và công
việc nội bộ của nhau; giữ vững độc lập; chủ quyền dân tộc; kiên định sự
lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội… Trên những định hướng cơ
bản đó, chúng ta chủ trương giữ vững các thị trường truyền thống, đồng
thời tìm kiếm và mở rộng thị trường ra các nước, các khu vực khác trên thế
giới. Trong đó, Trung Quốc được coi là thị thị trường truyền thống, có
nhiều tiềm năng, là thị trường lớn với hơn 1,3 tỉ dân, có nhiều nét tương
đồng với Việt Nam. Việc thực thi một chính sách đối ngoại đa phương hóa,
đa dạng hóa các hình thức kinh tế đối ngoại cho phép Việt Nam tìm kiếm
nhiều mô hình, hình thức kinh tế đa dạng, năng động. Trong đó, bên cạnh
các hoạt động xuất, nhập khẩu; hoạt động hợp tác, đầu tư nước ngoài; hoạt
tế hàng hóa, mức độ và qui mô mở rộng các quan hệ thị trường cũng là môi
trường quan trong để khu kinh tế cửa khẩu tồn tại và phát triển, đến lượt
nó, khu kinh tế cửa khẩu ra đời sẽ đóng vai trò là cầu nối, tác động trở lại
đối với việc phát triển kinh tế hàng hóa trong nước, là cửa ngõ để nền kinh
tế hội nhập với khu vực và thế giới. Vì vậy, nói đến việc mở rộng các quan
hệ thị trường ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay, trước hết là việc hình
thành đầy đủ và đồng bộ các loại thị trường, tạo ra khuôn khổ pháp lý để
thị trường hoạt động đúng với vai trò và chức năng của nó trong nền kinh
tế.
Hiện nay và trong những năm tiếp theo, khi xu hướng toàn cầu hóa
mạnh mẽ và sâu rộng hơn, Việt Nam tham gia đầy đủ hơn vào các tổ chức
LuËn v¨n tèt nghiÖp
37
thương mại khu vực và quốc tế, tham gia nhiều hơn và các thị trường của
các quốc gia phát triển, thì áp lực cạnh tranh đối với sản xuất và trao đổi
thương mại quốc tế, trong đó có khu kinh tế cửa khẩu càng trở nên gay gắt.
Bởi vì, xét về bản chất trong quan hệ kinh tế quốc tế, hiệu quả kinh tế chỉ
đạt được khi trao đổi diễn ra bình đẳng, mỗi quốc gia chỉ xuất hàng hóa nào
mà thị trường quốc tế cần, những hàng hóa mà trong nước có lợi thế, đưa
lại giá trị chính sách biệt thấp hơn, có khả năng cạnh tranh. Ngược lại, nếu
chỉ xuất hàng thô, hàng được sản xuất với công nghệ lạc hậu, thị trường
quốc tế không cần thì hoặc là thua thiệt, hoặc là hàng hóa ứ đọng, ảnh
hưởng đến sản xuất trong nước, thậm chí biến thị trường trong nước trở
thành nơi tiêu thụ hàng hóa ế thừa của các quốc gia phát triển hơn. Khi đó,
vai trò và hiệu quả của việc hình thành và phát triển khu kinh tế cửa khẩu
sẽ mất tác dụng.
Trong quan hệ kinh tế quốc tế, trình độ phát triển kinh tế thị trường,
khả năng cạnh tranh của mỗi nước cũng được phản ánh thông qua quan hệ
dựng cơ sở hạ tầng có ý nghĩa hết sức quan trọng bởi nó ảnh hưởng trực
tiếp đến việc ra quyết định đầu tư của các doanh nghiệp.
Trong thời gian thực hiện thí điểm các chính sách ở các khu kinh tế
cửa khẩu thì chính sách đầu tư được thể hiện thông qua một số các qui
định, các Quyết định mang tính bổ sung, và qua các thông tư. Với một số
các nội dung cơ bản như sau: Ngoài quyền được hưởng các ưu đãi theo qui
chế hiện hành, các nhà đầu tư trong và ngoài nước còn được hưởng thêm
một số ưu đãi như :
- Chủ đầu tư được giảm 50% giá thuê đất và mặt nước so với khung
giá hiện hành của Nhà nước đang áp dụng tại các khu kinh tế cửa khẩu.
- Các chủ đầu tư được hưởng mức thuế ưu đãi ở một số ngành nghề,
lĩnh vực kinh doanh nhất định.
- Các chủ đầu tư nước ngoài được xét giảm nộp thuế chuyển lợi
nhuận ra nước ngoài trong từng trường hợp cụ thể.
Với các ưu đãi trên đã tạo ra sự thông thoáng, hấp dẫn có sức thu
hút các doanh nghiệp của nhiều tỉnh, nhiều vùng trong cả nước đến đó kinh
LuËn v¨n tèt nghiÖp
39
doanh xuất nhập khẩu, dịch vụ và đóng góp không nhỏ cho ngân sách của
tỉnh và Nhà nước. Qua đó góp phần tạo ra tăng trưởng nhanh cho chính các
khu kinh tế cửa khẩu điều đó càng cho chúng ta thấy được vai trò khá quan
trọng của các chính sách đầu tư. Tuy nhiên các chính sách đầu tư trên mới
chỉ là thí điểm nên nó còn một số điểm chưa phù hợp. Vì thế việc thu hút
đầu tư còn hạn chế, các nhà kinh doanh trong nước tại các địa phương
ngoài vùng biên giới, các nhà đầu tư nước ngoài còn chưa mạnh dạn đầu tư
vào các khu kinh tế cửa khẩu.
Để thúc đẩy quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng tại các khu vực cửa
khẩu thực hiện thí điểm thì được phép thành lập công ty xây dựng và phát
lại không quá 50% số thực thu.
- Các khu kinh tế cửa khẩu được vay vốn ưu đãi Nhà nước (quỹ hỗ
trợ phát triển) để phát triển cơ sở hạ tầng và được sử dụng nguồn vốn quy
định theo điều khoản đã nêu.
- Các khu kinh tế cửa khẩu có số thực thu ngân sách thấp, ủy ban
nhân dân tỉnh bố trí trong kế hoạch ngân sách hàng năm để đầu tư. Việc
đầu tư các công trình hạ tầng tại khu kinh tế cửa khẩu do ủy ban nhân dân
tỉnh quyết định theo các quy định hiện hành, trên cơ sở quy hoạch, kế
hoạch được duyệt.
- Nếu các công trình hạ tầng trên địa bàn khu kinh tế cửa khẩu đã
được đầu tư đồng bộ, hoàn chỉnh thì được dùng nguồn vốn còn lại được
quy định để đầu tư hỗ trợ các công trình ngoài địa bàn khu kinh tế cửa khẩu
nhưng có liên quan và phục vụ trực tiếp khu kinh tế cửa khẩu. Chủ tịch ủy
ban nhân dân tỉnh chịu trách nhiệm về quyết định đầu tư của mình, đồng
thời thông báo cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp, theo dõi chung.
2. Chính sách thuế
Chính sách về thuế có vai trò rất quan trọng trong việc khuyến
khích các nhà đầu tư tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh tại địa bàn
khu kinh tế cửa khẩu. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của các nhà
đầu tư khi tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh. Các ưu đãi về
thuế được thể hiện trong Quyết định của Thủ tướng Chính phủ với các nội
dung cơ bản như sau :
LuËn v¨n tèt nghiÖp
41
- Về thuế lợi tức: Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực
hiện nộp thuế lợi tức theo thuế suất quy định tại giấy phép đầu tư ; các
doanh nghiệp trong nước áp dụng thuế suất, thuế lợi tức quy định cho từng
ngành nghề theo quy định tại Luật thuế lợi tức, Luật khuyến khích đầu tư
1.1 Vài nét về đặc điểm và sự hình thành các cửa khẩu phía Bắc
* Thời kì trước đổi mới :
- Giao lưu kinh tế với bên ngoài qua các cửa khẩu trên bộ phía Bắc
gắn liền với sự thăng trầm của lịch sử mối quan hệ truyền thống, lâu đời
giữa Việt Nam và Trung Quốc. Từ xa xưa các triều đại phong kiến đã mở
nhiều điểm để nhân dân địa phương hai bên biên giới qua lại, buôn bán và
có những chính sách trao đổi hàng hóa, thuế khóa cụ thể. Thời kì Pháp
thống trị Việt Nam, Chính quyền địa phương và triều đình phong kiến Mãn
Thanh (Trung Quốc) đã kí kết nhiều văn bản liên quan đến cột mốc biên
giới và buôn bán qua các cửa khẩu hai nước. Bản "Điều ước Việt Nam năm
1885" và "Chương trình hợp tác tuần tra biên giới năm 1896" qui định mỗi
bên lập 25 đồn trú (trong đó có 19 điểm trên bộ và 6 điểm dưới biển) đồng
thời là những điểm họp chợ, trao đổi hàng hóa trên biên giới. Phần lớn
những điểm này được giữ đến ngày nay
- Đến năm 1950 hai nước Việt Nam và Trung Quốc chính thức thiết
lập ngoại giao. Tháng 4/ 1952 hai nước thông qua " Bị vong lục mậu dịch
" những năm sau đó lại kí tiếp các nghị định thư về buôn bán, trong đó có
ấn dịnh mở ba cặp cửa khẩu và 28 điểm trao đổi hàng hóa. Theo thỏa thuận
có 2 hình thức buôn bán là tiểu ngạch dân gian (giữa nhân dân hai bên vùng
biên giới) và các công ty quốc doanh của các địa phương dọc đường biên.
Những năm 1965 – 1975 trên biên giới đã có 28 cặp cửa khẩu (trong đó có
4 cửa khẩu quốc tế, 10 cặp cửa khẩu quốc gia và 14 cặp cửa khẩu tiểu
ngạch). Tháng 2/1979 chiến tranh biên giới phía Bắc xảy ra, từ đó quan hệ
giao lưu kinh tế gữa hai nước bị gián đoạn.
* Thời kì đổi mới và mở cửa kinh tế :
- Những năm 1986 – 1990 tình hình quan hệ hai nước đã bắt đầu
dịu đi và với sự thỏa thuận của chính phủ địa phương hai bên thì hàng chục
cặp cửa khẩu tiểu ngạch và nhiều đường mòn đã được mở để nhân dân hai
LuËn v¨n tèt nghiÖp
Trung cùng nhằm đón trước triển vọng to lớn của quan hệ kinh tế – thương
LuËn v¨n tèt nghiÖp
44
mại Việt –Trung trong thời gian tới. Bởi vì hiệu quả các khu kinh tế cửa
khẩu chỉ phát huy được khi quan hệ kinh tế – thương mại được hai nước
thực sự quan tâm và phát triển ở mức độ nhất định. Hơn nữa khi các quan
hệ này càng phát triển thì khu kinh tế cửa khẩu sẽ đóng vai trò là khu kinh
tế mở, cùng động lực kinh tế để kéo các khu vực xung quanh phát triển,
góp phần thúc đẩy nhanh hơn nữa quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ở các vùng núi phía Bắc Việt Nam nói riêng và cả nước nói chung. Tuy
nhiên, số lượng cửa khẩu và vùng địa lý được phép xây dựng khu kinh tế
cửa khẩu chung trên các tuyến biên giới đất liền của cả nước, cho đến nay
mới chỉ là 10 mặc dù hiện nay một số địa phương đang tiếp tục đề nghị
được Chính phủ cho phép xây dựng các khu kinh tế cửa khẩu.
Vùng Đông Bắc Việt Nam có 5 tỉnh giáp với Trung Quốc là :
Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang và Lào Cai. Và trong đó có 4
khu vực địa lý được Chính phủ chính thức cho phép xây dựng khu kinh tế
cửa khẩu, đó là khu kinh tế cửa khẩu ở các tỉnh Quảng Ninh, Lạng Sơn,
Cao Bằng và Lào Cai. Điểm đáng chú ý là, các khu kinh tế cửa khẩu biên
giới phía Bắc Việt Nam đều nằm ở vùng Đông Bắc và cũng là các khu kinh
tế cửa khẩu được xây dựng đầu tiên ở nước ta với tư cách là thí điểm một
mô hình kinh tế mới.
Bảng 1 : Các vùng địa lý biên giới Đông Bắc Việt Nam
được phát triển khu kinh tế cửa khẩu.
Khu
vực cửa
khẩu
Phạm vi hành chính các địa phương thuộc
Bằng
- Cửa khẩu quốc gia Tà Lùng và Xã Tà
Lùng- huyện Quảng Hà.
- Cửa khẩu Hùng Quốc và xã Hùng Quốc
huyện Trà Lĩnh.
- Cửa khẩu Sóc Giang và xã Sóc Hà- huyện
Quảng Hà.
Thủy Khẩu
Long Bảng-
Quảng Tây
Bình Mãng
4. Lào
Cai
- Cửa khẩu quốc tế Lào Cai gồm: phường
Lào Cai, Phố Mới, Cóc Lếu, Duyên Hải; xã
Vạn Hòa, thôn Lục Cẩu, xã Đông Tuyển (thị
xã Lào Cai), thôn Na Mo xã Bản Phiệt-
huyện Bảo Thắng.
- Cửa khẩu Mường Khương: gồm toàn bộ xã
Mường Khương.
Hà Khẩu-
Vân Nam-
Trung Quốc Kiều Dâu
Nguồn: Tổng hợp theo các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ,
từ năm 1996 đến nay.
* Việc hình thành các khu kinh tế cửa khẩu bao gồm bốn mục tiêu
- Một là phát triển kinh tế tại các địa bàn khu vực cửa khẩu trên cơ
sỏ khuyến khích, hỗ trợ, tạo điều kiện, tạo địa bàn thuận lợi để các doanh
nghiệp trong cả nước đầu tư kinh doanh trên địa bàn khu vực cửa khẩu; qua
đó tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương theo hướng
phát triển các ngành thương mại, dịch vụ, du lịch, công nghiệp
- Hai là nâng cao đời sống nhân dân taị các khu vực cửa khẩu và
các khu vực kề cận, góp phần nâng cao dân trí đông bào cùng biên thông
qua việc tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng và phát triển giao lưu kinh tế qua
các khu kinh tế cửa khẩu
- Ba là thực hiên chiến lược gắn việc giữ vững an ninh chín trị quốc
phòng, trật tư an toàn xã hội, chủ quyền quốc gia với việc phát triển kinh tế,
nâng cao đời sống và trình độ dân trí của nhân dân nhằm tạo thêm thế vững
mạnh về quốc phòng an ninh trên tuyến biên giới nói chung và trên địa bàn
các cửa khẩu nói riêng.
LuËn v¨n tèt nghiÖp
47
- Bốn là thực hiện tốt hơn việc điều hòa, phối hợp về quản lý Nhà
nước đối với khu kinh tế cửa khẩu; nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý
Nhà nước tại địa bàn.
Và sau giai đoạn thử nghiệm ngày 19/4/2001, Thủ tướng Chính phủ
đã ban hành quyết định 53/2001/QĐ_ TTg cho phép chính thức thực hiện
một số chính sách đối với khu kinh tế cửa khẩu biên giới.
2. Thực trạng về các khu kinh tế cửa khẩu vùng Đông Bắc .
2.1 Thực trạng các khu kinh tế cửa khẩu vùng Đông Bắc
2.1.1 Khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái
Ngày 18/9/1996 Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định 675-TTg
cho “áp dụng thí điểm một số chính sách tại khu vực cửa khẩu Móng Cái”.
nhanh. Hiện nay, đã có hai cửa hàng miễn thuế tại cửa khẩu Bắc Luân và
một điểm bán hàng tại cảng Vạn Gia đã được đưa vào hoạt động. Bốn kho
ngoại quan và kho chờ xuất.
- Xuất nhập cảnh và du lịch: Từ ngày thành lập cho đến tháng
11/1998, đã có trên 73 nghìn lượt người Trung Quốc vào Quảng Ninh bằng
giấy thông hành xuất nhập cảnh. Trong đó chủ yếu là khách du lịch (chiếm
98%) và một số người nhập cảnh với mục đích tìm hiểu kinh doanh. So với
thời kỳ 1994-1995, con số này tăng 4,8 lần. Khách du lịch Trung Quốc vào
Việt nam nhìn chung thực hiện tốt các quy định của Nhà nước về nhập
cảnh, xuất cảnh, cư trú, đi lại, cho đến nay tại địa bàn Móng Cái chưa có
trường hợp nào đáng tiếc xảy ra. Thực tế cho thấy khách đi tham quan, du
lịch bằng giấy thông hành được quản lý chặt chẽ hơn so với đi bằng hộ
chiếu. Số lượng khách lữ hành năm 1997 tăng 37.350 lượt người (195%);
năm 1998 so với năm 1997 tăng 3 981 lượt người (8,5%). Doanh thu từ du
lịch lữ hành năm 1998 tăng gấp 2 lần năm 1997. Vào năm 2002 tổng số
khách du lịch đạt 2,34 triệu lượt khách, tăng 18,9% so với cùng kỳ trong
đó: khách quốc tế 921,2 nghìn lượt khách (chiếm 39% tổng số khách) tăng
35,6%; khách lưu trú ước đạt 954,4 ngàn lượt khách, tăng 27,2% so với
cùng kỳ trong đó: khách quốc tế 564,5 ngàn lượt khách, tăng 74,1% tổng
doanh thu du lịch ước đạt 7 64,1 tỷ đồng, tăng 50,4%. Năm 2003 tổng số
khách du lịch đạt 2,78 triệu lượt khách tăng 19% so với năm 2002, năm
LuËn v¨n tèt nghiÖp
49
2004 tổng số khách du lịch đạt 3,34 triệu lượt khách tăng trên 20% so với
năm 2003.
- Thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước: Trên địa bàn khu cửa
khẩu Móng Cái hiện có trên 10 dự án được cấp phép với tổng số vốn đầu tư
80 triệu USD. Trong đó có 2 dự án được cấp phép từ trước, và trên 7 dự án
360 USD lên 472 USD vào năm 2002. Tỷ lệ người nghèo giảm từ 17%
xuống còn 11%.
Chúng ta có thể khẳng định rằng Móng Cái là một trong những cửa
khẩu quốc tế quan trọng nhất trên biên giới phía Bắc Việt Nam trong việc
giao lưu với Trung Quốc và các nước khác trong khu vực. Đặc biệt, Móng
Cái tiếp giáp với thị xã Đông Hưng là khu kinh tế mở của tỉnh Quảng Tây,
Trung Quốc. Khu kinh tế này đang được xây dựng thành một thành phố
lớn, hiện đại, đa chức năng và được xác định là cửa ngõ để Trung Quốc đi
vào thị trường Đông Nam Á.
Móng Cái có hệ thống đường bộ, đường biển giao lưu trong nước và
quốc tế thuận lợi. Vùng ven biển có thể xây dựng các cảng nhỏ, (cả cảng du
lịch và cảng thương mại) Mũi Ngọc, Thọ Xuân. Đặc biệt cảng Vạn Gia là
cảng chuyển tải xuất nhập khẩu giữa hai nước Việt-Trung qua khu vực này.
Móng Cái đã có 1 sân bay nhỏ có thể nâng cấp để phục vụ việc đi lại
bằng hàng không. Nhiều công trình hạ tầng quan trọng như hệ thống thông
tin viễn thông, lưới điện 110 kv, đường 18A nối với thành phố Hạ Long,
cảng biển Vạn Gia, chợ, khách sạn, trung tâm hội chợ triển lãm, công viên
đã được đầu tư nâng cấp.
Móng Cái có bãi biển Trà Cổ nổi tiếng với bãi cát phẳng, chạy dài
17km. Khu du lịch Trà Cổ, Vĩnh Thực gắn với quần thể du lịch Hạ Long-
Bái Tử Long càng tạo ra sức hấp dẫn mạnh mẽ. Trong quy hoạch tổng thể
phát triển khu vực Móng Cái được phân thành 3 chức năng: khu thương
mại quốc tế, khu du lịch và khu công nghiệp.
Với những lợi thế của mình, Móng Cái là khu vực cửa khẩu giàu
tiềm năng. Nhằm đưa Móng Cái thành địa bàn có sức thu hút nhà đầu tư,
doanh nghiệp trong và ngoài nước.
LuËn v¨n tèt nghiÖp
51
52
khu vực Đồng Đăng, Hữu Nghị, Tân Thanh” và “Qui chế phối hợp tạm thời
quản lý khách XNC qua ba cửa khẩu và quản lý hoạt động của người nước
ngoài trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn” : Hướng dẫn người Trung Quốc và người
nước ngoài khác nhập cảnh và tạm trú tại khu vực thí điểm; cấp giấy phép
cho người Trung Quốc vào các địa điểm khác trong tỉnh; Cấp giấy thông
hành cho người Việt Nam sang huyện biên giới của Trung Quốc; quản lý
người qua lại các cặp chợ tại khu vực cửa khẩu Tân Thanh. Quyết định số
468/UB ngày 18/4/1998 của UBND tỉnh qui định việc thu và sử dụng phụ
phí du lịch để đầu tư phát triển du lịch trên địa bàn; chỉ định Công ty Du
lịch- XNC làm đầu mối đưa đón khách bằng thẻ du lịch, vv Hoạt động du
lịch tăng nhanh, bình quân tăng từ 13-18%/năm về lượng khách. Doanh thu
du lịch tăng khá, bình quân 15%/năm, lượng khách du lịch năm 2000 đến
Lạng Sơn trên 180.00 lượt người, trong đó riêng khách quốc tế đã lên đến
hơn 60.000 lượt người. Năm 2004 lượng khách du lịch đến Lạng Sơn ước
đạt khoảng 301.800 người đây là một con số đáng khích lệ. Kể từ khi
Quyết định số 53/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành vào ngày
19/4/2001 đã tạo đà cho sự phát triển khu kinh tế cửa khẩu Lạng Sơn ngày
một mạnh mẽ hơn.
- Về thương mại- xuất nhập khẩu (XNK): Công tác xuất nhập khẩu đã
có sự tăng trưởng khá, đến nay đã có hơn 350 doanh nghiệp trong cả nước
tham gia hoạt động thương mại, xuất nhập khẩu qua khu vực cửa khẩu biên
giới của Lạng Sơn trong khi năm 1996 có 240 doanh nghiệp trong cả nước
thực hiện xuất nhập khẩu qua Lạng Sơn, năm 1998 là 268 và năm 1999 là
300 doanh nghiệp. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu 4 năm đạt 1.400 triệu
USD. Điều đáng chú ý là hoạt động ngoại thương qua khu vực cửa khẩu
Lạng Sơn luôn suất siêu, các sản phẩm thuộc nhóm hàng nông-lâm hải sản,
thủ công mỹ nghệ là chủ yếu, tạo điều kiện cho sản xuất chế biến phát
xây dựng cơ sở hạ tầng, dịch vụ phục vụ cho công tác xuất nhập khẩu và
các hoạt động thương mại trên địa bàn. Trong hơn sáu năm tính từ khi
thành lập khu kinh tế cửa khẩu, tổng số vốn được đầu tư trở lại cho khu
kinh tế cửa khẩu hơn 1000 tỷ đồng.
LuËn v¨n tèt nghiÖp
54
- Về xây dựng cơ sở hạ tầng: Cho đến tháng 1 năm 2000, đã triển
khai thực hiện giá trị khối lượng hoàn thành là 150,830 tỷ đồng; đã bàn
giao đưa vào sử dụng 54 dự án được phê duyệt với tổng đầu tư là 292,201
tỷ đồng. Trong đó, dự án giao thông có 15 hạng mục với số vốn 138,6 tỷ
đồng; dự án điện nước có 10 hạng mục với số vốn 36,4 tỷ đồng; dự án giáo
dục y tế có 5 hạng mục, với số vốn 24,8 tỷ đồng; các công trình công cộng
và quản lý nhà nước có 24 hạng mục với số vốn 92,5 tỷ đồng. Các cơ sở
vật chất được xây dựng nhanh, quy hoạch được xây dựng và xét duyệt kỹ,
từ đó các tuyến đường giao thông được xăy dựng và mở rộng, nâng cấp tốt
hơn, hệ thống đường nội thị ở cửa khẩu được xây dựng cơ bản hoàn thành,
hệ thống cấp, thoát nước được xây dựng, điện chiếu sáng, thông tin liên lạc
được đảm bảo, nhiều khách sạnm khu thương mại, nhà nghỉ và các cơ sở
dịch vụ khác được xây dựng mới, đảm bảo điều kiện phục vụ tốt hơn. Đã
chú trọng tập trung ưu tiên một được số dự án đầu tư phục vụ đảm bảo
quốc phòng an ninh khu vực và các dự án kết hợp kinh tế với quốc phòng.
Một số khu du lịch cũng được khôi phục hoặc đầu tư xây dựng mở rộng
nhe: khu du lịch Mẫu Sơn-thuộc xã biên giới huyện Lộc Bình, nằm trên độ
cao 1200m so với mặt nước biển, khu du lịch thắng cảnh Tam-Nhị Thanh,
thành nhà Mạc, và nhiều cơ sở dịch vụ du lịch khác ở Đồng Đăng, Hữu
Nghị v.v…
Các tuyến Quốc lộ trên địa bàn đã được xây dựng:
+ Quốc lộ 1A: là tuyến Quốc lộ xuyên Việt, từ cửa khẩu Hữu Nghị
túc trong thời gian qua. Trong thời gian gần đây nếu được Chính phủ cho
phép Lạng Sơn tiếp tục thực hiện các chính sách đã được ban hành với sự
điều chỉnh bổ sung cho thích hợp với tình hình thực tế thì trong vòng vài
năm trước mắt bộ mặt khu vực cửa khẩu biên giới sẽ có sự thay đổi cơ bản
theo chiều hướng tạo điều kiện cho sự hội nhập của nước ta với khu vực và
thế giới, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện, nền kinh tế tỉnh phát
triển lên một trình độ mới vững chắc.
Tuy nhiên để có thể có những bước tiến như trên đòi hỏi sự nỗ lực
hơn nữa của các cấp các ngành địa phương để có thể khắc phục được một
số những hạn chế còn tồn tại sau:
LuËn v¨n tèt nghiÖp
56
- Sự điều hòa phối hợp chính sách chưa được đồng bộ, chưa thực sự
thông thoáng. Các chính sách về XNC, XNK, quản lý thu đổi tiền tại các
khu vực biên giới chưa được điều chỉnh kịp thời; chưa mạnh dạn phân cấp
cho địa phương tự quyết định đầu tư trong XDCB; chưa giải quyết được
việc cấp hóa đơn thu thuế cho lưu thông hàng hoá nhập theo Quy chế chợ
biên giới Việt – Trung.
- Các chính sách còn chưa thể hiện được sự ưu tiên đặc biệt đối với
khu vực kinh tế cửa khẩu. Ngoài chính sách về tài chính, hầu hết vẫn thực
hiên theo các qui định chung của cả nước.
- Ta chưa có một cơ quan thống nhất quản lý điều hành các hoạt
động giao lưu kinh tế với Trung Quốc; chưa có tổ chức nghiên cứu thị
trường một cách đầy đủ, kịp thời nắm những thông tin cần thiết để có đối
sách phù hợp.
- Các sản phẩm du lịch của tỉnh còn đơn giản, chưa tương xứng với
tiềm năng vốn có của địa phương nên chưa có sức lôi cuốn du khách lưu
lại. Công tác khảo sát thiết kế một số công trình chưa sát với thực tế nên
Với tinh thần trên tỉnh Cao Bằng đã có những thành tựu về phát
triển kinh tế như: Tốc độ tăng trưởng GDP đã tăng rõ rệt; cơ cấu kinh tế
chuyển dịch theo hướng ngày càng hợp lý; công nghiệp tăng mạnh trong
thời gian gần đây, nông nghiệp đã có xu hướng giảm dần, dịch vụ tăng ở
mức hợp lý. Đặc biệt là hoạt động xuất khẩu chính ngạch tăng mạnh, năm
2003 tổng giá trị xuất khẩu đạt 39 triệu USD, thì năm 2004 đã đạt tói 40,75
triệu USD,. Năm 2003 thu thuế xuất nhập khẩu được 49,01 tỉ đồng, năm
2004 được 59,9 tỉ đồng, tăng 22% so với năm 2003. Trong đó thu ngân
sách Nhà nước trên địa bàn 2 khu vực kinh tế cửa khẩu đạt trên 38,9 tỉ đồng
chiếm 65% tổng số thu thuế xuất nhập khẩu năm 2004. Và trong những
năm gần đây tỉ lệ tăng nay không những không giảm mà còn có xu hướng
tăng mạnh hơn.Điều đó càng khẳn định rõ hơn sự đúng đắn và phù hợp của
chính sách áp dụng tại khu vực kinh tế cửa khẩu.
Bên cạnh những mặt làm được vẫn còn có một số mặt chưa được
làm tốt như: