Luận văn tốt nghiệp " Thực trạng khu kinh tế cửa khẩu hiện nay và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế Đông Bắc " phần 3 - Pdf 19

LuËn v¨n tèt nghiÖp

65

Các khu kinh tế cửa khẩu sau thời gian thí điểm đã góp phần từng
bước thực hiện tương đối có kết quả việc kiểm tra, kiểm soát, xử lý, hạn
chế, ngăn ngừa các hoạt động buôn lậu, làm ăn phi pháp tại địa bàn khu
kinh tế cửa khẩu. Thực tế tại địa bàn các khu kinh tế cửa khẩu tại Quảng
Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai cho thấy, việc áp dụng các cơ chế khu
kinh tế cửa khẩu đã làm tăng thêm công việc thuộc quản lý theo chức năng
của các lực lượng, đơn vị chuyên trách tại các khu kinh tế cửa khẩu (như
lượng người qua lại nhiều hơn, hàng hoá qua lại nhiều hơn, thời gian làm
việc tăng lên), nhưng các lực lượng làm nhiệm vụ tại các khu kinh tế cửa
khẩu vẫn đảm đương được công việc theo yêu cầu. Đồng thời sự phối hợp
giữa các lực lượng, đơn vị đó cũng tiến triển được một số bước quan trọng.
2.2.2.Những mặt hạn chế còn tồn tại:
Việc thu hút đầu tư còn hạn chế, các nhà kinh doanh trong nước tại
các địa phương ngoài vùng biên giới, các nhà đầu tư nước ngoài còn chưa
mạnh dạn đầu tư vào các khu kinh tế cửa khẩu. Do các nhà đầu tư chưa
mạnh dạn đầu tư vào các khu kinh tế cửa khẩu, vì thế, tăng trưởng tại các
khu kinh tế cửa khẩu thực chất vẫn là nguồn hàng hoá ở các địa bàn thông
qua khu kinh tế cửa khẩu. Vì vậy, tăng trưởng của các khu kinh tế chưa
mang tính bền vững.
Về chức năng khu kinh tế cửa khẩu chưa phát huy được các nội
dung về sản xuất công nghiệp. Về mặt chức năng khu kinh tế cửa khẩu, các
Quyết định đều chú ý đến phát triển công nghiệp. Tuy nhiên, trên thực tế,
chức năng này chưa được phát huy do còn thiếu những điều kiện cần thiết
như nguồn nhân lực, lao động được đào tạo.
Việc phân công, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng quản
lý Nhà nước đối với khu kinh tế cửa khẩu còn chưa được qui định đầy đủ
rõ ràng và thực hiên nghiêm chỉnh. Cho tới nay, ở Trung ương chưa có cơ

doanh muốn có xác nhận hải quan phải đưa hàng đến các cửa khẩu có lực
lượng hải quan để làm các thủ tục hải quan, do vậy rất tốn kém về thời
gian, chi phí vận chuyển, giao dịch… Vấn đề đặt ra là, một mặt lực lượng
hải quan không thể có mặt ở tất cả các cửa khẩu; mặt khác, doanh nghiệp,
LuËn v¨n tèt nghiÖp

67

hộ kinh doanh mong muốn được mua bán, trao đổi hàng hoá ở địa điểm
thuận lợi, ít tốn kém nhất cho mình.
Vấn đề thanh toán biên mậu mới chỉ được tiến hành ở giai đoạn thí
điểm trong buôn bán biên giới và các cửa khẩu phần lớn chưa có hoạt động
của ngân hàng; việc các đồng tiền của Việt Nam cũng như của các nước
láng giềng còn chưa phải là đồng tiền chuyển đổi đang làm cho việc thanh
toán của các doanh nghiệp, các chủ hàng còn bị thả nổi, chịu nhiều rủi ro.
Trong những năm qua, việc thanh toán tiền tệ trong giao lưu giữa các
doanh nghiệp, chủ hàng Việt Nam với các đối tác của nước láng giềng qua
các khu kinh tế cửa khẩu chủ yếu theo phương thức dùng tiền mặt, không
qua tổ chức ngân hàng nào. Việc lưu thông một lượng tiền mặt lớn đã đặt
doanh nghiệp, chủ hàng Việt Nam vào tình trạng rất bất ổn. Thứ nhất, phải
vận chuyển một lượng tiền mặt lớn, rất dễ nảy sinh rủi ro, thiếu an toàn.
Thứ hai, việc trao đổi hàng hoá và dịch vụ để thu về các đồng tiền của các
nước láng giềng là điều rất không thuận lợi cho giao dịch của các doanh
nghiệp và các chủ hàng, vì các đồng tiền đó đều là loại chưa tự do chuyển
đổi được. Thứ ba, nếu các doanh nghiệp chuyển đổi đồng tiền của nước
láng giềng ra ngoại tệ mạnh thì lại nảy sinh vấn đề bị ép về tỷ giá. Thứ tư,
việc đổi đồng Việt Nam ra đồng tiền nước láng giềng và ngược lại, cho tới
nay vẫn chưa có sự tham gia, quản lý của hệ thống ngân hàng, gây nhiều
bất cập cho doanh nghiệp, chủ hàng. Giao dịch tiền tệ tại các khu kinh tế
cửa khẩu được tiến hành dưới các thể thức "phi hình thức", trong đó các tổ

Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, do vậy mức độ ưu đãi không thể
vượt quá những quy định tại các văn bản luật, Pháp lệnh, Nghị định hiện
hành, do đó có những vấn đề tồn tại phải chờ sửa đổi, bổ sung của các văn
bản pháp luật này.
- Bộ máy quản lý từ Trung ương đến địa phương chưa có những điều
chỉnh đồng bộ phù hợp để thực hiện việc quản lý Nhà nước đối với các khu
kinh tế cửa khẩu được trải dài trên vành đai biên giới. Chưa có một cơ quan
trung ương đứng ra để điều hoà, phối hợp các vấn đề cần triển khai cũng
LuËn v¨n tèt nghiÖp

69

như để nghiên cứu, xử lý các vấn đề nảy sinh. Việc triển khai hướng dẫn
thực hiện của các cơ quan Trung ương còn chậm so với yêu cầu. Các cơ
quan thuộc ngành dọc cũng chưa có cơ chế phối hợp đầy đủ với các cơ
quan địa phương, do đó khi gặp những bất cập thướng lúng túng, chậm
khắc phục.
- Cán bộ quản lý tại các khu kinh tế cửa khẩu còn thiếu và chưa
được chuẩn bị đầy đủ, kịp thời để đáp ứng những yêu cầu nảy sinh trong
quá trình triển khai thực hiện. Về cơ bản, cán bộ quản lý tại các khu kinh tế
cửa khẩu là các lực lượng tại chỗ từ trước khi có Quyết định của Thủ
tướng chính phủ về các khu kinh tế cửa khẩu. Do đó, sau khi các quyết
định của Thủ tướng Chính phủ về các khu KTCK đi vào thực hiện, công
việc tăng lên, yêu cầu đòi hỏi cao lên. Vì vây, cán bộ quản lý tại các khu
KTCK gặp phải những khó khăn không dễ khắc phục ngay được. LuËn v¨n tèt nghiÖp

70

LuËn v¨n tèt nghiÖp

71

Với quan điểm mở rộng giao lưu kinh tế như vậy chúng ta đã có
được những thành tựu không nhỏ trong thời gian qua. Để tăng cường đẩy
mạnh giao lưu kinh tế, đặc biệt là tại các cửa khẩu biên giới Đảng và Nhà
nước đã Quyết định thành lập các khu kinh tế cửa khẩu để thực hiện thí
điểm các chính sách. Đây là mô hình đã được thực hiện thành công ở một
số nước và trong thời gian qua với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước sự
phát triển của các khu kinh tế cửa khẩu ngày càng mạnh mẽ. Sự quan tâm
được thể hiên qua các quyết định, các thông tư và một số các văn bản của
các cấp các ngành nhằm chỉ đạo việc thực hiện các chính sách theo quan
điểm của Đảng và Nhà nước. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết
định số 53/2001/QĐ-TTg ngày 19/4/2001 về chính sách đầu tư đối với khu
kinh tế cửa khẩu biên giới. Theo đó, ngoài quyền được hưởng ưu đãi theo
qui định hiện hành, các nhà đầu tư trong và ngoài nước còn được hưởng.
- Các hoạt động kinh doanh: xuất nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, vận
chuyển hàng hoá quá cảnh, kho ngoại quan, cửa hàng miễn thuế hội trợ
triển lãm, cửa hàng giới thiệu sản phẩm, sản xuất, gia công hàng xuất khẩu,
chi nhánh đại diện, chợ cửa khẩu, dịch vụ-du lịch, đầu tư cơ sở hạ tầng
- Các nhà đầu tư được phép chuyển nhượng quyền sử dụng đất và
công trình kiến trúc theo đúng mục đích sử dụng đất đã được phê duyệt,
được vay vốn ưu đãi của Nhà nước để đầu tư xây dựng cơ sở kinh doanh,
được hưởng các ưu đãi về buôn bán biên giới, theo qui định.
- Áp dụng thuế suất, thuế xuất khẩu hiện hành ở mức thấp nhất đối
với những mặt hàng được sản xuất trong khu vực phải chịu thuế.
- Giảm 50% giá thuê đất và mặt nước so với mức hiện hành
- Mức thuế thu nhập doanh nghiệp thấp nhất (10%) trong suốt thời
hạn thực hiện dự án đầu tư; được miễn thuế thương mại doanh nghiệp trong

trước hết cần chú trọng vào các ngành công nghiệp làm tăng giá trị nông –
lâm sản, không gây tổn hại đến môi trường.
- Phát triển những ngành công nghiệp khai thác sử dụng tổng hợp
và có hiệu quả các nguồn tài nguyên khoáng sản.
LuËn v¨n tèt nghiÖp

73

- Lựa chọn cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên cơ sở kết hợp nông – lâm
nghiệp, đảm bảo nền kinh tế phát triển có gia tốc, tức là bố trí tập đoàn cây
trồng, vật nuôi phù hợp với môi trường sinh thái.
Xây dựng cơ cấu kinh tế theo nguyên tắc linh hoạt, có hiệu quả, đa
dạng hoá sản phẩm phù hợp với nhu cầu của thị trường trong nước và xuất
khẩu. Đồng thời theo hướng đa dạng hoá và khai thác hiệu quả các thế
mạnh, tiềm năng của các thành phần kinh tế.
- Lấy hiệu quả kinh tế xã hội và môi trường làm tiêu chuẩn
- Huy động mọi nguồn lực, mọi lực tiềm ẩn vào quá trình tăng
trưởng kinh tế.
- Đa dạng hoác các thành phần kinh tế phù hợp cói từng ngành,
từng lĩnh vực, từng khâu, từng địa bàn lãnh thổ, trong đó kinh tế Nhà nước
là chỉ đạo.
Quy hoạch phát triển vùng Đông Bắc phải rất coi trọng kết hợp giữa
trước mắt và lâu dài, yêu cầu hiệu quả bền vững.
- Kết hợp giữa đầu tư phát triển trọng điểm, tạo đột phá và tạo điều
kiện thúc đẩy sự phát triển tự lực của mỗi lãnh thổ.
- Kết hợp giữa công nghiệp qui mô nhỏ, vừa và lớn, ưu tiên qui mô
vừa và nhỏ.
- Kết hợp giữa các trình độ công nghệ khác nhau, phổ biến là công
nghiệp trung bình, tranh thủ công nghệ tiên tiến hiện đại.
- Kết hợp phát triển cây ngắn ngày, cây dài ngày, kết hợp giữa trồng

bảo và tăng cường an ninh quốc phòng.
Phát triển du lịch, khai thác hải sản kết hợp với các lực lượng bảo
vệ vững chắc an ninh, quốc phòng và chủ quyền quốc gia cả trên đất liền
và trên biển, hải đảo.
3. Phương hướng và mục tiêu phát triển các khu kinh tế cửa khẩu vùng
Đông Bắc.
3.1 Định hướng phát triển khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái (Quảng Ninh)
Móng Cái thuộc huyện Hải Ninh – tỉnh Quảng Ninh. Phía bắc giáp
thị trấn Đông Hưng tỉnh Quảng Tây Trung Quốc, phía nam giáp biển có
LuËn v¨n tèt nghiÖp

75

cảng biển Vạn Gia có thể đón tàu 5000 đến 7000 tấn. Thị trấn Móng Cái
cách Hồng Gai 175 km, cách Hà Nội 340 km (theo đường bộ).
Lợi thế quan trọng nhất của Móng Cái là: có cửa khẩu quốc tế. Cửa
khẩu Móng Cái thông thương với thị trường rộng lớn (riêng 2 tỉnh Quảng
Đông và Quảng Tây của Trung Quốc đã có hơn 100 triệu dân).
Móng Cái tiếp cận với khu khai phát Đông Hưng, là khu phố kinh
tế mở của tỉnh Quảng Tây Trung Quốc. Khu vực này đang được xây dựng
hình thành một thành phố hiện đại, đa chức năng, nhằm tạo đà phát triển
ảnh hưởng tới khu vực Đông Nam Á.
Móng Cái có điều kiện giao lưu thuận tiện với các tỉnh Bắc Bộ và
có bãi biển Trà Cổ dài 17 km. Gắn liền với quần thể Vịnh Hạ Long và Bái
Tử Long: không khí thoáng mát có thể phát triển thành trung tâm du lịch;
với nhiều hình thức du lịch khác nhau có tính hấp dẫn và thu hút khách
quốc tế đặc biệt là khách du lịch Trung Quốc.
Với vị trí đặc biệt như vậy, nên đề án quy hoạch xây dựng Khu kinh
tế cửa khẩu Móng Cái đã được Chính phủ cho triển khai với quy mô phát
triển dự kiến theo 2 giai đoạn.

chuyển khẩu ra nước ngoài và nhập khẩu vào Việt Nam. Văn phòng Đại
diện các cơ quan kinh doanh trong nước và quốc tế. Dự kiến năm 2000 có
khoảng 100 cơ sở đại diện trong đó khoảng 25- 30 đại diện quốc tế. Văn
phòng bộ máy quản lý, hải quan, thuế vụ; công an, cửa khẩu biên phòng,
kiểm dịch và các cơ quan phục vụ sản xuất như: Ngân hàng, bưu điện, văn
hóa nghệ thuật.
Khu du lịch dịch vụ Trà Cổ
Khu này gồm: hệ thống khách sạn, nhà nghỉ xây dựng dọc theo bờ
biển Trà Cổ, cùng với hệ thống cửa hàng, cửa hiệu, khu thể thao vui chơi
giải trí, vườn hoa công viên… Hình thành kiến trúc đa dạng, kết hợp kiến
trúc dân tộc và hiện đại, đáp ứng yêu cầu của một khu du lịch hiện đại
trong tương lai.
Khu công nghiệp
Khu công nghiệp được bố trí phía tây sông Ka Long thuộc xã Ninh
Dương. Khu vực này là vùng đồi thoải dãn ra biển, không có vật kiến trúc
kiên cố, rất ít nhà dân thích hợp cho mặt bằng của một khu công nghiệp.
Mặt khác, khu vực này là rất thuận tiện cho việc tiếp nhận và chuyển giao
hàng hoá, thiết bị bằng đường biển phía cảng Vạn Gia và sông Ka Long.
LuËn v¨n tèt nghiÖp

77

Bằng đường bộ từ Hồng gai qua khu vực này sang Trung Quốc và ngược
lại. Trong khu công nghiệp bố trí các xí nghiệp gia công, chế biến, lắp ráp
các mặt hàng xuất khẩu vùng với các cụm dân cư và các công trình dịch vụ
công cộng
Khu hành chính và dân cư
Trung tâm hành chính khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái, bố trí ở khu
vực phía nam thị trấn Móng Cái hiện nay, gồm trụ sở và nơi làm việc của
các cơ quan quản lý Nhà nước. Khu dân cư được bố trí tập trung dọc theo 2

Trên địa bàn kinh tế đô thị Đồng Đăng – Lạng Sơn có các cửa khẩu
quan trọng của nước ta như : cửa khẩu Quốc tế đường sắt - Đồng Đăng, cửa
khẩu Quốc tế đường bộ Hữu Nghị. Cửa khẩu Tân Thanh và Cóc Nam có
khối lượng hàng hoá trao đổi tiểu ngạch là rất lớn.
Thị xã Lạng Sơn và thị trấn Đồng Đăng được xây dựng cải tạo mở
rộng thành một thành phố hiện đại, với vai trò đô thị cửa ngõ biên giới phía
Bắc nước ta, nối đại lục Trung Quốc với Đông Nam Á, là đầu mối giữa hai
vùng lớn ở Châu Á. Thành phó này có đủ điều kiện kinh tế, văn hóa, an
ninh quốc phòng tương tác với các khu vực đang phát triển sôi động ở
Bằng Tường Trung Quốc. Trong đó có cơ sở vật chất theo tiêu chuẩn cửa
khẩu Quốc gia tại khu vực Tân Thanh.
Khu kinh tế Đồng Đăng – Lạng Sơn có tính chất như sau:
- Là cửa khẩu quan trọng của nước ta, mang ý nghĩa lớn về chính trị
ngoại giao, kinh tế, thương mại. v v…
- Là trung tâm thương mại du lịch
- Là khu công nghiệp tập trung và kho tàng
- Là khu du lịch nghỉ ngơi trong nước và quốc tế
- Có vị trí quan trọng về an ninh và quốc phòng
Các phương án bố cục không gian đô thị
Phương án 1: Không gian khu kinh tế đô thị được bố cục theo dạng
chuỗi…
- Công nghiệp và kho tàng tập trung chủ yếu ở Đồng Đăng và một
phần ở Lạng Sơn.
- Trung tâm thương mại ở Đồng Đăng và Lạng Sơn.
LuËn v¨n tèt nghiÖp

79

- Cửa khẩu Hữu Nghị và khu vực Tân Thanh chủ yếu xây dựng một
số cơ quan quản lý Nhà nước như biên phòng, hải quan, thuế vụ, kiểm dịch.

- Các trung tâm thương mại – dịch vụ: tại Đồng Đăng tổ chức một
trung tâm thương mại lớn gồm chợ Quốc tế, chợ giao dịch bán buôn, để các
tổ chức cá nhân trong nước và nước ngoài thuê địa điểm dể trưng bày và
giới thiệu sản phẩm, giao dịch đại lý mua bán hàng hóa. Tại Lạng Sơn, tổ
chức trung tâm văn hóa đại diện thương mại của các Công ty trong và
ngoài nước muốn kinh doanh trong khu vực; cần dành đất xây dựng một
trung tâm hội chợ triển lãm Quốc tế tổ chức định kỳ, một trung tâm giao
dịch và ngân hàng.
- Các khu công nghiệp và kho tàng: tại Đồng Đăng, bố trí một khu
công nghiệp tập trung bao gồm: công nghiệp gia công, lắp ráp, tái chế cơ
khí, điện tử; công nghiệp chế biến các mặt hàng xuất khẩu từ nông lâm sản;
các kho tàng đường bộ và đường sắt gồm các kho ngoại quan để tiếp nhận
và trung chuyển các loại hàng hoá nước ngoài với lượng lớn.
- Trung tâm hành chính: chủ yếu tập trung ở Lạng Sơn; tại Đồng
Đăng chỉ có các cơ quan hành chính thị trấn (sau này là thị xã) và 1 phần
cơ quan quản lý khu kinh tế đô thị Lạng Sơn-Đồng Đăng
- Trung tâm văn hóa giáo dục y tế: tại Lạng Sơn chủ yếu là cơ quan
chức năng phục vụ toàn tỉnh và phục vụ thị xã Lạng Sơn; các cơ quan phục
vụ khu kinh tế đô thị Lạng Sơn-Đồng Đăng được bố trí tại Đồng Đăng,
trong đó có trường đào tọa, trung tâm văn hóavà bệnh viện.
- Trung tâm du lịch: tổ chức các trung tâm du lịch trong khu vực,
phục vụ khách du lịch trogn và ngoài nước, khách vãng lai và nhân dân; du
lịch sinh thái tại rừng nguyên sinh Quốc gia và Quán Hồ; du lịch, nghỉ
dưỡng ở Quán Hồ, Mẫu Sơn; làng Nguyên Lốc các dân tộc tại quán Hồ;
làng du lịch văn hóac dân tộc và du lịch hang động tại khu nhất, nhị, Tam
Thanh Lạng Sơn; du lịch nghiên cứu ỏ Lạng Sơn.
- Hệ thống cửa khẩu được định hướng là:

Cửa khẩu Hữu Nghị
LuËn v¨n tèt nghiÖp

khống chế tối đa sự phát triển khu dân cư, ưu tiên dành đất cho phát triển
LuËn v¨n tèt nghiÖp

82

thương mại, dịch vụ cho bến bãi, kho tàng cho phục vụ hoạt động giao
thông xuất nhập cảnh, giải quyết tốt quy trình cửa khẩu.
Khu cửa khẩu có chức năng sau: khu quản lý Nhà nước và bến bãi
kho tàng giao thông kiểm soát xuất nhập cảnh; khu thương mại và trao đổi
mậu dịch; khu công nghiệp – dịch vụ- văn hóa – vui chơi…; khu đại diện
thương mại quốc tế; khu đại diện thương mại trong nước; khu dân cư (phố
chợ ở của cán bộ công nhân viên + thuê ở); khu di tích, danh thắng, và lâm
viên; khu quân sự và nhà máy nước.
Phương án II: Có sự đầu tư đột biến trong tương lai biến vùng này
thành một thương trường quốc tế lớn, phát triển thương mại và thị trường
tự do đến mức tối đa. Phương án này có cơ cáu phân khu chức năng như
phương án I nhưng khai thác đất đai trên đồi 117 một cách triệt để thu hẹp
diện tích cây xanh lâm viên, danh thắng và di tích, du lịch để sử dụng cho
thuê đất xây dựng công trình, cho nước ngoài đầu tư – biến khu cửa khẩu
thàn một thương trường tự do theo một cơ chế “ mở”. đây là phương án dự
phòng.
Phương án I được chọn làm phương án để quy hoạch chi tiết khu
kinh tế cửa khẩu. Nguyên tắc chính tổ chức không gian theo phương án I
được chọn là:
- Tạo một trục chính khu vực nhằm xây dựng các công trình chủ
đạo. Trục này là luồng giao thông chính của người du lịch, tham quan,
thương khách v.v Trục chính với không gian kiến trúc đa dạng, phong
phú, xây dựng tập trung, ưu tiên các công trình có vốn lớn (dịch vụ khách
sạn, đại diện quốc tế) có thể nhanh chóng tao được một bộ mặt cho khu
kinh tế cửa khẩu quốc gia và quốc tế.

không phù hợp với cơ cấu phân khu chức năng có thể chuyển đổi tính chất
và phân bố lại. Việc sử dụng đất trong xây dựng cần có sự tính toán cụ thể
hợp lý để phù hợp với từng loại hình kinh doanh.
- Kế hoạch khai thác và sử dụng đất đó là: ưu tiên dành đất cho
chức năng cửa khẩu, tận dụng các quỹ đất không thuận lợi (khu trũng,
thung lũng) để làm kho bãi hải quan, khai thác triệt để đất xây dựng tốt.
Lập kế hoạch để xây dựng kè chống lũ lụt và bảo vệ đất đồng thời thêm
được quỹ đất cho xây dựng, tăng thêm đất cho cây xanh vườn hoa và cảnh
quan ven sông.
- Tổ chức không gian quy hoạch kiến trúc: quan điểm về không
gian kiến trúc quy hoạch toàn khu với cảnh quan thiên nhiên sinh động và
LuËn v¨n tèt nghiÖp

84

hấp dẫn, tạo được điểm nhìn tốt từ nhiều phía, nhất là từ Hà Khẩu (Trung
Quốc) và Cố Lếu nhìn sang việc tổ chức không gian kiến trúc 3 chiều cũng
như bố trí các công trình kiến trúc ven bờ sông Hồng và sông Nậm Thi phải
được đặc biệt quan tâm. Đối với từng loại công trình kiến trúc, hình thức và
nội dung phải được kết hợp hài hòa, đẹp và sang trọng. Ngoài ra các công
trình của các khu vực trọng tâm, trọng điểm cũng như các công trình kiến
trúc quan trọng được bố trí ở vị trí thuận lợi và cần thiết phải có sự khang
trang và hiện đại.
- Các qui định khi thiết kế các công tình cụ thể: khi xây dựng từng
công trình cụ thể phải có thiết kế được các cấp có thẩm quyền về chuyên
môn xét duyệt. Các mẫu mã nhà ở phải được thiết kế, hướng dẫn tuân thủ
theo những quy định về mặt nhà, tầng cao, hình khối kiến trúc từng đoạn
phố, ô phố phải đồng nhất và mang tính dân tộc, hiện đại. Để phù hợp với
cảnh quan miền núi, cần khuyến khích và ưu tiên các kiểu nhà mái dốc, nên
hạn chế các kiểu nhà mái bằng. Các công trình công cộng, văn phòng đại

đến phát triển kinh tế UBND tỉnh Lào Cai đã phê duyệt Đề án phát triển
kinh tế cửa khẩu giai đoạn 2001-2005-2010 theo Quyết định số 50/QĐ-UB
ngày 18/12/2002. Nhằm đạt được một số mục tiêu cơ bản như sau:
- Quy hoạch xây dựng khu kinh tế cửa khẩu với phạm vi toàn bộ
các xã, phường thuộc thị xã Lào Cai, thôn Na Mo, xã Bản Phiệt, huyện Bảo
Thắng, xã Mường Khương và huyện Mường Khương với tổng diện tích
9.178 ha.
- Điều chỉnh Quy hoạch và đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho các
khu du lịch kinh tế cửa khẩu đặc biệt là khu cửa khẩu quốc tế Lào Cai, đảm
bảo yêu cầu phát triển kinh tế, thương mại, du lịch, dịch vụ cho trước mắt
và lâu dài, tương xứng với tầm cửa khẩu quốc tế văn minh hiện đại.
- Sắp xếp, củng cố tổ chức và đổi mới công tác quả lý tại các cửa
khẩu theo Quyết định số 53/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, tạo
điều kiện thuận lợi, thực sự thông thoáng, đúng pháp luật cho mọi thành
phần kinh tế đến đầu tư buôn bán, hoạt động dịch vụ, du lịch tại khu kinh tế
cửa khẩu tỉnh Lào Cai.
- Nhằm khai thác một cách tốt nhất những lợi thế của khu vực kinh
tế cửa khẩu; đưa kinh tế cửa khẩu thực sự là mũi nhọn, là động lực để phát
triển kinh tế địa phương.
LuËn v¨n tèt nghiÖp

86

- Xây dựng cơ sở vật chất khu kinh tế cửa khẩu đảm bảo đủ sức hấp
dẫn với các đối tác trong và ngoài nước đến đầu tư, buôn bán du lịch và
đảm bảo ổn định an ninh trật tự biên giới.
- Phấn đấu từ nay đến năm 2005 mỗi năm số thu từ khu kinh tế cửa
khẩu tăng 15-20% so với năm trước, năm 2005 đạt số thu từ kinh tế cửa
khẩu: 230-250 tỉ đồng Việt Nam từ năm 2006 trở đi mỗi năm số thu từ khu
kinh tế cửa khẩu đạt 300-400 tỷ đồng/ năm và chiếm từ 65-70% số thu

là ở các tỉnh biên giới. Với những lợi ích do các khu kinh tế cửa khẩu đem
lại là to lớn không chỉ về mặt kinh tế mà còn cả về mặt xã hội và nhiều lĩnh
vực khác. Song sự phát triển của các khu kinh tế cửa khẩu chưa đáp ứng
được nhu cầu giao lưu kinh tế của hai nước, nhất là đối với Việt Nam. Một
trong những nguyên nhân đó là do hai quốc gia còn có qua ít các hiệp định
kinh tế – thương mại song phương. Nội dung các hiệp định đã ký kết còn
hạn hẹp, gò bó, chưa đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của quan hệ hợp tác
hiện tại và trong tương lai. Hơn nữa, việc triển khai thực hiện các hiệp định
trên còn chậm.
Muốn phát triển các khu kinh tế cửa khẩu biên giới, chúng ta phải
xây dựng được các chủ trương, chính sách, kế hoạch cụ thể, và tất cả những
điều đó phải dựa trên cơ sở những hiệp định hợp tác ký kết giữa hai bên.
Mặc dù có những sự thay đổi tích cực trong các hoạt động thương mại giữa
hai nước nhưng vẫn ở tình trạng bấp bênh, không ổn định, lúc tăng lúc
giảm gây nhiều bất lợi cho ta. Nguyên nhân do hạn chế về ký kết và thực
hiện các hiệp định, mặt khác nguyên nhân này cũng làm cho các chính sách
kinh tế của nước ta với Trung Quốc thiếu linh hoạt, uyển chuyển, bổ sung
không kịp thời, các địa phương, doanh nghiệp thiếu tính chủ động trong
trao đổi buôn bán, dẫn đến “mất trật tự” trong quan hệ buôn bán qua biên
giới. Ngoài ra chính việc thiếu các hiệp định, khung pháp lý cần thiết cho
các hoạt động cũng là nguyên nhân sâu xa tác động làm cho việc đầu tư vào
các cơ sở hạ tầng còn kém xa so với đòi hỏi thực tế bởi chúng ta không
dám mạnh dạn đầu tư vào cơ sở hạ tầng.
Do đó giảp pháp tăng cường ký kết các hiệp định kinh tế giữa hai
bên là vô cùng quan trọng. Các hiệp định đó phải đảm bảo các nguyên tắc
LuËn v¨n tèt nghiÖp

88

cùng có lợi, không làm thiêt hại cho bên đối tác, phải tuân theo các tập

cửa khẩu. Cần có một chính sách cơ cấu mặt hàng phù hợp, cụ thể là, phải
có qui định danh mục những loại hàng hoá được phép kinh doanh, không
được phép kinh doanh hoặc hạn chế kinh doanh của khu kinh tế cửa khẩu.
- Cần có chính sách khuyến khích xuất khẩu tiểu ngạch hợp pháp,
vì thực chất thương mại tiểu ngạch là phương thức mua bán hàng hoá rất
linh hoạt, phong phú, thanh toán thuận lợi và hiện còn đang thích hợp với
trao đổi thương mại qua các khu kinh tế cửa khẩu cửa khẩu phía Bắc nước
ta.
- Có chính sách ưu tiên ưu đãi hợp lý để khuyến khích các địa
phương vùng biên giới tăng cường phát huy tính chủ động sáng tạo, linh
hoạt nhằm tân dụng các lợi thế so sánh của cá vùng trong quan hệ kinh tế –
thương mại. Muốn vậy phải mở rông, tăng cường quyền tự chủ của các địa
phương vùng biên giới có cửa khẩu về các khoản thu ngân sách, về đầu tư,
quản lý vốn, quyền về cấp hạn ngạch xuất khẩu …
Về chính sách dịch vụ, du lịch:
- Cần có các chính sách khuyến khích mở rộng, phát triển nhiều loại
hình dịch vụ qua khu kinh tế cửa khẩu như : dịch vụ tạm nhập, tái xuất,
dịch vụ quá cảnh, dịch vụ chuyển khẩu hàng hoá, dịch vụ giao nhận vận
chuyển hàng hoá quá cảnh cho nước láng giềng, dịch vụ kho ngoại quan và
cửa hàng miễn thuế. Các hình thức này phải đa dạng, thuận tiện, phù hợp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status