Trờng đại học nông nghiệp hà nội
Khoa kinh tế & pTNT
------- -------
Khoá luận tốt nghiệp
Thực trạng và giải pháp đầu t vốn phát
triển nông nghiệp ở huyện Yên khánh,
tỉnh ninh bình
Tên sinh viên
Chuyên ngành đào tạo
Lớp
Niên khoá
Giảng viên hớng dẫn
:
:
:
:
:
Vũ Thị Phợng
Kinh tế nông nghiệp
KTA K51
2006 2010
TS. Đinh Văn Đãn
Hà Nội 2010
Tôi đặc biệt cảm ơn chú Vũ Văn Toan (trưởng phòng Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn), cô Đinh Thị Nguyệt (chuyên viên phòng Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn) đã giúp đỡ, động viên và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn
thành khóa luận.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn tất cả các tập thể, cá nhân, bạn bè và
người thân đã quan tâm giúp đỡ, động viên và khích lệ tôi trong quá trình thực
hiện khóa luận tốt nghiệp.
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2010
Sinh viên
Vũ Thị Phượng
ii
TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Khóa luận đi sâu nghiên cứu tình hình đầu tư vốn cho phát triển nông nghiệp
của huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình. Hướng nghiên cứu chính của khóa luận là
tập trung tìm hiểu thực trạng đầu tư vốn cho phát triển nông nghiệp của huyện, từ
thực trạng đó đưa ra những giải pháp nhằm thu hút và nâng cao hiệu quả đầu tư vốn
cho phát triển nông nghiệp trên địa bàn huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình.
Để bước vào nghiên cứu thực tế, tác giả đã tìm hiểu và góp phần hệ thống cơ
sở lý luận về đầu tư và đầu tư vốn cho phát triển nông nghiệp huyện. Trong đó, các
khái niệm được tìm hiểu qua nhiều góc độ, cách nhìn nhận của nhiều nhà nghiên
cứu trước đây. Khóa luận bước đầu khái quát các khái niệm về đầu tư vốn, đầu tư
vốn trong nông nghiệp, khái niệm về vốn đầu tư. Đồng thời, khóa luận cũng nêu
lên các quan điểm về đầu tư vốn cho nông nghiệp, phân loại, vai trò của đầu tư đối
với phát triển nông nghiệp và một số kinh nghiệm đầu tư vốn cho phát triển nông
nghiệp của các nước trên thế giới.
Trong quá trình tiến hành, khóa luận sử dụng phương pháp thống kê mô tả
hiệu quả đầu tư vốn cho phát triển nông nghiệp: tăng tỷ lệ vốn đầu tư từ NSNN,
hoàn thiện và thực hiện tốt chính sách về đầu tư vốn trong nông nghiệp, đổi mới cơ
cấu vốn đầu tư, hoàn thiện phương pháp đầu tư trong nông nghiệp, tăng cường đầu
tư cho con người và đào tạo cán bộ nông nghiệp nông thôn, đẩy mạnh việc tích tụ
ruộng đất tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư phát triển nông nghiệp.
Do trình độ và thời gian có hạn nên đề tài chủ yếu dừng lại ở mô tả thực
trạng và những đánh giá định tính về đầu tư vốn phát triển nông nghiệp trong nền
kinh tế huyện, hướng nghiên cứu mở ra với khóa luận là đi sâu đánh giá các dự án,
chương trình đầu tư trong nông nghiệp theo dòng dự án, nếu có thể sẽ sử dụng
phương pháp đánh giá dự án theo dòng thời gian để định lượng chất lượng chương
trình đầu tư. Đồng thời, đi sâu tìm hiểu chi tiết vào một số chương trình đầu tư cho
nông nghiệp trên địa bàn huyện ví dụ như chương trình tín dụng ưu đãi cho người
nghèo, chương trình khuyến nông, chương trình đào tạo nghề, hỗ trợ giống cây
trồng, vật nuôi… Bên cạnh đó, nếu phát triển mở rộng, người nghiên cứu có thể
nghiên cứu sâu về “nông thôn mới“ theo đề án phát triển nông nghiệp của huyện
trong giai đoạn 2010 – 2020. Trong đó, các dự án đầu tư cho nông nghiệp được mở
rộng cả về qui mô và chất lượng với những tiêu chí mới nhằm nâng cao hiệu quả
đầu tư vốn cho nông nghiệp và cải thiện tình hình nông nghiệp trên địa bàn huyện.
iv
MỤC LỤC
Danh mục các từ viết tắt......................................................................................................x
TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………………….100
PHỤ LỤC…………………………………………………………………………….103
v
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ
Đồ thị 4.1 Vốn đầu tư cho nông nghiệp trong tổng vốn đầu tư giai đoạn 2005 - 2009........50
Đồ thị 4.2 Tỷ trọng vốn đầu tư cho nông nghiệp từ NSNN phân theo nội bộ ngành năm
2009......................................................................................................................................54
Đồ thị 4.3 Tỷ trọng vốn đầu tư từ NSNNchia theo các yếu tố phục vụ sản xuất năm 2009 56
Đồ thị 4.4 Tỷ trọng đầu tư của hộ gia đình trong nội bộ ngành nông nghiệp năm 2009.....62
..............................................................................................................................................64
Đồ thị 4.5 Tình hình cho vay phục vụ sản xuất nông nghiệp của các tổ chức chính thống
giai đoạn 2007 – 2009..........................................................................................................64
Đồ thị 4.6 Cơ cấu vốn đầu tư trong nội bộ ngành nông nghiệp giai đoạn 2010 – 2020......94
DANH MỤC CÁC HỘP
HỘP 4.1: Đầu tiên phải xây dựng CSHT vững chắc, hệ thống thủy lợi nội đồng kiên cố.
Đầu tư có trọng điểm............................................................................................................85
HỘP 4.2: Muốn phát triển thì phải có vốn. Nhưng thủ tục vay phức tạp.............................85
HỘP 4.3: Không có tư vấn thì vay thế chứ vay nữa cũng không có ý nghĩa gì...................85
HỘP 4.4: Luôn phải có vốn đối ứng của dân.......................................................................86
HỘP 4.5: Phải đẩy mạnh việc tích tụ đất, tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư nông nghiệp.86
vii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BVTV
Bảo vệ thực vật
BQ
KT – XH
Kinh tế - Xã hội
KHKT
Khoa học kỹ thuật
NN
Nông nghiệp
NN & PTNT
Nông nghiệp và phát triển nông thôn
NHNNO&PTNT
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
NHCSXH
Ngân hàng chính sách xã hội
NSNN
Ngân sách nhà nước
NTTS
Tr.đ
Triệu đồng
UBND
Uỷ ban nhân dân
viii
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội hiện nay, công nghiệp hóa – hiện
đại hóa đất nước là đòi hỏi tất yếu của các quốc gia đang phát triển trên thế giới và
phát triển một nền nông nghiệp vững mạnh và ổn định là không thể thiếu được. Việt
Nam là một nước nông nghiệp với gần 80% dân số sống ở nông thôn và nghề
nghiệp chủ yếu là làm nông nghiệp vì thế nông nghiệp có vai trò rất quan trọng đối
với nền kinh tế quốc dân, trước hết là nông nghiệp sản xuất và cung cấp các yếu tố
tối cần thiết cho xã hội loài người tồn tại và phát triển, cung cấp ngoại tệ thông qua
xuất khẩu, là thị trường tiêu thụ tư liệu sản xuất và tiêu dùng. Nông nghiệp có vai
trò to lớn và là cơ sở trong sự bền vững của môi trường. Những sản phẩm của
ngành nông nghiệp dù cho trình độ khoa học – công nghệ phát triển như hiện nay
cũng không thể có ngành nào thay thế được. Các sản phẩm nông nghiệp như lương
thực, thực phẩm là yếu tố đầu tiên có tính chất quyết định tới sự tồn tại và phát triển
của con người và sự phát triển kinh tế xã hội cũng như vấn đề về an ninh lương thực
và ổn định chính trị của mỗi quốc gia. Do đó để tiến hành công nghiệp hóa- hiện đại
hóa thành công trước tiên chúng ta phải đảm bảo an toàn về lương thực, thực phẩm
tức có một nền nông nghiệp phát triển.
- Góp phần hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn về đầu tư, đầu tư vốn cho phát
triển nông nghiệp.
- Đánh giá thực trạng đầu tư vốn phát triển nông nghiệp ở huyện Yên Khánh,
tỉnh Ninh Bình trong thời gian 5 năm từ năm 2005 đến năm 2009.
- Đề xuất giải pháp nhằm thu hút và nâng cao hiệu quả đầu tư vốn cho phát triển
nông nghiệp ở huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình trong thời gian sắp tới.
1.3 Đối tương, phạm vi nghiên cứu.
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: là các vấn đề kinh tế liên quan đến đầu tư vốn cho
phát triển nông nghiệp ở huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình.
Chủ thể nghiên cứu: đầu tư vốn, hoạt động đầu tư vốn trong nông nghiệp.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: nghiên cứu những vấn đề về kinh tế đầu tư vốn phát triển
nông nghiệp ở huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình từ đó đề xuất một số giải pháp cho
đầu tư vốn phát triển nông nghiệp ở huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình.
- Về không gian: đề tài được tiến hành nghiên cứu tại huyện Yên Khánh,
tỉnh Ninh Bình.
- Về thời gian:
+ Số liệu thứ cấp: Thu thập qua 5 năm từ 2005- 2009.
+ Số liệu sơ cấp: Điều tra, phỏng vấn năm 2010 để đánh giá thực trạng và dự
kiến, dự báo số liệu đến năm 2020 trong định hướng và giải pháp.
+ Thời gian thực tập từ 01/2010 đến 04/2010.
2
PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số khái niệm
2.1.1.2 Khái niệm về vốn đầu tư trong nông nghiệp
Vốn là nguồn lực hạn chế đối với các ngành kinh tế nói chung và đối với sản
xuất nông nghiệp nói riêng. Vốn sản xuất vận động không ngừng từ phạm vi lưu
thông và trở về với sản xuất.
C.Mác đã khẳng định: “Như vậy vốn là giá trị ứng ra lúc ban đầu không
những được bảo toàn trong lưu thông mà còn thay đổi đại lượng của nó, còn cộng
thêm một giá trị thặng dư, hay đã tự tăng thêm giá trị. Chính sự vận động ấy biến nó
thành tư bản”. (C.Mác và Ăngghen,1994)
C.Mác đã chỉ rõ bản chất và chức năng của tư bản (vốn) trong phát triển kinh
tế. Bản chất của tư bản là giá trị, chức năng của tư bản là sinh lời. Tuy nhiên, để giá
trị trở thành tư bản và tư bản sinh lời phải trải qua sự vận động. Nghĩa là tư bản phải
có mặt trong lưu thông, tham gia vào quá trình sản xuất. Thông qua sự vận động, tư
bản sinh sôi nảy nở và lớn lên không ngừng.
Ngày nay, do yêu cầu của sự phát triển, vốn là một yếu tố quan trọng không
thể thiếu được với tất cả các quốc gia đã và đang phát triển. Phạm trù vốn vẫn được các
nhà kinh tế học quan tâm nghiên cứu và tiếp cận nó trên nhiều khía cạnh khác nhau.
Dưới góc độ tài chính, trong tác phẩm “Chú giải thuật ngữ Kế toán Mỹ”, tác
giả Hồ Văn Mộc và Điêu Quốc Tín cho rằng, vốn là “tổng số tiền biểu hiện nguồn
gốc hình thành của tài sản được đầu tư trong kinh doanh để tạo ra thu nhập và lợi
tức”. (Hồ Văn Mộc, Điêu Quốc Tín, 1994)
Dưới góc độ tài sản, trong quyển “Dictionary of Economic” của Penguin
Reference do Phạm Đăng Bình và Nguyễn Văn Lập dịch đưa ra khái niệm “Vốn là
những tài sản có khả năng tạo ra thu nhập và bản thân nó cũng được cái khác tạo
ra”. (Phenguin Reence, 1995).
Ở Việt Nam, trong “Từ điển tiếng Việt” của Viện ngôn ngữ học chỉ ra rằng:
“Vốn là tiền của bỏ ra lúc đầu, dùng trong SXKD, nhằm mục tiêu sinh lợi”. (Viện
ngôn ngữ học, 2000).
Như vậy, vốn sẽ bao gồm bất cứ thứ gì đưa lại một “luồng thu nhập qua thời
gian”, “sự phát triển có thể coi như là một quá trình khái quát của sự tích lũy vốn”.
giữ hay dùng trong sinh hoạt hằng ngày không phải là vốn.
Thứ hai, vốn là hàng hóa
Trong nền kinh tế thị trường, vốn được coi là hàng hóa. Muốn phát triển SXKD
đòi hỏi phải có vốn đầu tư. Nhu cầu vốn đầu tư được coi là cơ sở phát sinh quan hệ
cung- cầu về vốn trên thị trường. Như vậy, vốn hiển nhiên là đối tượng trao đổi, mua
5
bán trên thị trường vốn. Với tư cách là hàng hóa, vốn có hai thuộc tính: giá trị và giá trị
sử dụng, có chủ sở hữu và là một trong những yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất.
Thứ ba, vốn là hàng hóa đặc biệt
Tính đặc biệt của hàng hóa vốn thể hiện ở chỗ: vốn có khả năng sinh lời. Với
tư cách là hàng hóa, quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn tách rời nhau. Đặc
điểm này của vốn không có ở các loại hàng hóa thông thường. Chủ sở hữu vốn sẽ
nhận được một khoản lợi tức (giá bán hay lãi suất quyền sử dụng vốn) khi bán
quyền sử dụng vốn cho người mua (các nhà đầu tư). Nhà đầu tư khi mua quyền sử
dụng vốn phải bỏ ra một khoản gọi là chi phí (giá mua quyền sử dụng vốn) trả cho
chủ sở hữu và nhận về mình quyền sử dụng vốn. Nhờ có sự tách rời giữa quyền sở
hữu và quyền sử dụng vốn làm cho vốn trở nên linh hoạt trong lưu thông và sinh lời.
Thứ tư, vốn có quan hệ mật thiết với thời gian
C.Mác viết: “tiền chỉ được đem nhượng lại với hai điều kiện: một là, nó sẽ
quay trở lại điểm xuất phát sau một kỳ hạn nhất định; hai là nó sẽ quay trở lại điểm
đó với tư cách là tư bản đã thực hiện, nghĩa là sau khi đã thực hiện được các giá trị
sử dụng của nó, thực hiện được các khả năng của nó là sản xuất ra giá trị thặng dư”
Như vậy, chủ sở hữu vốn nhượng lại quyền sử dụng vốn cho nhà đầu tư trong
một khoảng thời gian nhất định. Sau khi vốn trải qua chu kỳ vận động, nó quay về tay
chủ sở hữu với một lượng giá trị lớn hơn. Lượng giá trị lớn hơn đó là lợi tức của chủ sở
hữu vốn hay lãi suất phải trả của nhà đầu tư khi sử dụng vốn. Mức lãi suất được tính
bằng tỷ lệ phần trăm so với thời gian (tháng, năm, quý…), phù hợp với nền kinh tế thị
Chi nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ KHKT
Theo phương thức đầu tư, đầu tư trong nông nghiệp bao gồm đầu tư trực
tiếp và đầu tư gián tiếp thông qua các phương thức sau:
− Đầu tư trực tiếp bằng NSNN để khuyến khích phát triển những sản phẩm
nông nghiệp có ý nghĩa sống còn đối với quốc gia như cây lương thực, cây xuất
khẩu, cây đặc sản có giá trị cao. Vốn đầu tư sẽ được sử dụng để chuyển giao công
nghệ mới, áp dụng kỹ thuật tiên tiến hoặc giống mới có năng suất và chất lượng
cao, phục vụ sản xuất nông nghiệp. Đối tượng đầu tư theo nội dung này là hệ thống
trạm trại nghiên cứu thực nghiệm và triển khai như giống, thủy nông, bảo vệ thực
vật, cải tạo đất…
− Đầu tư gián tiếp thông qua tín dụng phát triển nông thôn với lãi suất ưu đãi.
Nhà nước dành một phần vốn ngân sách, một phần vốn đi vay cung cấp cho các đối
tượng SXKD nông nghiệp và kinh tế nông thôn với mục tiêu hỗ trợ cho hộ sản xuất
thông qua hệ thống NHNN0& PTNT, NHCSXH.
− Đầu tư xây dựng CSHT nông thôn như thủy lợi, giao thông, điện, chợ, thông
tin liên lạc, kho tàng bến bãi…tùy theo khả năng ngân sách, Nhà nước đầu tư toàn
bộ hoặc nhà nước và nhân dân cùng làm để xây dựng và hoàn thiện CSHT nông
thôn và sản xuất nông nghiệp có điều kiện mở rộng và tăng hiệu quả.
− Đầu tư qua giá mua vật tư và bán nông sản của hộ sản xuất cũng là phương
thức được nhiều nước áp dụng. Hộ sản xuất nông nghiệp được mua vật tư, xăng dầu
7
phục vụ sản xuất với giá ổn định và thấp, được bán nông sản hàng hóa và sản phẩm
ngành nghề dịch vụ ở nông thôn với giá cao và ổn định. Nhà nước bù lỗ phần chênh
lệch giữa giá thị trường với giá thu mua hoặc giá bán của Nhà nước cho hộ sản xuất.
Theo nguồn hình thành vốn đầu tư được hình thành từ hai nguồn: đầu tư
trong nước và đầu tư nước ngoài.
lũy của các doanh nghiệp kinh doanh, các HTX. Theo ước tính của Bộ Kế hoạch –
Đầu tư, tiết kiệm trong dân cư và các doanh nghiệp dân doanh chiếm bình quân
khoảng 15% GDP, trong giai đoạn 2001 - 2005 vốn đầu tư của dân cư và tư nhân
chiếm khoảng 26% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Cho đến nay, nguồn vốn này có xu
hướng chiếm tỷ trọng ngày càng cao. Trong đầu tư nông nghiệp, nguồn vốn từ dân
cư và tư nhân được hình thành thông qua tiết kiệm của các hộ gia đình, các HTX
nông nghiệp. Đây là một nguồn vốn quan trọng trong phát triển ngành nông nghiệp
thông qua đầu tư trực tiếp sản xuất nông nghiệp hoặc kinh doanh các sản phẩm liên
quan đến nông nghiệp. Vốn huy động từ dân cư được hình thành thông qua vốn huy
động từ các hộ nông dân thông qua sản xuất kinh tế hộ hoặc trang trại.
- Nguồn vốn từ ngoài nước: bao gồm vốn hợp tác, liên doanh, liên kết, vốn vay
và vốn viện trợ…. Vốn nước ngoài đầu tư vào các ngành kinh tế nói chung, nông
nghiệp nông thôn nói riêng dước nhiều hình thức: vốn hợp tác liên minh, liên kết,
vốn vay và vốn viện trợ. Các hình thức vốn vay và vốn viện trợ phần lớn được bổ
sung vào nguồn vốn ngân sách đầu tư dưới hình thức gián tiếp. Phần nguồn vốn còn
lại được đầu tư dưới hình thức trực tiếp qua hợp tác, liên doanh, liên kết. Đối với
nhiều nước trong đó có Việt Nam, nguồn vốn bên ngoài đóng vai trò hết sức quan
trọng trong phát triển nông nghiệp. Cùng với sự phát triển mối quan hệ hợp tác kinh
tế với nước ngoài ngày càng được mở rộng, nông nghiệp nước ta ngày càng có điều
kiện huy động được nhiều nguồn vốn nước ngoài đầu tư vào SXKD. Trên cơ sở
Luật đầu tư đã ban hành và bổ sung, vốn đầu tư nước ngoài được đầu tư kinh doanh
theo hai hình thức:
+ Các công ty nước ngoài đầu tư 100% vốn vào sản xuất phát triển nông
nghiệp hay một lĩnh vực nào đó trong kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn. Hình
thức này hiện còn hạn chế do phía nước ngoài chưa mạnh dạn đầu tư tuy phía Nhà
nước ta đang có những thay đổi theo hướng khuyến khích.
+ Các công ty nước ngoài góp vốn liên doanh, hợp tác với các doanh nghiệp
trong nước cùng kinh doanh sản xuất nông nghiệp dưới các hình thức: hai bên cùng
kinh doanh theo Luật định dưới hình thức các công ty cổ phần, các liên doanh sản
xuất (ngành chè, ngành cao su,… là một trong những ví dụ), các công ty nước ngoài
vụ của sản xuất nông nghiệp làm cho sự tuần hoàn và luân chuyển vốn chậm chạp,
sự cần thiết phải dự trữ đáng kể trong thời gian tương đối dài vốn lưu động (giống,
thức ăn, gia súc, phân bón…) làm cho vốn ứ đọng. Vì vậy, yêu cầu vốn cho nông
nghiệp thường tập trung một lượng lớn vào những thời điểm nhất định.
10
Chu kỳ sản xuất dài và tính thời vụ trong nông nghiệp một mặt làm cho sự
tuần hoàn và luân chuyển chậm chạp, kéo dài thời gian thu hồi vốn cố định, tạo ra
sự cần thiết và khả năng tập trung hóa cao về phương tiện kỹ thuật trên một lao
động nông nghiệp so với công nghiệp.
Một bộ phận sản xuất nông nghiệp không qua lĩnh vực lưu thông mà được
chuyển trực tiếp làm tư liệu sản xuất cho bản thân ngành nông nghiệp, do vậy vòng
tuần hoàn vốn sản xuất được chia thành vòng tuần hoàn đầy đủ và không đầy đủ.
Vòng tuần hoàn không đầy đủ là vòng tuần hoàn của một bộ phận vốn không được
thực hiện ngoài thị trường mà được tiêu dùng trong nội bộ ngành nông nghiệp khi
vốn lưu động được khôi phục trong hình thái hiện vật của chúng. Vòng tuần hoàn
vốn đầy đủ yêu cầu vốn lưu động phải trải qua tất cả các giai đoạn, trong đó có giai
đoạn tiêu thụ sản phẩm.
Đặc trưng nổi trội nhất của đầu tư trong nông nghiệp đó là nó đòi hỏi một
lượng vốn đầu tư khá lớn, có độ rủi ro cao nhưng tỷ suất sinh lợi nhuận lại thấp hơn
rất nhiều so với các ngành, các lĩnh vực khác. Chính đặc trưng này làm cho sức thu
hút vốn đầu tư vào nông nghiệp kém hơn rất nhiều so với các ngành khác trong nền
kinh tế quốc dân. Do đó, nguồn vốn đầu tư qua ngân sách, nguồn vốn đầu tư tín
dụng ưu đãi có vai trò rất quan trọng.
Tóm lại, hoạt động đầu tư trong nông nghiệp có những nét riêng, chính vì
những nét này mà các nhà đầu tư thường không muốn bỏ vốn của mình đầu tư vào
ngành nông nghiệp, hoặc có thì cũng rất ít. Do vậy, để thúc đẩy nền nông nghiệp
phát triển đòi hỏi Nhà nước phải có những chính sách khuyến khích, hỗ trợ đầu tư
của nền kinh tế) của các công cuộc đầu tư đòi hỏi một thời gian khá dài mới có thể
phát huy tác dụng. Do vậy, đầu tư có tính chất lâu dài và nó sẽ làm cho đường tổng
cung dài hạn của nền kinh tế tăng lên. Khi tăng đầu tư, sản lượng cân bằng tăng, tỷ
lệ thất nghiệp giảm do có công ăn việc làm được tạo ra. Tuy nhiên khi tăng đầu tư
cũng làm mức giá tăng, tốc độ lạm phát tăng ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế.
Khi giảm đầu tư thì sản lượng, tỷ lệ thất nghiệp tăng nhưng giá ổn định.
Qua sự phân tích trên ta thấy rằng, đầu tư ảnh hưởng mạnh tới cả tổng cung
và tổng cầu. Song việc tăng giảm đầu tư đều có mặt lợi hại nhất định do đó tùy
thuộc vào điều kiện của nền kinh tế mà có những chính sách kinh tế thích hợp để
điều tiết nền kinh tế. Nhưng cơ bản xét về mặt cầu thì đầu tư tiêu thụ một khối
12
lượng hàng hóa và dịch vụ cho nền kinh tế, còn đứng về mặt cung thì nó làm cho
sản xuất gia tăng, giá cả giảm, tạo công ăn, việc làm và làm tăng thu nhập từ đó
kích thích tiêu dùng. Mà sản xuất phát triển chính là nguồn gốc của phát triển kinh
tế xã hội, là điều kiện để cải thiện đời sống con người. Như vậy, đầu tư là nhân tố
cho sự tăng trưởng và phát triển của một nền kinh tế.
b)
Đầu tư tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triển nền kinh tế
Học thuyết kinh tế hiện đại đã nghiên cứu và giải đáp thành công quan hệ
nhân quả giữa đầu tư và phát triển kinh tế. Học thuyết khẳng định: đầu tư là chìa khóa
của tăng trưởng kinh tế. Qua phân tích các nhà kinh tế học đã rút ra rằng giữa đàu tư
và tăng trưởng có mối quan hệ tỉ lệ. Mối quan hệ này thể hiện qua hệ số ICOR
ICOR = ΔI / ΔGDP
Trong đó:
Trong nông nghiệp cũng nên đầu tư nhiều hơn cho chăn nuôi bởi chăn nuôi
thường có tỷ lệ tăng trưởng mạnh hơn trồng trọt.
Còn đối với cơ cấu vùng lãnh thổ một quốc gia phát triển thường có cơ cấu
kinh tế lãnh thổ cân đối và đồng đều giữa các vùng trong cả nước. Do vậy, bên cạnh
việc đầu tư trọng điểm để phát triển thành thị và các vùng đồng bằng chúng ta cũng
cần có chính sách để đầu tư phát triển kinh tế các vùng núi và nông thôn để vừa
phát triển kinh tế xã hội vừa tạo ra sự cân bằng ổn định trong nước.
d) Đầu tư góp phần nâng cao trình độ khoa học công nghệ
Ta biết rằng khoa học công nghệ là trung tâm của đời sống kinh tế xã hội
hiện đại. Một đất nước, một quốc gia chỉ phát triển được khi có khoa học công nghệ
tiên tiến và hiện đại. Ở các nước phát triển, họ có mức đầu tư lớn, có quá trình phát
triển lâu dài nên trình độ khoa học công nghệ của họ hơn hẳn các nước khác trên thế
giới. Khi họ áp dụng các thành tựu này làm cho nền kinh tế có mức độ tăng trưởng
mạnh mẽ, đời sống nhân dân nâng cao. Còn đối với các nước đang phát triển, do
công nghệ nghèo nàn, lạc hậu lại không có điều kiện để nghiên cứu phát triển khoa
học kỹ thuật nên nền kinh tế phát triển rất thấp, sản xuất kém phát triển và bị phụ
thuộc vào các nước công nghiệp. Muốn thoát khỏi tình trạng này thì các nước phải
tăng cường đầu tư và tìm cách thu hút đầu tư từ bên ngoài vào trong nền kinh tế.
Đầu tư ở đây được hiểu là các nước này thu hút công nghệ hiện đại bên ngoài phù
hợp đồng thời tổ chức nghiên cứu để phát minh ra các công nghệ mới hiện đại hơn.
Quá trình CNH – HĐH của các nước này có thành công hay không phụ thuộc rất
nhiều vào việc đầu tư phát triển khoa học công nghệ. Có thể khẳng định rằng, đầu
tư khoa học công nghệ là một chính sách cực kỳ quan trọng trong quá trình phát
triển kinh tế xã hội.
14
Ngoài các vai trò chính yếu trên, đầu tư còn có một vài vai trò khác như làm
tăng ngân sách nhà nước, góp phần ổn định đất nước, mở rộng ảnh hưởng của
- Thứ ba: coi tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả đầu tư vốn là do quy luật kinh tế cơ
bản quy định.
Trên thực tế chúng ta thường hay sử dụng quan điểm thứ nhất vì nó cho phép
đánh giá hiệu quả đầu tư vốn một cách cụ thể và dễ tính toán nhất.
Ngành nông nghiệp do có những đặc điểm cũng như do đầu tư trong nông
nghiệp có các đặc trưng riêng nên trong nông nghiệp người ta có thể sử dụng các
chỉ tiêu hiệu quả sau:
Mức tăng của giá trị sản xuất so với toàn bộ vốn đầu tư phát triển
phát huy tác dụng trong kỳ nghiên cứu (ký hiệu: Hlv(GO))
Chỉ tiêu này được xác định bằng cách so sánh giữa mức tăng của giá trị sản
xuất với toàn bộ vốn đầu tư trong kỳ nghiên cứu của ngành trong địa phương:
H lv(GO)= ΔGO/IVPHTD
Trong đó:
∆ GO: giá trị sản xuất tăng thêm trong kỳ nghiên cứu của ngành, địa phương,
vùng và của toàn bộ nền kinh tế.
IVPHTD: vốn đầu tư phát huy tác dụng trong kỳ nghiên cứu của ngành trong
toàn bộ địa phương.
Công thức này được sử dụng để tính hiệu quả kinh tế của đầu tư ở cấp độ
ngành ở địa phương hoặc toàn bộ nền kinh tế. Nó cho biết 1 đơn vị vốn đầu tư phát
huy tác dụng trong kỳ nghiên cứu đã tạo ra được bao nhiêu đơn vị mức tăng của giá
trị sản xuất trong kỳ nghiên cứu cho các ngành, địa phương.
Mức tăng của giá trị tăng thêm so với toàn bộ vốn đầu tư phát