TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
--------- --------
LÊ THỊ NỤ
TỔ CHỨC TRÒ CHƠI HỌC TẬP TRONG
DẠY HỌC CÁC LOẠI BÀI MỞ RỘNG
VỐN TỪ Ở LỚP 2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
HÀ NỘI, 2016
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
--------- --------
LÊ THỊ NỤ
TỔ CHỨC TRÒ CHƠI HỌC TẬP TRONG
DẠY HỌC CÁC LOẠI BÀI MỞ RỘNG
VỐN TỪ Ở LỚP 2
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học tiếng Việt
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thu Hương
HÀ NỘI, 2016
SGK: Sách giáo khoa
NXBGD: Nhà xuất bản Giáo dục
LTVC: Luyện từ và câu
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chúng ta đang sống trong những thập niên đầu thế kỉ XXI, thế kỉ của những
tiến bộ vượt bậc về tất cả các mặt, từ đời sống xã hội cho đến văn hóa và công
nghệ. Thế kỉ của những con người tài giỏi và có những năng lực chuyên môn
thực sự, tự chủ và sáng tạo. Do đó mà ở trên thế giới nói chung và ở Việt Nam
nói riêng, giáo dục đang là mối quan tâm hàng đầu của xã hội, đặc biệt là Giáo
dục Tiểu học. Tiểu học là bậc học nền tảng, hình thành những cơ sở ban đầu cho
học sinh phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ và kĩ năng,
đặt nền móng vững chắc cho những bậc học tiếp theo, đồng thời hình thành
những đường nét cơ bản của nhân cách để học sinh đạt được những tri thức, kĩ
năng và hành vi nhất định để xây dựng con người tốt xã hội chủ nghĩa. Đảng và
nhà nước ta đã xác định: Thế hệ trẻ là mầm móng tương lai của đất nước. Cũng
như Bác Hồ đã dạy: “Non sông Việt Nam ta có trở nên vẻ vang hay không, dân
tộc Việt Nam có sánh vai cùng các cường quốc năm châu hay không chính là nhờ
một phần lớn công học tập của các cháu”. Vì vậy giáo viên Tiểu học phải nhận
thức rõ nhiệm vụ quan trọng của mình là làm sao nâng cao chất lượng học tập
của học sinh Tiểu học. Muốn làm được điều này, chúng ta cần tiến hành đồng bộ
những vấn đề của ngành giáo dục, phải có nội dung và phương pháp thích hợp.
Vậy sử dụng phương pháp dạy học như thế nào để phát huy được tối đa tính tích
cực, chủ động, sáng tạo của học sinh là một vấn đề đáng quan tâm.
Như chúng ta đã biết con người muốn có tư duy phải có ngôn ngữ. Ngôn
Trong các phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động
của học sinh như: phương pháp dạy học dự án, phương pháp trò chơi học tập,
phương pháp nêu và giải quyết vấn đề… thì phương pháp trò chơi học tập là
phương pháp gây được nhiều hứng thú nhất cho các em. Đối với học sinh tiểu
8
học, lứa tuổi vừa học vừa chơi, hiếu động, chóng chán, vấn đề tạo nên hứng thú
học tập cho các em là rất quan trọng. Trò chơi tác động toàn diện đến trẻ em vì
nó dễ dàng thâm nhập vào xúc cảm, tình cảm thúc đẩy mọi hành động của trẻ.
Vận dụng trò chơi học tập trong quá trình dạy học là rất cần thiết, thực
hiện được quan điểm mà nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa ra:
“ Mỗi ngày đến trường là một ngày vui”. Trò chơi là hoạt động góp phần làm
cho học sinh hứng thú, ham thích học tập tạo không khí phấn khởi, kích thích
tư duy sáng tạo.
Trên thực tế, người giáo viên tiểu học phần lớn mới chỉ chú ý đến việc bằng
mọi cách cung cấp hết kiến thức trong sách giáo khoa mà ít quan tâm đến thái
độ, cảm xúc của các em, chính vì vậy nhiều tiết học đã trở nên nặng nề, mệt mỏi
đối với học sinh. Nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi áp lực đòi hỏi từ phía xã
hội, gia đình, nhà trường lên đứa trẻ ngày càng lớn, thì ngày càng xuất hiện
những học sinh sợ mà học chứ không phải thích mà học. Để khắc phục được
nhược điểm này, nhiều giáo viên đã sử dụng phương pháp trò chơi học tập nhằm
nâng cao hứng thú học tập của học sinh, để việc học tập trở nên nhẹ nhàng hơn
và hiệu quả hơn.Tuy nhiên do các trò chơi còn thiếu tính hấp dẫn, còn rời rạc
từng trò chơi cho từng bài học mà chưa có tính hệ thống và chưa có tổ chức thích
hợp nên chưa đạt được hiệu quả dạy học như mong muốn.
Xuất phát từ những lí do trên chúng tôi chọn đề tài: “Tổ chức trò chơi học
tập trong dạy học các loại bài mở rộng vốn từ ở lớp 2”
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Đây không phải là vấn đề mới mẻ, vào thế kỉ XIX- đầu thế kỉ XX đã có
của tác giả Trần Mạnh Hưởng. Ở phần này tác giả tập trung trả lời những câu hỏi
liên quan đến phương pháp dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học theo tinh thần đổi
mới hiện nay.
+ Trong đó tác giả đã đề cập đến những vấn đề xoay quanh các vấn đề về
cấu tạo từ và trường nghĩa qua các câu hỏi và câu trả lời trong phân môn Luyện
-
từ và câu.
Lê Hồng Mai – Mở rộng vốn từ qua ô chữ lớp 2, 3, 4, 5. Mở rộng vốn từ qua ô
chữ lớp 2 bao gồm hệ thống các ô chữ giúp học sinh củng cố kiến thức từ và câu,
mở rộng vốn từ theo chủ điểm của nội dung chương trình SGK Tiếng Việt lớp 2.
10
-
Trần Mạnh Hưởng- Vui học Tiếng Việt tập 1, tập 2… nhằm cung cấp những trò
chơi, những bài tập vui và nhẹ nhàng về tiếng Việt theo yêu cầu kiến thức và kĩ
-
năng sử dụng tiếng Việt ở bậc Tiểu học.
Các tác giả Trần Mạnh Hưởng ( chủ biên), Nguyễn Thị Hạnh, Lê Phương Nga
khi biên soạn tài liệu việc sử dụng trò chơi học tập trong môn Tiếng Việt lớp 2, 3
đã chú ý tới trò chơi cụ thể thích hợp với từng phân môn tuy nhiên tác giả không
-
đi sâu vào từng địa bàn đối tượng học sinh để có gợi ý sử dụng trò chơi hợp lý.
Do thời gian có hạn nên phạm vi nghiên cứu chỉ dừng lại ở tổ chức trò chơi
trong phân môn Luyện từ và câu với các bài mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 2.
7. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện tốt các nhiệm vụ đề ra đạt được mục tiêu nghiên cứu thì không
thể thiếu được các phương pháp nghiên cứu. Có rất nhiều phương pháp trong
nghiên cứu khoa học thường được áp dụng, với vấn đề này chúng tôi đã sử dụng
các phương pháp:
+ Phương pháp nghiên cứu tổng hợp các vấn đề lý luận.
+ Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
+ Phương pháp thực nghiệm.
+ Phương pháp thống kê.
+ Phương pháp điều tra.
8. Bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận khóa luận gồm ba chương:
Chương I
Cơ sở lí luận và thực tiễn.
Chương II: Tổ chức trò chơi học tập trong dạy học mở rộng vốn từ ở lớp
2.
Chương III: Thực nghiệm sư phạm
12
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Để đảm bảo khả năng thực thi cũng như tính có hiệu quả, tính thuyết
phục của hệ thống trò chơi được đưa ra trong khóa luận, chương này trình bày
thêm chức năng biểu hiện.
a. Nhóm chức năng miêu tả: gồm có chức năng biểu vật, chức năng biểu niệm
và chức năng biểu hiện
•
Chức năng biểu vật là chức năng biểu thị các sự vật, hiện tượng, hoạt động, trạng
thái của thế giới khách quan.
VD: Nhà, xe, sách, vở, đi, chạy, nhảy, chua, ngọt, mặn,…
Chức năng biểu vật gồm có hai loại là chức năng định danh và chức năng
dẫn xuất miêu tả.
Chức năng định danh (gọi tên): Cách gọi tên theo lối tổng hợp tính. Đó là
cách gán một hình thức âm thanh cho sự vật, hiện tượng mà không có lý do,
không cần giải thích lý do. Ở các tên gọi, sự vật, hiện tượng hiện ra trực tiếp
trong tổng thể của nó chứ không thông qua các đặc điểm. Giống như Lênin viết:
“Gọi tên? Nhưng gọi tên là ngẫu nhiên và không biểu thị bản chất của sự vật”.
VD: Nhà, xe, sách, vở, đi, chạy, nhảy, chua, ngọt, mặn,…
Chức năng dẫn xuất: là đưa ra, dẫn ra các thuộc tính, các đặc điểm hay các
quan hệ của các sự vật, hiện tượng. Đây là cách gọi tên có lý do, có thể giải
thích. Chính vì vậy dẫn xuất miểu tả bao giờ cũng làm cho từ luôn mới mẻ, hấp
dẫn hơn chức năng định danh tổng hợp tính.
VD1: Đã, đang, sẽ,… dẫn xuất các tình thái của hoạt động.
Và, cùng, với, của, vì, do…dẫn xuất của các quan hệ.
VD2:
14
Người anh hùng áo vải chính là tên gọi theo lối miêu tả của vua Quang
•
người nói với người nghe trong giao tiếp của từ. Đây là những từ rỗng về thông
tin nhưng lại có giá trị về giao tiếp nhằm duy trì mạch giao tiếp, làm giao tiếp
không bị gián đoạn.
VD: bẩm, thưa, à, ừ, này, nói chung, rõ chưa, thế à, nói trộm vía,…
•
Chức năng hiệu lệnh là chức năng của các từ nhằm hướng vào người nghe để
thực hiện một chức năng nào đó.
15
VD: hãy, đừng, chớ, cấm, phải, nên, cần…+ các từ đi kèm: nhỉ, nhé, rằng, đi…
c. Nhóm chức năng liên hệ với bản thân hệ thống ngôn ngữ
•
Chức năng liên kết là chức năng của từ nhằm liên kết các thành phần câu, các
câu trong đoạn, các đoạn trong văn bản.
VD: và, cùng, để,song, hay, nhưng, hoặc, vì thế…cho,tuy…nhưng,…
•
Chức năng định phong cách là chức năng xác định về mặt phong cách của từ.
VD1: à, ư, nhỉ, nhé, hử, hỏi…thuộc phong cachsinh hoạt hàng ngày.
VD2: chiếu theo, quyết định, điều 1, điều 2,…thuộc phong cách hành
chính- công vụ.
VD3: dòng điện, điện trở, công suất, dữ liệu, trang web,…
Như vậy nhóm chức năng miêu tả và nhóm chức năng liên quan đến người
dùng là những nhóm chức năng hướng ngoại (tức là chúng liên hệ với các yêu tố
ngoài ngôn ngữ. Hoàn cảnh giao tiếp, đối tượng giao tiếp, mục đích giao tiếp,
+ Dụng cụ để chia, cắt: dao, cưa, búa, rìu, liềm…
+ Dụng cụ để xoi, đục: đục, dùi, chàng, khoan…
+ Dụng cụ mài giũa: giũa, bào, đá mài, giấy ráp...
Sự phân lập từ vựng thành trường biểu vật và trường biểu niệm dựa trên sự
phân biệt hai thành phần ngữ nghĩa trong từ. Nó phản ánh hai cách nhìn từ vựng
ở hai góc độ khác nhau. Tuy nhiên, hai loại trường nghĩa này có liên hệ với nhau:
Nếu lấy những nét nghĩa biểu vật trong cấu trúc biểu niệm làm tiêu chí lớn để tập
hợp thì chúng ta có các trường biểu vật. Ngược lại, nếu cần phân biệt một
19
trường biểu vật thành các trường nhỏ thì lại phải dựa vào các nét nghĩa khác
trong cấu trúc biểu niệm:
Cả trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm đều thuộc loại trường
nghĩa dọc.
- Trường nghĩa tuyến tính (còn gọi là trường nghĩa ngang):
Để lập nên các trường nghĩa tuyến tính, chúng ta chọn một từ làm gốc rồi
tìm tất cả những từ có thể kết hợp với nó thành những chuỗi tuyến tính (cụm từ,
câu) chấp nhận được trong ngôn ngữ. Ví dụ, trường nghĩa tuyến tính của từ đi là
nhanh, chậm, tập tễnh, khập khiễng, ra, vào, lên, xuống, giày, dép, găng, tất v.v...
Như vậy, các từ trong cùng một trường tuyến tính là những từ thường xuất
hiện với từ trung tâm trong các loại ngôn bản. Các từ cùng nằm trong một trường
tuyến tính có quan hệ với nhau không chỉ về phương diện nội dung mà còn cả về
phương diện ngữ pháp.
- Trường liên tưởng là tập hợp bao gồm những từ cùng nằm trong trường
biểu vật, trường biểu niệm và trường tuyến tính, tức là những từ có quan hệ cấu
trúc đồng nhất và đối lập về ngữ nghĩa với từ trung tâm. Trong trường liên
tưởng còn có nhiều từ khác được liên tưởng tới do xuất hiện đồng thời với từ
trung tâm trong những ngữ cảnh có chủ điểm tương đối đồng nhất, lặp đi lặp lại.
Ý nghĩa biểu vật của những từ trong trường liên tưởng có thể giống nhau,
Luật chơi của trò chơi học tập.
Trò chơi học tập có luật chơi rõ ràng, đơn giản, dễ nhớ, dễ thực hiện, không
đòi hỏi thời gian dài cho việc huấn luyện.
Ý thức được tác dụng to lớn của trò chơi học tập đối với việc giáo dục trẻ
em. Các nhà giáo dục, các nhà tâm lý đã có những công trình nghiên cứu bổ ích
21
về lĩnh vực này như: A.X. Makarenko – Nhà giáo dục vĩ đại, L. X. xlavina, K.D.
Usinxki, N. X. Lukin…
Trên tinh thần đó “ học mà chơi, chơi mà học” là một quan điểm đúng đắn
trong quá trình hướng dẫn và tổ chức chơi cho các em. Trò chơi học tập vừa chú
trọng mục đích giải trí nhưng quan trọng hơn là phát triển tư duy cho học sinh.
1.1.2.2. Vai trò của trò chơi học tập
Vui chơi chiếm vị trí đáng kể trong đời sống của các em, đặc biệt giai đoạn
đầu bậc Tiểu học. Thông qua trò chơi trẻ dần hoàn thiện các thuộc tính tâm lý,
nhân cách, trí tuệ và cả thể lực cũng được nâng lên. Có nghĩa là trẻ em “ lớn” lên
trong vui chơi.
Khi chơi trẻ được hoạt động, được nhận thức hiện thực khách quan một
cách cụ thể và để trả lời kích thích biến đổi thực tiễn. trong lúc chơi: Hình
thành cho trẻ các khả năng quan sát, óc phán đoán, suy luận; phối hợp tập
thể; hoàn thiện khả năng ngôn ngữ. mỗi trò chơi có một tác dụng khác nhau,
song trò chơi nhìn chung là giúp các em rèn luyện những đức tính quý báu.
Đồng thời trò chơi còn giúp các em hoàn thiện các kĩ năng ứng dụng học vấn
vào cuộc sống hàng ngày.
1.1.2.3. Phân loại trò chơi học tập
Có nhiều cách phân loại trò chơi học tập:
-
tượng nào đó nhất là những hình ảnh gây cảm xúc mạnh.
Trẻ hiếu động, ham hiểu biết cái mới nên dễ gây cảm xúc mới song các em
chóng chán. Do vậy trong dạy học giáo viên phải sử dụng nhiều đồ dùng dạy
học, đưa học sinh đi tham quan, đi thực tế, tăng cường thực hành, tổ chức các trò
chơi xen kẽ…để củng cố, khắc sâu kiến thức.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Kiểu bài mở rộng vốn từ ở Tiểu học
1.2.1.1. Nhiệm vụ dạy học
Nhiệm vụ chủ yếu của việc dạy từ ở Tiểu học nói chung, ở lớp 2 nói riêng,
là giúp học sinh mở rộng, phát triển vốn từ( phong phú hóa vốn từ) ; nắm nghĩa
của từ ( chính xác hóa vốn từ) ; quản lý, phân loại vốn từ ( hệ thống hóa vốn từ)
và luyện tập sử dụng từ ( tích cực hóa vốn từ).
23
1.2.1.2. Nội dung dạy học MRVT
Việc dạy học mở rộng vốn từ và tích lũy vốn từ một cách có hiệu quả, phát
triển được vốn từ ở các em đặt ra cho giáo viên tiểu học là một vấn đề không hề
đơn giản. Qua thực tế, chúng tôi nhận thấy:
Vấn đề dạy học mở rộng vốn từ trong sách giáo khoa Tiếng Việt từ lớp 2
đến lớp 5 được sắp xếp từ dễ đến khó, phù hợp với quá trình tư duy và nhận thức
của các em.
Nội dung vốn từ cung cấp cho học sinh: Ngoài các từ ngữ được dạy qua các
bài tập đọc, chính tả, tập viết… học sinh được cung cấp vốn từ một cách có hệ
thống trong các bài từ ngữ theo chủ đề. Chương trình đã xác định vốn từ cần
cung cấp cho học sinh. Đó là những từ ngữ thông dụng tối thiểu về thế giới xung
quanh như công việc của học sinh ở trường và ở nhà, tình cảm gia đình và vẻ đẹp
thiên nhiên, đất nước, những phẩm chất và hoạt động của con người… Những từ
ngữ được dạy ở Tiểu học gắn với việc giáo dục cho học sinh tình yêu gia đình,
•
•
•
•
Chủ điểm 8: Bạn trong nhà – MRVT: từ ngữ về vật nuôi
Chủ điểm 9: Bốn mùa – MRVT: từ ngữ về các mùa, từ ngữ về thời tiết
Chủ điểm 10: Chim chóc – MRVT: từ ngữ về chim chóc, từ ngữ về loài chim
• Chủ điểm 11: Muông thú – MRVT: từ ngữ về muông thú, từ ngữ về loài thú
Chủ điểm 12: Sông biển – MRVT: từ ngữ về sông biển
Chủ điểm 13: Cây cối – MRVT: từ ngữ về cây cối
Chủ điểm 14: Bác Hồ – MRVT: từ ngữ về Bác Hồ
Chủ điểm 15: Nhân dân – MRVT: từ ngữ chỉ nghề nghiệp
Thực chất các từ này bổ sung cho vốn từ về thế giới xung quanh gần với
các em và vốn từ về chính bản thân các em; học sinh còn nhận biết được ý
nghĩa chung của từng lớp từ (từ chỉ người, vật, sự vật, từ chỉ hoạt động trạng
thái, từ chỉ đặc điểm, tuy nhiên chưa yêu cầu học sinh hiểu các khái niệm
danh từ, động từ, tính từ). Ngoài ra học sinh được nhật biết nghĩa một số
thành ngữ tục ngữ, làm quen với cách giải nghĩa thông thường, nhận biết tên
riêng và cách viết hoa tên riêng.
Trong chương trinh sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2, tất cả các bài mở rộng
vốn từ không có một tiết lý thuyết nào, học sinh tiếp thu kiến thức và rèn luyện
-
kỹ năng hoàn toàn thông qua hệ thông các bài tập.
Có ba kiểu bài tập:
Kiểu bài tập mở rộng vốn từ qua tranh vẽ.
Kiểu bài tập mở rộng vốn từ theo quan hệ ngữ nghĩa
Kiểu bài tập mở rộng vốn từ theo quan hệ cấu tạo