Lời mở đầu
1.Lý do lựa chọn đề tài xe máy:
Xe máy là phương tiện đi lại cơ động và thuận tiện nhất đối với hệ thống
giao thông của Việt Nam. Đặc biệt, xe máy rất thích hợp với những con đường nho
với nhiều ngóc nghách từ thành thị đến nông thôn. Với một chiếc xe máy bạn có thê
dễ dàng sử dụng với nhiều mục đích khác nhau: đi làm, đi chơi, vận chuyên….
Người Việt Nam đã có thói quen sử dụng xe máy đê đi lại trong khoảng
cách ngắn và thường xuyên. Bất cứ người nào cũng có thê sở hữu một chiếc xe máy
với giá cả hợp lý, trong khi ô tô vẫn nằm ngoài khả năng tài chính của đai bộ phận
dân cư. Cũng chính vì thế mà thị trường xe máy Việt Nam là một thị trường sôi
động và giàu tiềm năng với cuộc chiến tranh giành thị phần của các hãng như:
Honda, Yamaha, Suzuki, Piagio, SYM…
2.Lý do lưạ chọn công ty Honda Việt Nam:
Honda là một thương hiệu xe máy có lịch sử phát triên lâu dài, vững chắc
và tạo lập được uy tín trên thị trường. Nó quen thuộc đến nỗi cứ khi nhắc tới xe máy
là người ta lại nghĩ tới Honda. Honda cũng là công ty đầu tiên có mặt tại Việt Nam
và đã nhanh chóng chiếm lĩnh được thị trường, đạt được những thành công đáng kê
với các sản phẩm đa dạng hướng tới nhiều đối tượng có các mức thu nhập khác
nhau. Bên cạnh đó, Honda Việt Nam(HVN) còn đưa đến cho người dân Việt Nam
cái nhìn hiêu biết hơn về an toàn giao thông, bảo vệ môi trường thông qua các
chương trình tuyên truyền trong thời gian dài. Qua đó, HVN đã gửi gắm thông điệp
của mình" Tôi yêu Việt Nam" tạo nên cái nhìn thiện cảm đối với người dân Việt
Nam.
HVN có rất nhiều tiềm năng và thế mạnh. Nếu có những chiến lược đúng
đắn, sáng tạo thì tương lai nó sẽ ngày càng trở nên hùng mạnh và chiếm lĩnh thị
trường. Phân tích chiến lược kinh doanh xe máy của HVN là bài học tốt cho nhóm
chúng tôi.
Vì vậy, nhóm chúng tôi lựa chọn đề tài:
"Phát triển đa dạng các sản phẩm với chất lượng cao, phục vụ tốt nhu cầu
trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu "
2
2.
Quá trình phát triển của Honda Việt Nam:
Năm
1996 - Tháng 3: Nhận giấy phép đầu tư
1997 - Tháng 12: Xuất xưởng chiếc xe Super Dream đầu tiên.
1998 - Tháng 2: Ra mắt chiếc xe Super Dream- kiêu xe đầu tiên dành cho thị
trường Việt Nam.
- Tháng 3: Khánh thành nhà máy Honda Việt Nam.
1999 -Tháng 9: Ra mắt xe Future.
- Tháng 10: Khánh thành trung tâm lái xe an toàn.
2000 - Tháng 3: Nhận chứng chỉ Iso 2002.
2001 - Tháng 3: Đón nhận bằng khen của Thủ tướng chính phủ.
- Tháng 9: Nhận chứng chỉ Iso 14001.
- Tháng 11: Xuất xưởng chiếc xe thứ 500.000.
2002 - Tháng 2: Giới thiệu xe Waveα.
- Tháng 5: Xuất khẩu xe Waveα xang Philippin.
2003 - Tháng 3: Đón nhận chứng chỉ Iso 9001:2000.
- Tháng 4: Xuất xưởng chiếc xe thứ 1 triệu.
- Tháng 8: Khởi động chương trình” Tôi yêu Việt Nam” và đón nhận bằng
khen của Uỷ ban An toàn giao thông quốc gia.
2004 - Tháng 4: ASIMO tới thăm Việt Nam.
- Tháng 9: Bắt đầu cuôc thi tìm hiêu an toàn giao thông trên truyền hình”
Tôi yêu Việt Nam”.
- Tháng 11: Ra mắt 2 kiêu xe Wave ZX và Future 2.
Trong khoảng 7 năm trở lại đây GDP của Việt Nam liên tục tăng với tốc
độ cao, nếu như năm 2000 GDP đạt 441.646 tỷ đồng thì đến năm 2006-tức là chỉ
sau 6 năm- đã tăng lên gấp đôi đạt 903.790 tỷ đồng. Theo đó, tốc độ tăng trưởng
kinh tế của Việt Nam luôn duy trì ở mức cao từ 6- 8%, và nổi bật nhất là năm 2005
với mức tăng trưởng là: 8,44%, dự kiến năm 2007 là: 8,2%-8,5%. Dự đoán trong
giai đoạn 2006-2010 là: 7,5%-8,8%. Theo đó, đến năm 2010 tổng GDP đạt trên
1.400 nghìn tỷ đồng(cao gấp 2,1 lần so với năm 2000- theo giá hiện hành). Đến năm
2020 GDP sẽ đạt gần 3.000 nghìn tỷ đồng(cao gấp 4 lần so với năm 2000).GDP
bình quân trên đầu người năm 2010 đạt 1.050-1.100USD/người (theo giá hiện
hành), đến năm 2020 sẽ tăng 3,3-3,6 lần so với năm 2000. Bên cạnh đó, kinh tế thế
giới cũng ở giai đoạn tăng trưởng cao với tốc độ 3,9% năm 2006 cao hơn 3,5% năm
2005(theo Ngân hàng thế giới) và trong khu vực ASEAN tốc độ tăng trưởng bình
quân năm 2006 đạt 5,4% tương đương với năm 2005( theo nghiên cứu của tổ chức
xúc tiến thương mại Nhật Bản).
Với mức tăng trưởng cao trong các năm qua đã làm cho thu nhập của
người tiêu dùng tăng lên, nhất là nhóm người có thu nhập thấp. Do đó, chi tiêu của
người dân sẽ tăng lên làm cho sức cầu về phương tiện đi lại- phương tiện thiết yếu
trong đời sống- tăng lên, mặt khác thu nhập của người dân vẫn còn thấp( dự tính
năm 2010 đạt 1.050-1.100USD/người) vì vậy mua xe ôtô vẫn là điều quá khả năng,
điều này tạo thuận lợi cho Honda Việt Nam(HVN) và các hãng xe máy trên thị
trường Việt Nam phát triên sản xuất, cung ứng ra thị trường nhiều hàng hóa và dịch
vụ hơn nữa trong thời gian tới, không chỉ phục vụ cho nhu cầu trong nước mà còn
hướng tới xuất khẩu.
Tăng trưởng cao của nước ta tạo ra sức hút đối với nhà đầu tư nước ngoài
về lĩnh vực xe máy, ôtô bo vốn vào Việt Nam tạo ra sự canh tranh lớn hơn trên thị
trường, gây ra áp lực cạnh tranh lớn cho HVN.
4
1.1.1.3 Về lạm phát:
Báo cáo của Ngân hàng phát triên Châu Á (ADB) đã cho thấy lạm phát của
Việt Nam có xu hướng tăng cao trong những năm gần đây. Lạm phát trung bình của
Việt Nam trong năm 2005 là 8,3%, trong năm 2006 là 7,5%, tính đến hết tháng 9
năm 2007 chỉ số giá tiêu dùng 7,32% so với tháng 12 /2006 và 8,8% so với
12/2006. Theo dự báo trong các tháng cuối năm giá còn tăng lên cao nữa còn nếu
không có biện pháp ngăn chặn kịp thời thì nguy cơ lạm phát có thê lên tới 8,4%8,9% và cao hơn mức tăng trưởng kinh tế. Điều đáng chú ý là tốc độ lạm phát trung
bình của Việt Nam cao hơn so với các nước trong khu vực. Cụ thê, mức trung bình
của các nước đang phát triên là thành viên của ADB năm 2005 là 3,4% và năm
2006 là 3,3%.
Việc tốc độ lạm phát tăng cao trong vòng 3 năm trở lại đây gây ra những
khó khăn với người tiêu dùng, nhà đầu tư, các doanh nghiệp.
Đối với những người có thu nhập thấp lạm phát tăng cao làm thu nhập thực
tế của họ ngày càng giảm đi, khiến sức mua của họ bị giảm đi, đời sống của họ
thêm khó khăn và sức cầu về xe máy, một hàng hoá lâu bền cũng giảm theo.
Các nhà đầu tư, kê cả Nhà nước đang là chủ đầu tư của hàng ngàn tỷ đồng
vào các công trình lớn nho cũng chịu tác động lớn trước tình hình lạm phát tăng
cao. Lạm phát tăng kéo theo giá các vật liệu xây dựng như: xi măng, sắt, thép…
tăng lên làm tiến độ thực hiện các công trình đầu tư chậm lại gây thất thoát tiền của,
gián đoạn các kế hoạch phát triên. Điều này làm HVN phải thận trọng hơn trong các
quyết định đầu tư của mình.
Còn đối với DN sản xuất trong nước mà HVN cũng nằm trong số đó, lạm
phát làm giá nhập khẩu các sản phẩm phi dầu mo tăng (máy móc, nguyên vật
liệu…) và giá xăng dầu tăng sẽ làm tăng chi phí đầu vào làm giảm hiệu quả sản xuất
và sức cạnh tranh của doanh nghiệp với hàng nhập khẩu nhất là những hàng hóa có
xuất xứ từ Trung Quốc.
6
1.1.2.2 Về phong cách sống:
Cùng với mức tăng lên của thu nhập thì nhìn chung, xu hướng tiêu dùng của
người dân Việt Nam chuyên dịch từ yêu cầu "ăn no mặc ấm" sang "ăn ngon mặc
đẹp" làm cho chất lượng cuộc sống nâng lên. Quan niệm về hàng hóa lâu bền và giá
trị cao cũng đã thay đổi. Nếu như những năm trước đây, các mặt hàng xe máy, tủ
lạnh, điều hòa, ôtô, máy giặt, các thiết bị nghe nhìn được xem là đồ dùng cao cấp
đắt tiền thậm trí có ý nghĩa "dự trữ tài sản", thì nay đã được phổ cập ở thành thị và
lan sang cả khu vực nông thôn.
Xu hướng mua sắp hàng giá trị cao, hàng hiệu chạy theo mốt mới đang xuất
hiện ở giới trẻ thành phố đã bắt kịp xu hướng tiêu dùng của khu vực và thế giới.
Do thu nhập được nâng cao đời sống được cải thiện lên các nhu cầu về tinh
thần ngày càng người dân chú ý. Xét về cơ cấu, xu hướng chi tiêu cho nhà ở, dịch
vụ khám chữa bệnh, dược phẩm, phương tiện đi lại, thông tin và giáo dục sẽ có tốc
độ cao hơn các chi tiêu khác.
Với sự thay đổi như vây của phong cách sống, nhất là với xu hướng chạy
theo mốt của giới trẻ sẽ làm cho HVN có định hướng phát triên các dòng xe thời
trang, sành điệu, bắt mắt với giới trẻ trong tương lai. Thị trường của các mặt hàng
lâu bền như xe máy cũng sẽ không bị bó hẹp trong khu vực thành thị( chiếm 45%)
mà mở rộng xang khu vực nông thôn tạo thuân lợi cho HVN có thêm thị trường tiêu
thụ, tăng thêm sản lượng bán hàng.
8
1.1.3
Chính trị và pháp luật:
Hơn 20 năm đổi mới,chúng ta đã thu được rất nhiều thành tựu to lớn,có ý
nghĩa lịch sử.Đó là nhờ hệ thống chính trị vận hành tốt,đây cũng là yếu tố cơ bản
đảm bảo sự ổn định trong thời gian qua.
Kỹ thuật công nghệ:
Có thê nói trong thời đại ngày nay công nghệ là yếu tố sống còn đối với bất
kỳ một doanh nghiệp nào, có đổi mới công nghệ thành công doanh nghiệp mới có
thê cạnh tranh trên thị trường. Yếu tố công nghệ vừa tạo ra vừa phả bo , công nghệ
tạo ra những sản phẩm mới nhưng công nghệ lại loại bo những sản phẩm cũ lạc
hậu. Do đó việc đổi mới công nghệ và nhất là nắm bắt xu hướng đổi mới công nghệ
là điều bắt buộc đối với bất kỳ doanh nghiệp nào.
Theo thông tin từ Bộ KH&CN thì phần lớn các doanh nghiệp nước ta sử
dụng công nghệ lạc hậu so với mức trung bình của thế giới đến 2-3 thế hệ.80-90%
9
công nghệ nước ta là ngoại nhập. Có 76% máy móc, dây chuyền công nghệ nhập
thuộc thế hệ 1960-1970, 75% đã bị hết khấu hao, 50% là được tân trang. Tính trung
cho các doanh nghiệp mức độ thiết bị hiện đại là 10%, mức trung bình là 38%, mức
lạc hậu và rất lạc hậu là 52 %. Đặc biệt là khu vực sản suất nho, thiết bị ở mức lạc
hậu và rất lạc hậu chiếm 70%. Trong khi đó các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư đổi
mới công nghệ ở mức thấp, tính ra chi phí khoảng 0,2- 0,3 % doanh thu. Con số này
ở Ấn Độ là 5% và ở Hàn Quốc là 10%. Đánh giá của Bộ KH&CN thì năng lực đổi
mới công nghệ là loại “năng lực yếu nhất” của các doanh nghiệp Việt Nam.Việc đổi
mới công nghệ chỉ được thực hiện ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Vấn đề của chúng ta ở đây là các doanh nghiệp VN thiếu vốn cho việc đổi
mới công nghệ, các doanh nghiệp cũng chỉ chú ý đến việc đổi mới thành phần kỹ
thuật của công nghệ còn 3 thành phần là: con người , thông tin, thiết chế thì gần như
không được chú ý đến mà không biết rằng phải hội tụ đủ bốn yếu tố trên mới gọi là
đổi mới công nghệ; đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp còn châm,mang tính
thụ động.
Thực trạng đáng buồn này khiến cho các doanh nghiệp trong nước vốn đã
Thị
phần
Nhóm
1
Honda
Yamaha
Suzuki
SYM
87%
Nhóm
2
Piagio
3%
Nhóm
3
Su fat
Lifan
Các doanh nghiệp lắp ráp
của Việt Nam.
10%
phận của người dân Việt Nam. Song cũng có thê nhận thấy rằng do phải nhập khẩu
nên giá khá cao, hệ thống các cửa hàng đại lý, sửa chữa không nhiều mà hiện nay sự
phổ biến trong sử dụng là không cao và do vậy chưa ảnh hưởng nhiều đến HVN.
Nhưng bằng việc xây dựng nhà máy Piagio Việt Nam thì trong thời gian tới Piagio
sẽ là đối thủ cạnh tranh lớn mà HVN phải đương đầu.
Có thê nói trong thời điêm hiện tại thì thị trường xe máy Việt Nam là cuộc
cạnh tranh của các doanh nghiệp thuộc nhóm 1. Đặc biệt, đối thủ cạnh tranh lớn
nhất của HVN là Yamaha Việt Nam(YVN) bởi công nghệ là của Nhật Bản, các sản
phẩm đa dạng liên tục thay đổi mẫu mã(thường là đi trước so với HVN), giá cả
được điều chỉnh ở mức có thê cạnh tranh với HVN về giá. Các dòng xe của Yamaha
Việt Nam lại hướng đến những người trẻ tuổi thích năng động với hệ thống quảng
cáo rầm rộ nhằm thu hút khách hàng. Tuy nhiên, điêm yếu của Yamaha Việt Nam
11
chính là chất lượng các dòng xe chưa cao khả năng vận hành lâu dài còn chưa tốt và
đây cũng chính là điêm mà HVN có thê khai thác. Hiện nay thị phần của Suzuki đã
mất dần vào tay HVN và YVN bởi các sản phẩm mới chưa nhiều, hệ thống phân
phối còn nho bé, khâu marketing còn yếu và trong thời điêm hiện tại là không thê
cạnh tranh với HVN nhưng cũng cần nhận thấy rằng Suzuki không rời bo thị trường
Việt Nam mà là tạm thời chững lại. Có thê trong thời gian tới khi thích hợp thì
Suzuki sẽ lại tung ra nhiếu sản phẩm mới nhằm giành lại thị phần đã mất. Trong
nhóm 1 thì SYM là đối thủ cạnh tranh yếu nhất của HVN bởi chưa có một hoạt
động marketing mạnh các sản phẩm có kiếu dáng không được đẹp và đa dạng như
HVN, nhưng một điều dễ nhận thấy là giá thành rất thấp, thấp hơn của HVN và lại
hướng vào đối tượng tiêu dùng là người nông thôn ( chiếm 70% dân cư) và điêm
mạnh chính là sự bền bỉ của động cơ (rất phù hợp với điều kiện không được thường
xuyên bảo dưỡng). Trong thời gian tới nếu khắc phục được nhược điêm về kiêu
dáng thì thật sự là đối thủ cạnh tranh lớn của HVN.
1.2.2 Nhà cung ứng:
12
b) Phân tích khách hàng:
Hiện nay trên thị trường Việt Nam có rất nhiều các doanh nghiệp sản xuất
và lắp ráp xe máy với những nhãn hiệu như: Honda, Yamaha, Suzuki, Piagio,
SYM… Chính vì vậy người tiêu dùng có thê có nhiều sự lựa chọn khác nhau, nếu
không sử dụng xe máy của Honda họ có thê sử dụng xe máy của các hãng khác.
Bên cạnh đó, chi phí chuyên đổi giữa các nhà cung cấp là không lớn bởi vì giá xe
của các doanh nghiệp không chênh lệch nhau là mấy. Mặt khác, hiện nay ngoài
việc sử dụng xe máy chúng ta có thê sử dụng các phương tiên giao thông khác
như: xe đạp điện, ô tô và các phương tiện giao thông công cộng. Do vậy, sức ép
của khách hàng lên HVN là khá lớn, đòi hoi HVN phải nắm bắt thị hiếu của
người tiêu dùng( nhất là đối với giới trẻ) thì mới có thê cạnh tranh trên thị trường.
1.2.4 Sản phẩm thay thế:
Dễ thấy, các sản phẩm thay thế của xe máy là: xe đạp điện, ô tô , các
phương tiện giao thông công cộng.
•
Xe đạp điện: Sau 5 năm gần như bị bo quên xe đạp điện lại hấp
dẫn trở lại đối với người tiêu dùng. Bởi những lợi thế: nho gọn, thân thiên
với môi trường, không cần phải đội mũ bảo hiêm, tiện sử dụng. Với
khoảng 3,5 triêu đồng là có một chiếc xe đạp điện, tốc độ 30-40km/h, có
thê chạy liên tục 40-80 km sau mỗi lần xạc, chi phí mỗi lần xạc chỉ khoàng
5000 đồng. Mẫu mã đa dạng, phong phú, có cả xe tay ga kiều dáng đẹp.
Do vậy, hiện nay có nhiều viên chức nhà nước đã lựa chọn xe đạp điện
làm phương tiện đi lại thay thế cho xe máy. Chính vì những lý do trên mà
xe đạp điện là một nguy cơ đối với HVN và các doanh nghiệp xe máy
trong nước.
•
Ô tô: Có thê nói thị trường ô tô đang ngày càng trở nên sôi
Công nghệ tốt, hiện đại sẽ tiết kiệm được nhiên liệu , xe có độ bền
cao không gây ô nhiễm môi trường.
Thương hiệu mạnh, uy tín sẽ tạo sự tin tưởng ở khach hàng
Gía cả, đây là yếu tố chính tạo ra sự cạnh tranh khốc liệt giữa các doanh
nghiệp trong ngành. Doanh nghiệp nào có sản phẩm chất lượng nhưng giá thấp và
có đa dạng các sản phẩm với các mức giá khác nhau, doanh nghiệp đó sẽ chiến
thắng.
Thiết kế: nhu cầu của khách hàng là luôn thay đổi, vì vậy đòi hoi phải có
các sản phẩm với mẫu mã kiêu dáng đa dạng .
2.Phân tích nội bộ doanh nghiệp:
Đê đánh giá tình hình nội bộ doanh nghiệp, chúng tôi dùng chuỗi giá trị
đê phân tích. Chuỗi giá trị này do công ty tư vấn Mckinsey xây dựng dựa trên hệ
thống kinh doanh. Nó bao gồm chuỗi các hoạt động trực tiếp và gián tiếp của doanh
nghiệp.
2.1 Hoạt động trực tiếp:
2.1.1 Cung ứng bên ngoài:
Một chiếc xe máy hoàn chỉnh là sự kết hợp của khoảng 500 các linh kiện.
Các linh kiện này được chia làm 2 loại, những linh kiện gốc (Core component),
linh kiện không gốc( hay còn gọi là linh kiện bổ trợ non-core component ) dựa trên
chức năng cũng như khả năng nhận biết của khách hàng về chất lượng và hoạt động
của linh kiện.
14
Bảng phân loại các linh kiện tại HVN:
Linh kiện gốc
Máy
Nam
Asian Honda
)Thái Lan(
Nhà cung cấp tại Việt Nam Nhà cung cấp tại Thái Lan
Quan hệ mua bán trực tiếp
Quan hệ mua bán gián tiếp
Sundiro Honda
Quốc(
)Trung
Nhà cung cấp tạiTrungQuốc
Nhà cung ứng cấp1
Nhà cung ứng cấp 2
Tăng số lượng các nhà cung cấp tại Việt Nam: Trước đây khi mới sản
xuất tại Việt Nam, HVN chỉ có 14 nhà cung cấp tại Việt Nam( bao gồm các nhà
sản xuất trong nước và các doanh nghiệp FDI) nhưng bây giờ số lượng các nhà
cung cấp tăng lên hơn 30 nhà cung cấp.
Chuyển dịch từ những nhà cung cấp ở Thái Lan sang những nhà cung
cấp tại Trung Quốc: Linh kiện được mua sắm từ Trung Quốc đều thông qua công
ty liên doanh 50% vốn của Honda tại Trung Quốc, công ty Honda Sundiro
15
Đầu năm 2007 HVN vừa hoàn thành việc tăng công suất lên 1 triệu xe/ 1
năm( trước kia là 850.000 chiếc/1 năm). Cũng theo đó, toàn bộ các dây chuyền và
các công đoạn trong nhà máy xe máy hiện nay sẽ được trang bị thêm công nghệ
tiên tiến, hiện đại như:
Phân xưởng hàn: Áp dụng Robot hàn và các máy hàn tự động không
chỉ nâng cao năng suất mà cả độ chính xác và tính thẩm mỹ của sản phẩm, tạo ra
những khung xe nhẹ và rắn chắc.
Phân xưởng sơn: Lần đầu tiên trong các nhà máy xe máy ở khu vực
Đông Nam Á , được trang bị dây chuyền sơn âm cực hiện đại nhất, đảm bảo khả
năng chống gỉ cao cho bề mặt sản phẩm.
Phân xưởng ép nhựa: Toàn bộ được vận hành bằng máy vi tính.
Phân xưởng đúc: Trang bị công nghệ hiện đại, đủ khả năng tạo ra các
sản phẩm theo đúng tiêu chuẩn của Honda Nhật Bản.
Phân xưởng gia công: Đê đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật nghiêm ngặt,
toàn bộ các quá trình đều được tự động hóa, có máy tính điều khiên và kiêm tra
chất lượng.
Phân xưởng lắp ráp động cơ và lắp khung: Dây chuyền lắp ráp hiện
.Keiretsu được hiêu là tập hợp các công ty Nhật có quan hệ làm ăn lâu dài 1
16
đại và mang tính tự động hóa cao, được trang bị các máy móc chuyên dụng và
các thiết bị kiêm tra chất lượng, quản lý đạt tiêu chuẩn quốc tế.
Bộ phận kiêm tra chất lượng: Được trang bị các thiết bị hiện đại nhất,
theo tiêu chuẩn của Honda toàn cầu. Đội ngũ nhân viên được đào tạo ở nước
ngoài.
Có thê nói đây là một trong các nhà máy chế tạo xe máy hiện đại nhất trong
khu vực Đông Nam Á. Qua đó HVN sẽ tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao,
đáp ứng được sự kỳ vọng của người tiêu dùng.
có thê sở hữu một chiếc xe Waveα). Ngoài ra, Honda Việt Nam còn không
ngừng cải tiến mẫu mã, chất lượng sản phẩm( như dòng xe Wave có rất
nhiều mẫu mã) trong khi vẫn giữ nguyên giá bán.
17
Bảng các loại sản phẩm hiện có trên thị trường của HVN.
Sản
phẩm
Giá hiện hành
Đặc tính nổi bật
Mức độ thành
công
28.000.000
Thê hiện thiết kế hiện đại mang
tính đột phá trong dòng sản phẩm
tay ga với công nghệ hàng đầu.
Tính năng an toàn vượt trội, thân
thiện với môi trường. Hệ thống
làm mát bằng dung dịch có bộ tản
nhiệt tích hợp. Hệ thống chuyên
động vô cấp bằng đai V. Hệ
thống phanh thắng kêt hợp CBS.
đúc)
Khả năng vận hành vượt trội với
động cơ 125cc, phong cách sang
trọng với công nghệ đột pháphun xăng điện tử PGM- F1, bớt
tiếng ồn, khí thải, tiết kiệm nhiên
liệu.
Hiện nay
đang được
nhiều người
quan tâm.
Future
neo
21.500.000( nan
hoa- thắng đùm),
22.500.000( nan
hoa- thắng đĩa)
24.000.000( vành
đúc)
Vẻ đẹp sang trọng trong từng
đường nét cộng hưởng hài hòa
cùng tính tiện dụng cao. Động cơ
mạnh mẽ 4 kỳ 125cc mang lại
cảm giác thoải mái, ổn định trong
mọi điều kiện đường xá.
CLICK
Super
Dream
Deluxe
Super
Dream
(VND)- đã có thuế
GTGT
18
Wave S
Wave α
Wave
RS
Wave
RSV
14.900.000
Thiết kế trang nhã với những
đường nét tinh xảo. Một đôi cánh
Thiết kế thê thao với màu sắc
mạnh mẽ- màu Repsol của đôi
đua Honda Motor GP-mang lại sự
trẻ trung năng động đầy cá tính
cho các bạn trẻ, chất lượng hoàn
hảo.
Được nhiều
người sử
dụng
Giá cả: Giá cả là yếu tố đặc biệt quan trong bởi vì nó liên quan
trực tiếp tới thu nhập của doanh nghiệp. Do đó chiến lược chào giá cũng
thay đổi theo thời kỳ. Công ty chủ động tìm hiêu tất cả các thông tin như:
thói quen sinh hoạt, tập quán của từng thị trường, sở thích của người tiêu
dùng, thu nhập của họ, độ tuổi. Từ đó, công ty xây dựng các giá bán cụ thê.
Ví dụ: trong thời kỳ xe máy có xuất xứ từ Trung Quốc tràn lan thì giá bán
các sản phẩm của Honda Việt Nam rất cạnh tranh, giá của Waveα là:
11.900.000 đồng, còn Super Dream là: 17.500.000 đồng.
Phân phối: các sản phẩm của Honda Việt Nam chủ yếu được
phân phối qua hệ thống hơn 300 cửa hàng bán xe và dịch vụ do Honda ủy
nhiệm(HEAD).
Xúc tiến: Trên con đường mang thương hiệu của mình tới mọi
miền đất nước Việt Nam, việc đầu tiên là Honda Việt Nam xây dựng cho
mình một logon riêng biệt. Đó là hình ảnh “cánh chim đại bàng” đã trở nên
rất quen thuộc với người tiêu dùng kê cả những ai chưa có điều kiện mua xe
Xây dựng mội trường trong sạch trong công ty với mục
tiêu không gây tổn hại cho bên ngoài.
Tổ chức hàng loạt các chương trình giới thiệu sản phẩm
ở khắp các tỉnh trong cả nước, các cuộc thi nông dân với lái xe an
toàn…
Tất cả các hoạt động trên đều làm cho người tiêu dùng thêm hiêu biết hơn về
các sản phẩm và công ty HVN, qua đó tạo lợi thế cạnh tranh trên thị trường.
2.1.5 Dịch vụ sau bán hàng:
Đối với bất kì một công ty nào thì dịch vụ sau bán hàng cũng đóng vai
trò rất quan trọng. Bởi vì đây là hoạt động nhằm đê lại danh tiếng, uy tín của công
ty cho khách hàng. Mặt khác việc tìm kiếm khách hàng đã khó, việc giữ được khách
hàng hiện có lại càng khó hơn. Dịch vụ khách hàng không chỉ đem lại sự hài lòng
cho khách hàng mà còn vì doanh thu của doanh nghiệp, bởi mất khách hàng đồng
nghĩa với mất doanh thu và làm giảm uy tín của doanh nghiệp. Một khi được thoa
mãn, sau khi mua sản phẩm họ còn tự nguyện giới thiệu sản phẩm cũng như người
mua cho công ty- đây chính là việc quảng cáo tốt nhất và nhanh nhất cho doanh
nghiệp. Dịch vụ chăm sóc khách hàng tốt sẽ đảm bảo được tính chuyên nghiệp cao
cũng như tạo ra ưu thế về cạnh tranh hơn so với đối thủ cạnh tranh trên thị trường
Nhận thức được vai trò quan trọng của khâu dịch vụ sau bán hàng, HVN
đã triên khai hàng loạt các dịch vụ như:
Hệ thống các cửa hàng bán xe và dịch vụ sau bán hàng do HVN ủy nhiệm
(HEAD) với các hoạt động: bán hàng, cung cấp dịch vụ sau bán hàng, cung cấp phụ
tùng chính hiệu và hướng dẫn lái xe an toàn. Hiên nay, HVN đã có trên 300 cửa
hàng cung ủy nhiệm trên khắp cả nước.
Các trung tâm bảo dưỡng và dịch vụ (Wing Servica Station ) tập trung hoạt
20
động cung cấp dịch vụ sau bán hàng và cung cấp phụ tùng chính hiệu.
Phòng bán hàng
Phòng PR, quản lý thị trường
Phòng dich vụ khách hàng
Ngoài ra còn một số phòng ban khác
HVN có cơ cấu tổ chức và lãnh đạo dạng “ma trận”.
Ưu điêm: Linh động, chuyên nghiệp nên sử dụng hiệu quả nguồn nhân
lực của doanh nghiệp, phù hợp với tình sản xuất kinh doanh có nhiều biến đổi.
Nhược điêm: Khá phức tạp, dễ xảy ra tranh chấp hoặc sự chồng chéo giữa
các phòng ban, đòi hoi các nhà quản trị của doanh nghiệp phải có trình độ và tầm
ảnh hưởng rộng lớn đê điều phối.
2.2.2 Nghiên cứu và triển khai:
Đê nghiên cứu và triên khai một chiếc xe máy mới đòi hoi từ 2-3 triệu USD
21
cùng với thời gian thử nghiệm kéo dài 3-4 năm. Công nghệ và nguồn nhân lực có
trình độ cao.Vì thế Honda Việt Nam chưa thê tự mình đảm nhiệm được quá trình
trọng yếu này.
Hai công ty của Honda chuyên về nghiên cứu và phát triên sản phẩm (R&D)
đặt tại Kumamoto, Nhật Bản và tại Thái Lan cung cấp những thiết kế trọn gói (“one
set” designs) cho tất cả các công ty con của Honda cũng như những công ty sản
xuất linh kiện cung cấp cho Honda. Thậm chí HVN, một công ty con của Honda
cũng không được tự ý thay đổi thiết kế. Liên quan tới các cụm chi tiết, mặc dù HVN
chia sản phẩm thành một số cụm chi tiết(sub-asemblies) nhất định như ống xả,
phanh, bơm dầu, bánh… và mua những cụm chi tiết này từ các thành viên keiretsu
ở Việt Nam như GMN, Ghoshi Thăng Long, MAP tuy vậy không có các hình thức
phát triên sản phẩm theo hộp đen(blackbox product development- giao toàn bộ việc
phát triên sản phẩm cho nhà cung cấp) được sử dụng trong hệ thống của HVN. Gấn
đây, HVN cũng cho phép các nhà cung cấp được tự ý thay đổi các vật tư mới có tiêu
chuẩn kỹ thuật tương đương nhưng đặt dưới sự giám sát nghiêm ngặt của HVN
bảo vệ và kiêm tra tình hình sức khoe cho công nhân viên của mình. Rõ
22
ràng điều này đã tạo niềm tin cơ sở cho người lao động yên tâm và hứng
khởi làm việc hết mình cho nhà máy.
Công tác quản trị: Công tác quản trị của HVN là một nét độc
đáo, mang đậm phong cách quản trị chủ người Nhật: Coi mỗi nhân viên là
một chủ thê sáng tạo với những đặc điêm riêng. Do vậy, trong công tác
quản trị của mình,HVN luôn thê hiện sự tôn trọng nhân viên. Chính cách
quản trị của HVN đã mang lại những giá trị sâu sắc không đơn thuần là
chủ-tớ, mà là người lao động- người lao động, điều này giúp HVN có
những điêm mạnh tiềm tàng,nội lực bền bỉ hơn so với những đối thủ cạnh
tranh trong ngành khác.
Chính sách: Đê kịp thời cổ vũ lòng say mê, sáng tạo và đam
mê cống hiến sức mình cho công việc, HVN đã áp dụng chế độ tính tiền
lương theo cá nhân, tùy thuộc vào đặc thù công việc, năng lực của từng
người. Không những thế, công ty còn đưa ra rất nhiều chế độ ưu đãi đối với
công nhân khi họ có những tưởng hợp lí được đưa vào sử dụng. Hàng năm
HVN tổ chức nhiều lần phát thưởng cùng những chính sách phúc lợi,
những hoạt động văn hóa-thê thao sâu rộng, làm phong phú thêm đời sống
tinh thần của người lao động
.
2.2.4 Tài chính:
HVN là một công ty con trực thuộc Honda toàn cầu, trên 50% số vốn của
HVN là do Honda toàn cầu cung ứng nên vốn đầu tư lớn( 290.427.084 USD). Điều
này đảm bảo cho HVN có đủ vồn đê thực hiên các dự án của mình.
pháp dần hoàn thiên.
3.Hệ thống chính
trị ổn định.
4.Dân số đông, trẻ
ưa thích sự đổi mới.
Các điểm
yếu( W):
1.Sản phẩm với độ
bền cao, hoạt động ổn định
và kinh tế trải rộng khắp
các phân khúc thị trường.
2.Đội ngũ quản lí có
trình độ cao.
3. Nguồn vốn lớn.
4.Hoạt
động
Marketing và bán hàng tốt.
5. Dây chuyền sản
xuất hiện đại.
1. Bị động trong
quá trình nghiên cứu,
triên khai.
2. Các cửa hàng ủy
nhiệm vẫn chỉ tập trung ở
trung tâm, chưa có nhiều
ở các tỉnh lẻ( thường chỉ
là 1 hoặc 2 cửa hàng).
cao.
S/T
1.Phát triên các sản
phẩm có chất lượng cao.
2.Mở rộng quy mô
sản xuất đê giảm giá
thành.
W/T
1.Chiến lược giữ
vững thị trường hiện
tại.
Phần 3: Các giải pháp thực hiện và các khuyến nghị:
1. Định hướng hoạt động của HVN
1.1. Định hướng phát triên sản phẩm trong nước:
•
Nội địa hóa 100%: Chính sách của chính phủ khuyến khích
mua linh kiện sản xuất trong nước thúc ép các công ty xe máy nội địa
thay đổi cấu trúc kinh doanh của mình. Theo chính sách này HVN có
định hướng nội địa hóa 100%, nếu làm tốt điều này thì HVN sẽ nâng cao
hơn nữa thị phần của mình trên thị trường.
•
Sản xuất và lắp ráp xe tay ga: Thị trường xe tay ga sẽ ngày
càng sôi động. Hướng đạt ra cho HVN là phải chiến lĩnh thị trường này.
•
Đạt tiêu chuần khí thải: HVN phấn đấu đạt tiêu chuẩn ERRO2
và tiếp tục hướng tới ERRO3.
•