MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU.........................................................................1
LỜI MỞ ĐẦU..............................................................................................2
CHƯƠNG I – CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH DOANH
NGHIỆP.......................................................................................................4
I. Tài chính doanh nghiệp...........................................................................4
1. Tài chính doanh nghiệp là gì?...................................................................4
2. Vai trò của tài chính doanh nghiệp............................................................6
II. Quản lý tài chính doanh nghiệp............................................................8
1. Khái niệm quản lý tài chính doanh nghiệp................................................8
2. Vai trò của quản lý tài chính doanh nghiệp..............................................8
3. Các nguyên tắc quản lý tài chính doanh nghiệp........................................9
4. Những nhân tố ảnh hưởng tới quản lý tài chính doanh nghiệp...............11
III. Nội dung của quản lý tài chính doanh nghiệp..................................12
1. Phân tích tài chính- hoạch định và kiểm tra tài chính.............................12
1.1. Phân tích tài chính...............................................................................12
1.2. Hoạch định tài chính............................................................................18
1.3. Kiểm tra tài chính................................................................................19
2. Quản lý vốn luân chuyển.........................................................................21
3. Quyết định tài chính................................................................................23
CHƯƠNG II - THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
TẠI CÔNG TY TNHH QUẢNG CÁO VÀ THƯƠNG MẠI P&G.......24
I. Tổng quan về công ty TNHH quảng cáo và thương mại P&G..........24
1. Quá trình hình thành và phát triển...........................................................24
2. Các lĩnh vực kinh doanh của Công ty.....................................................27
3. Cơ cấu tổ chức.........................................................................................27
4. Tổng quan về các hoạt động của Công ty...............................................32
II.Thực trạng quản lý tài chính tại công ty TNHH quảng cáo và thương mại
P&G............................................................................................................37
.....................................................................................................................82
I. Mục tiêu của công ty trong giai đoạn tới.............................................82
1. Căn cứ xây dựng mục tiêu.......................................................................82
2. Mục tiêu của Công ty trong giai đoạn tới................................................85
II. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại công ty
TNHH quảng cáo và thương mại P&G...................................................86
1. Duy trì và phát triển các mối quan hệ tài chính.......................................86
2. Minh bạch hoá tài chính Công ty............................................................89
3. Nâng cao năng lực quản lý tài chính của Công ty...................................90
4. Hoàn thiện quản lý vốn luân chuyển.......................................................95
III. Điều kiện thực hiện các giải pháp.....................................................99
1. Các điều kiện về cơ chế, chính sách quản lý của Nhà nước....................99
2. Các kiến nghị với công ty TNHH quảng cáo và thương mại P&G.......101
KẾT LUẬN..............................................................................................104
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Vốn lưu động thường xuyên và nhu cầu vốn lưu động thường xuyên.. 37
Bảng 2: Nguồn vốn và sử dụng vốn năm 2004 và 2005.....................................39
Bảng 3: Nguồn vốn và sử dụng vốn năm 2006 và 2007.....................................41
Bảng 4: Kết cấu tài sản và nguồn vốn năm 2003, 2004 và 2005........................44
Bảng 5: Kết cấu tài sản và nguồn vốn năm 2006 và 2007..................................46
Bảng 6: Các chỉ tiêu tài chính trung gian và cuối cùng trong
báo cáo KQKD năm 2003, 2004 và 2005............................................................50
Bảng 7: Các chỉ tiêu tài chính trung gian và cuối cùng trong
bảng báo cáo KQKD năm 2006 và 2007.............................................................51
Bảng 8: So sánh các chỉ tiêu tài chính trung gian
qua các năm từ 2003 đến 2007............................................................................53
Bảng 9: Các chỉ tiêu tài chính chủ yếu từ năm 2003 đến năm 2007...................55
Bảng 10: Tốc độ tăng trưởng doanh thu qua các năm từ 2003 đến 2007............59
lý công nợ khách hàng, các đối tác; thực hiện báo cáo cho các cấp lãnh đạo...
Ngoài ra, các nhà quản lý tài chính sẽ giúp giám đốc hoạch định chiến
lược tài chính ngắn và dài hạn của doanh nghiệp dựa trên sự đánh giá tổng quát
cũng như từng khía cạnh cụ thể các nhân tố tài chính có ảnh hưởng quan trọng
tới sự tồn tại của doanh nghiệp, bao gồm: chiến lược tham gia vào thị trường tiền
tệ, thị trường vốn, thị trường chứng khoán; xác định chiến lược tài chính cho các
chương trình, các dự án của doanh nghiệp là mở rộng hay thu hẹp sản xuất...
Xuất phát từ những nhận thức trên, trong thời gian gần bốn tháng thực tập
tại công ty TNHH quảng cáo và thương mại P&G, được sự giúp đỡ của các bác,
các chú, các anh chị trong Công ty và sự hướng dẫn nhiệt tình của PGS.TS Lê
Thị Anh Vân, em đã lựa chọn và nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện công tác quản
lý tài chính tại công ty TNHH quảng cáo và thương mại P&G”.
Do thời gian thực tập có hạn, điều kiện bản thân còn nhiều hạn chế nên
trong đề tài không tránh khỏi có những thiếu sót. Em mong nhận được các ý kiến
đóng góp để đề tài được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Nguyễn Thị Hữu
CHƯƠNG I – CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH
DOANH NGHIỆP.
I. TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP.
1. Tài chính doanh nghiệp là gì?
1.1. Khái niệm.
[Doanh nghiệp là một tổ chức kinh doanh nhằm mục đích sinh lời được
pháp luật thừa nhận, được phép kinh doanh trên một số lĩnh vực nhất định, có từ
một chủ sở hữu trở lên và chủ sở hữu phải đảm bảo trước pháp luật bằng toàn bộ
ngoài, song phần huy động từ các nhà tài trợ bên ngoài là rất quan trọng. Trên thị
trường tài chính, doanh nghiệp có thể đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn của mình từ
các nguồn vốn vay ngắn hạn hoặc cũng có thể phát hành cổ phiếu, trái phiếu để
đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn. Ngược lại, để được sử dụng các nguồn vốn này thì
doanh nghiệp cũng phải trả lãi vay hoặc cổ phần cho các nhà tài trợ. Trong
trường hợp doanh nghiệp có những khoản tiền nhàn rỗi, tạm thời chưa sử dụng
có thể đem đầu tư hoặc gửi ngân hàng. Khi đó doanh nghiệp lại trở thành những
nhà tài trợ vốn trên thị trường tài chính.
Thứ ba, quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các thị trường khác. Bên
cạnh việc huy động các nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh thì việc sử dụng có
hiệu quả các nguồn vốn đó là một vấn đề không kém phần quan trọng. Trong quá
trình sử dụng các nguồn vốn này, doanh nghiệp phải có quan hệ chặt chẽ với các
doanh nghiệp khác trên các thị trường hàng hoá, dịch vụ, thị trường sức lao động
nhằm đảm bảo các đầu vào và đầu ra cho quá trình kinh doanh của mình. Chẳng
hạn như tiến hành đầu tư cho cơ sở hạ tầng, nguyên liệu sản xuất, hàng hoá, sức
lao động… đồng thời xác định nhu cầu của thị trường để từ đó hoạch định ngân
sách đầu tư, kế hoạch sản xuất, marketing…
Thứ tư, quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp. Các quan hệ này tồn
tại trong nội tại của doanh nghiệp, như quan hệ giữa người sở hữu vốn và người
có quyền sử dụng vốn, quan hệ giữa các bộ phận trong doanh nghiệp, quan hệ
giữa doanh nghiệp và người lao động… Việc đảm bảo tính ổn định và vững chắc
của các quan hệ này là rất quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp.
1.2. Đặc điểm của tài chính doanh nghiệp.
Tài chính doanh nghiệp là một khâu của hệ thống tài chính và là khâu cơ
sở nên nó có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, gắn liền với quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp,
có các quan hệ tài chính doanh nghiệp đa dạng phát sinh như quan hệ nộp, cấp
giữa doanh nghiệp với Nhà nước, quan hệ thanh toán với các chủ thể khác trong
Vai trò này của tài chính doanh nghiệp được thể hiện thông qua việc tạo ra
sức mua hợp lý để thu hút vốn đầu tư, lao động, vật tư, dịch vụ đồng thời xác
định giá bán hợp lý khi phát hành cổ phiếu, háng hoá bán, dịch vụ và thông qua
hoạt động phân phối thu nhập của doanh nghiệp, phân phối quỹ tiền lương, quỹ
tiền thưởng, thực hiện các hợp đồng kinh tế…
2.4. Giám sát kiểm tra chặt chẽ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được thể hiện
một cách đầy đủ và trung thực thông qua các chỉ tiêu tài chính trong các báo cáo
tài chính của doanh nghiệp. Vì thế, thông qua tình hình tài chính của doanh
nghiệp, nhà quản lý có thể dễ dàng nhận thấy những gì đang diễn ra trong doanh
nghiệp mình. Từ đó có những đánh giá từ tổng quát cho tới chi tiết, kiểm soát
được các mặt hoạt động của doanh nghiệp, phát hiện những điểm mạnh và điểm
yếu trong quá trình sản xuất kinh doanh từ đó mà có những biện pháp khắc phục
những điểm yếu và phát huy thế mạnh của mình. Như vậy thì tài chính doanh
nghiệp chính là công cụ giám sát kiểm tra hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp chặt chẽ và chính xác nhất của các nhà quản lý.
II. QUẢN LÝ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP.
1. Khái niệm quản lý tài chính doanh nghiệp.
Quản lý tài chính doanh nghiệp là một môn khoa học quản lý nghiên cứu
các mối quan hệ tài chính phát sinh trong phạm vi hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp để từ đó đưa ra các quyết định tài chính nhằm tối đa hóa lợi
nhuận của doanh nghiệp.
Khác với tài chính doanh nghiệp là những quan hệ kinh tế phát sinh trong
quá trình tạo lập và phân phối các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp (quan hệ tài
chính) mang tính khách quan thì quản lý tài chính doanh nghiệp lại là một quá
trình mang tính chủ quan của con người, cụ thể ở đây là những người làm công
tác quản lý tài chính trong doanh nghiệp.
Nói cách khác, quản lý tài chính cũng như mọi quá trình quản lý khác, là
nền kinh tế - “bàn tay vô hình” thì cũng cần có “bàn tay hữu hình” của Nhà nước
can thiệp điều tiết thị trường với một mức độ hợp lý tuỳ thuộc vào mỗi nền kinh
tế. Thông qua các công cụ chủ yếu như pháp luật, chính sách tài chính, tiền tệ,
giá cả,… nhằm tạo một môi trường kinh doanh lành mạnh cho tất cả mọi doanh
nghiệp. Do vậy, nguyên tắc hàng đầu của quản lý tài chính doanh nghiệp là tôn
trọng pháp luật. Muốn vậy nhà quản lý tài chính cần hiểu pháp luật để làm theo
đồng thời có định hướng kinh doanh trong ngành lĩnh vực được Nhà nước
khuyến khích, ưu đãi.
3.2. Nguyên tắc hạch toán kinh doanh.
Trong nền kinh tế thị trường buộc các doanh nghiệp phải hướng tới và đạt
cho được mục tiêu cuối cùng là tối đa hoá lợi nhuận. Mục tiêu này thống nhất
với yêu cầu tối cao của nguyên tắc hạch toán kinh tế là lấy thu bù chi, có doanh
lợi. Vì thế, nguyên tắc hạch toán kinh tế lúc này không chỉ là điều kiện để thực
hiện mà đã trở thành yêu cầu bắt buộc các doanh nghiệp phải thực hiện nếu như
doanh nghiệp không muốn bị phá sản.
3.3. Nguyên tắc giữ chữ “tín”.
Trong kinh doanh giữ chữ “tín” không chỉ là một tiêu chuẩn đạo đức mà
còn là một nguyên tắc cần phải hết sức tuân thủ để tạo được mối quan hệ vững
chắc với các chủ thể khác trong nền kinh tế đảm bảo sự phát triển bền vững của
doanh nghiệp. Theo nguyên tắc này, doanh nghiệp phải nghiêm túc tôn trọng và
thực hiện các kỷ luật thanh toán, chi trả các hợp đồng kinh tế, các cam kết về góp
vốn đầu tư, và phân chia lợi nhuận đồng thời cũng phải cảnh giác và có các biện
pháp ngăn ngừa sự “bội tín” của các đối tác.
3.4. Nguyên tắc an toàn và hiệu quả.
Mức rủi ro và mức lợi nhuận thường tỷ lệ thuận với nhau trong các
phương án đầu tư. Vì thế, công việc của các nhà quản lý tài chính là căn cứ vào
các điều kiện hiện tại để đưa ra các quyết định đầu tư vừa hiệu quả vừa đảm bảo
tính an toàn. Ngoài ra, để bảo đảm nguyên tắc an toàn thì các doanh nghiệp luôn
kinh doanh là chuyên doanh hay tổng hợp sẽ ảnh hưởng tới khả năng linh hoạt
trong việc đổi mới công nghệ, mặt hàng kinh doanh cho phù hợp với yêu cầu của
thị trường và sự phát triển chung của nền kinh tế.
Thứ hai là đặc điểm lĩnh vực kinh doanh. Điều này ảnh hưởng tới cơ cấu
vốn của doanh nghiệp, tốc độ luân chuyển vốn kinh doanh và nhu cầu vốn của
doanh nghiệp. Các doanh nghiệp thương mại thì thường có vốn và tốc độ luân
chuyển của vốn lớn hơn là một doanh nghiệp sản xuất. Các doanh nghiệp trong
lĩnh vực xây dựng cơ bản thường cần vốn lớn hơn so với những doanh nghiệp
khác.
Thứ ba là đặc điểm thời vụ và chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh càng ngắn thì lượng vốn lưu động càng nhỏ,
ít biến động tạo thuận lợi cho việc cân đối thu và chi cũng như việc đảm bảo đầy
đủ và kịp thời vốn kinh doanh cho doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp có chu kỳ
kinh doanh dài và hoạt động mang tính thời vụ thì lượng vốn lưu động cần cũng
lớn hơn và thường biến động nên gây khó khăn cho việc đảm bảo đầy đủ và kịp
thời vốn kinh doanh.
III. NỘI DUNG CỦA QUẢN LÝ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP.
1. Phân tích tài chính- hoạch định và kiểm tra tài chính.
1.1. Phân tích tài chính.
1.1.1. Khái niệm phân tích tài chính.
Để hoạch định tài chính một cách hiệu quả và chính xác, nhà quản lý tài
chính cần hiểu và nắm rõ tình hình tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ và
hiện tại. Vì thế, bước phân tích tài chính là hết sức cần thiết và quan trọng, qua
đó các nhà quản lý tài chính sẽ có được một cái nhìn tổng quát về tình hình tài
chính của doanh nghiệp, ưu nhược điểm của doanh nghiệp trong kinh doanh từ
việc huy động và đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh tới việc sử dụng các
nguồn vốn đó như thế nào; từ những khó khăn, rủi ro của doanh nghiệp cho tới
Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán.
Nhóm chỉ tiêu này thể hiện khả năng trả nợ của doanh nghiệp, nếu chỉ số
này tốt cho thấy tình hình tài chính của doanh nghiệp là lành mạnh và ngược lại.
Các hệ số này lớn hơn kỳ trước là một dấu hiệu tốt và không nên nhỏ hơn 1.
Hệ số thanh toán hiện
hành (H)
Tài sản lưu động
Nợ ngắn hạn
=
Đơn vị tính: Lần
Thể hiện khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn từ tài sản lưu động
của doanh nghiệp.
Hệ số thanh toán nhanh
=
Tiền + các khoản phải thu
Nợ ngắn hạn.
Đơn vị tính: Lần
Thể hiện khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn từ các tài sản lưu
động có tính thanh khoản cao của doanh nghiệp.
Nhóm chỉ tiêu về cơ cấu tài chính.
trong tổng nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Tức là nguồn vốn mà doanh
nghiệp sử dụng để kinh doanh chủ yếu là bằng nguồn vốn đi vay hay nguồn vốn
tự có của các chủ sở hữu doanh nghiệp. Hệ số này càng nhỏ thì càng tốt vì như
vậy sẽ đảm bảo tính bền vững của nguồn vốn kinh doanh và doanh nghiệp sẽ
không phải chụi áp lực trả lãi vay.
Hệ số cơ cấu tài sản
=
Tài sản cố định hoặc Tài sản lưu động
∑ Tài sản.
Đơn vị tính: Lần
Hệ số cơ cấu nguồn vốn
=
∑ Vốn chủ sở hữu
∑ Nguồn vốn
Đơn vị tính: Lần
Nhóm chỉ tiêu về năng lực hoạt động.
Nhóm chỉ tiêu này đo lường hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Các
hệ số này cao hơn kỳ trước là một dấu hiệu tốt và chúng thường khác nhau đối
với các ngành kinh doanh khác nhau, thường thì ngành thương mại coa hơn
=
Đơn vị tính: Lần
Kỳ thu tiền bình quân
Các khoản phải thu
Doanh thu bình quân 1 ngày
=
Đơn vị tính: Lần
Nhóm chỉ tiêu về lợi nhuận và phân phối lợi nhuận.
Nhóm chỉ tiêu về lợi nhuận bao gồm:
Hệ số sinh lời doanh thu
=
Lợi nhuận sau thuế
Doanh thu thuần
Đơn vị tính: Lần
Một doanh nghiệp có doanh thu lớn song lợi nhuận chưa hẳn đã lớn vì thế
hệ số này cho phép nhà quản lý biết rằng có bao nhiêu phần trong doanh thu là
=
Lợi nhuận đem chia
Số lượng cổ phiếu thường
Đơn vị tính: Lần
1.2. Hoạch định tài chính.
Hoạch định tài chính là bước đầu tiên, có tính quyết định tới sự thành công
trong việc thực hiện các bước tiếp theo của quá trình quản lý tài chính, giúp các
nhà quản lý tài chính lập kế hoạch và dự báo tài chính của doanh nghiệp trong
tương lai. Song kết quả của bước này lại phụ thuộc rất nhiều vào kết quả của
việc phân tích tài chính doanh nghiệp đã nêu ra ở trên vì việc phân tích tài chính
đã đưa ra một bức tranh tổng thể về tình hình tài chính của doanh nghiệp ở hiện
tại và trong quá khứ.
Hoạch định tài chính chỉ là một trong nhiều loại kế hoạch của doanh
nghiệp như kế hoạch sản xuất, kế hoạch lao động, kế hoạch tiêu thụ… Nhưng
mục đích cuối cùng của mọi kế hoạch trong doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận
(tài sản của cổ đông) và hoạch định tài chính là sự thể hiện cụ thể nhất việc
hướng tới mục tiêu này.
Quá trình hoạch định tài chính doanh nghiệp nói chung có 5 bước cơ bản:
Bước 1:
Dự báo các báo cáo tài chính (bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả
kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ) theo phương pháp phổ biến nhất là
phương pháp dự báo theo tỷ lệ doanh thu. Tức là chúng ta dựa vào tốc độ tăng
trọng nhất, vì thế khi tiến hành quá trình hoạch định tài chính doanh nghiệp cần
chú ý tới ba bước này.
1.3. Kiểm tra tài chính.
Kiểm tra tài chính là kiểm tra bằng đồng tiền thông qua các chỉ tiêu tài
chính trong việc phân phối và sử dụng nguồn tài chính để tạo lập và sử dụng các
quỹ tiền tệ của doanh nghiệp. Nhằm ngăn ngừa và kịp thời phát hiện nếu có tồn
tại trong hoạt động kinh doanh, trong việc thực hiện chính sách quản lý và tuân
thủ luật tài chính, từ đó đưa ra các điều chỉnh nhằm đảm bảo việc thực hiện kế
hoạch tài chính, đồng thời phù hợp với những biến động của môi trường.
Hoạt động kiểm tra tài chính cần tuân thủ một số nguyên tắc cơ bản như
nguyên tắc tuân thủ pháp luật, nguyên tắc chính xác, nguyên tắc khách quan,
công khai và thường xuyên… trong quá trình thực hiện các nội dung kiểm tra.
Kiểm tra tài chính gồm ba loại cơ bản:
Một là kiểm tra trước khi thực hiện kế hoạch tài chính: được tiến hành
trước khi thực hiện kế hoạch tài chính đưa ra trong phần hoạch định tài chính
doanh nghiệp, nhằm đảm bảo rằng các dự định, mục tiêu về tài chính trong kế
hoạch tài chính là đúng đắn, không phi thực tế, phù hợp với tiềm lực thực tế của
doanh nghiệp, đồng thời cũng đảm bảo rằng những dự định, mục tiêu này thống
nhất với chiến lược và mục tiêu phát triển chung của doanh nghiệp.
Hai là kiểm tra thường xuyên khi thực hiện kế hoạch tài chính: được
tiến hành thường xuyên, liên tục trong quá trình kinhh doanh (thực hiện kế hoạch
tài chính). Thông qua đó đánh giá việc thực hiện kế hoạch tài chính, thấy được
ưu điểm và những gì còn tồn tại trong hoạt động quản lý tài chính của doanh
nghiệp.
Ba là kiểm tra sau khi thực hiện kế hoạch tài chính: so sánh, đối chiếu
các chỉ tiêu thực tế của doanh nghiệp với các chỉ tiêu kinh tế- xã hội, đồng thời
so sánh, đối chiếu với các chỉ tiêu trong kế hoạch tài chính để đánh giá mức hoàn
thành kế hoạch tài chính. Trên cơ sở đó rút ra kinh nghiệm nhằm hoàn thiện khả
Thanh toán cho nhà
cung cấp
Ghi giảm số dư tiền
trong tài khoản
Độ lớn khả dụng của tiền mặt
Sơ đồ 1: Phạm vi của quản lý tiền mặt.
Các nhà quản lý tài chính ngày này thường thích nắm giữ chứng khoán
khả nhượng hơn tiền mặt vì khi cần thiết thì việc chuyển đổi từ chứng khoán khả
nhượng thành tiền mặt là hết sức đơn giản và dễ dàng, nghĩa là chứng khoán khả
nhượng hoàn toàn có thể thực hiện được các chức năng của tiền mặt như thực
hiện giao dịch, dự phòng hay đầu cơ. Mặt khác, trong khi tiền mặt tự bản thân nó
không sinh lời thì chứng khoán khả nhượng vẫn đem lại một mức lợi nhuận mặc
dù không cao lắm, tức là chi phí cơ hội của việc nắm giữ chứng khoán khả
nhượng là thấp hơn so với nắm giữ tiền mặt.
2.2. Quản lý khoản phải thu.
Khoản phải thu hình thành từ chính sách bán hàng tín dụng của doanh
nghiệp. Do tính cạnh tranh trên thị trường ngày càng lớn nên các doanh nghiệp
buộc phải có biện pháp nhằm tăng thị phần của mình và chính sách bán hàng tín
dụng là một trong những chính sách làm tăng tính cạnh tranh của doanh nghiệp
không dựa vào giá, vì thế nó cũng giúp doanh nghiệp tránh khỏi cuộc cạnh tranh
về giá. Việc bán hành tín dụng làm gia tăng lượng hàng bán, tăng tốc độ chuyển
hoá tồn kho, tăng cường mối quan hệ với khách hàng. Nhưng đồng thời nó cũng
có những bất lợi nhất định. Thứ nhất, nó làm tăng chi phí cho bán hàng, quản lý
các khoản phải thu, thu nợ; Thứ hai, bán hàng tín dụng làm tăng khoản phải thu
vì thế buộc các nhà quản lý tài chính phải tìm thêm nguồn tài trợ; Thứ ba, các