Chuyên đề thực tập
1
TS. Nguyễn Tiến Dũng
MỞ BÀI
Trong bối cảnh đổi mới và hội nhập, Việt Nam càng khẳng định vị
trí của mình trên trường quốc tế, tốc độ tăng trưởng kinh tế trong những
năm gần đây trên 8% (đứng thứ ba châu Á sau Trung Quốc và Ấn Độ), thu
hút các nguồn đầu tư trực tiếp và gián tiếp tăng kỷ lục, Việt Nam được xem
là điểm đến an toàn đối với các nhà đầu tư. Trước những thành tựu đó, đã
tạo ra rất nhiều cơ hội trong vấn đề giải quyết việc làm, không chỉ là vấn đề
thu hút lao động tại chỗ, mà còn là di cư lao động ra các nước trên thế giới.
Lao động- việc làm là một trong những vấn đề kinh tế- xã hội quan
trọng, góp phần to lớn vào sự phát triển có hiệu quả của nền kinh tế của
mỗi quốc gia. Đối với các nước đang phát triển như nước ta thì vấn đề giải
quyết việc làm ngày càng trở nên quan trọng và bức xúc. Với một nguồn
lao động dồi dào nhưng chất lượng lao động lại thấp (về trình độ chuyên
môn, tác phong công việc). Được sự quan tâm của Nhà nước và các cấp
chính quyền, vấn đề giải quyết việc làm đã được thực hiện trong “Chương
trình quốc gia về việc làm”. Nhà nước tạo mọi cơ hội và môi trường bình
đẳng để tạo việc làm và tự tạo việc làm; xây dựng chính sách, phát triển thị
trường lao động trong và ngoài nước để người lao động chủ động tìm việc.
Là một tỉnh nằm ở miền Bắc Trung Bộ, Thanh Hoá có nhiều thế
mạnh về địa lý, là đầu mối quan trọng trong trục hành lang Đông- Tây; cửa
ngõ ra biển Đông và từ biển Đông vào đất liền của Lào, Đông Bắc
Campuchia và Đông Bắc Thái Lan. Người dân trong tỉnh rất chịu khó, sáng
tạo, cần cù… Tuy vậy, Thanh Hoá vẫn là một tỉnh còn nhiều khó khăn,
thiên nhiên khắc nghiệt, thường xuyên gánh chịu thiên tai, kinh tế phát
khăn cho cả chính quyền địa phương nơi đi và nơi đến trong vấn đề quản lý
nguồn dân cư này, tình trạng chặt phá rừng bừa bãi, gây mất mỹ quan
đường phố…
Do đó, nghiên cứu vấn đề di dân để thấy được mặt tích cực và tiêu
cực, từ đó có hướng giải quyết đối với từng nguồn di dân này cho hợp lý là
vấn đề quan trọng đối với tỉnh trong Chương trình giải quyết việc làm.
Ngoài ra nó còn có ý nghĩa trong vấn đề chuyển dịch cơ cấu lao động theo
hướng tích cực.
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, trong quá trình thực tập tại Sở
Lao động- thương binh xã hội, em đã đi sâu nghiên cứu đề tài “Vai trò của
di dân trong vấn đề giải quyết việc làm ở tỉnh Thanh Hoá” với mục đích:
- Phân tích và đánh giá thực trạng việc làm cũng như thực trạng di
dân ở Thanh Hoá.
Lê Thị Thùy
Kinh tế Phát triển 46
Chuyên đề thực tập
3
TS. Nguyễn Tiến Dũng
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm giải quyết việc làm, ổn định
dân cư trong tỉnh.
Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Tỉnh Thanh Hoá.
- Về thời gian: Phân tích thực trạng di dân và việc làm trong
Việt Nam thì nam từ 15-60, nữ từ 15-55) có khả năng lao động và trên độ
tuổi lao động đang làm việc trong các lĩnh vực khác nhau trong nền kinh tế.
Lực lượng lao động: Là một bộ phận dân số trong độ tuổi lao động có
việc làm, những người thất nghiệp và dân số trên độ tuổi lao động đang làm
việc trong các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế.
Thất nghiệp là tình trạng khi một số người trong độ tuổi lao động, có
khả năng lao động và muốn có việc làm nhưng không thể tìm được việc
làm.
1.1.2. Khái niệm việc làm
Có rất nhiều khái niệm về việc làm. Theo quan niệm của tổ chức Lao
động quốc tế (ILO) về người có việc làm: “Là những người đang làm một
việc gì đó được trả tiền công, hoặc người tham gia vào các hoạt động mang
tính chất tự thoả mãn lợi ích hay thay thế thu nhập của gia đình”
Ỏ Việt Nam trong thời kỳ quản lý nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch hoá tập
trung trước đây đã quan niệm việc làm phải là những công việc đòi hỏi một
chuyên môn nào đó, tạo ra thu nhập nhất định. Người có việc làm phải là
người thuộc biên chế nhà nước, hoặc làm việc trong hợp tác xã. Với cách
hiểu đó, khái niệm việc làm đã không tính đến những người lao động đang
làm việc ở các khu vực sau:
- Khu vực kinh tế tư nhân, cá thể, tự làm việc kể cả những người chưa
đủ tuổi hoặc đã quá tuổi lao động theo quy định chung của Nhà nước.
- Làm việc tại nhà ( nội trợ, chăm non gia đình…).
Lê Thị Thùy
Kinh tế Phát triển 46
Chuyên đề thực tập
5
việc làm thường xuyên trong một năm.
Lê Thị Thùy
Kinh tế Phát triển 46
Chuyên đề thực tập
6
TS. Nguyễn Tiến Dũng
- Việc làm đủ thời gian và việc làm không đủ thời gian: Căn cứ vào số
giờ thực hiện làm việc trong một tuần.
- Việc làm chính và việc làm phụ: Căn cứ vào khối lượng thời gian
hoặc mức độ thu nhập trong việc thực hiện một công việc nào đó.
1.2. Di dân
1.2.1. Khái niệm di dân.
Biến động dân số bao gồm hai cấu thành cơ bản là tăng tự nhiên và
tăng cơ học. Tăng tự nhiên của dân số gắn liền với quá trình sinh học đó là:
Sinh ra, tồn tại, và mất đi của con người theo thời gian. Quá trình nay thông
qua các hiện tượng sinh và chết. Biến động dân cư còn do tác động cơ học
của quá trình di dân. Trong mọi quốc gia, những luồng di cư tạo nên sự
phân bố lại dân cư, đồng thời làm tăng mật độ dân cư giữa các vùng miền
địa lý. Di dân về bản chất không phải là hiện tượng sinh học như sinh, chết.
Di dân có thể diễn ra nhiều lần, lặp đi, lặp lai của trong cuộc đời của một cá
nhân trong khi sinh đẻ và tử vong chỉ diễn ra một lần.
Di dân là quá trình phân bố lại lực lượng lao động và dân cư, là nhân
tố quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội. Tại những nước
thay đổi các quan hệ xã hội của người di chuyển.
Mặc dù có rất nhiều khái niệm về di dân nhưng có thể tóm tắt một số
điểm chung sau:
- Người di dân di chuyển ra khỏi một địa điểm nào đó và đến một nơi
khác sinh sống. Nơi đi và nơi đến phải được xác định là một vùng lãnh thổ
hay một đơn vị hành chính.
- Người di chuyển bao giờ cũng có mục đích, họ đến một nơi nào đó và
định cư tại nơi đó trong một khoảng thời để thực hiện mục đích đó. Nơi
xuất phát là đầu đi, nơi ở là đầu đến.
- Khoảng thời gian ở lại trong bao lâu là một trong những tiêu chí xác
định di dân. Tuỳ theo mục đích nghiên cứu và loại hình di dân mà thời gian
có thể là: Một năm, nhiều năm…
1.2.2. Phân loại di dân.
Có rất nhiều cách phân loại di dân theo các góc độ khác nhau và tuỳ
từng mục đích nghiên cứu.
1.2.2.1. Theo khoảng cách di chuyển:
Đây là cách phân loại di dân quan trọng thông qua sự phân biệt đặc
điểm nơi đến và nơi đi:
- Di dân từ nông thôn- đô thị.
- Di dân nông thôn- nông thôn.
- Di dân đô thị- nông thôn.
- Di dân đô thị- đô thị.
Lê Thị Thùy
Kinh tế Phát triển 46
Chuyên đề thực tập
8
đình quyết định, không có hoặc không phu thuộc vào kế hoạch và sự hỗ trợ
của nhà nước và các cấp chính quyền. Di dân tự phát phản ánh tính năng
Lê Thị Thùy
Kinh tế Phát triển 46
Chuyên đề thực tập
9
TS. Nguyễn Tiến Dũng
động và vai trò độc lập của cá nhân và hộ gia đình trong việc giải quyết đời
sống, tìm công an việc làm.
1.2.3. Các lý thuyết di dân.
Nghiên cứu di dân mới chỉ bắt đầu dưới thời kỳ phát triển tư bản chủ
nghĩa Phương Tây với sự hợp tác của nhiều ngành khoa học khác nhau (địa
lý nhân văn, kinh tế, lịch sử, thống kê, toán học…). Mặc dù các lý thuyết
này được vận dụng cho các luồng di dân khác nhau (nông thôn- thành thị,
nông thôn- nông thôn, di dân trong nước, di dân quốc tế…), song, hầu hết
các lý thuyết về di dân đều tập trung trả lời câu hỏi: Tại sao người dân di
chuyển? Các nhân tố nào quyết định di chuyên? Có sự khác biệt giữa người
di chuyển và không di chuyển, mối quan hệ giữa các cộng đồng dân cư?...
1.2.3.1. Lý thuyết Micheal P.Todaro.
Năm 1971 Todaro đã phát triển lý thuyết kinh tế về di dân và giải
thích sự chênh lệch về tiền lương và cơ hội việc làm giữa hai khu vực nông
thôn và đô thị. Mô hình của ông dựa vào những giả thuyết sau:
- Thứ nhất, giả thiết rằng di dân chủ yếu là một hiện tượng kinh tế
mà đối với cá nhân người di cư có thể là một quyết định hoàn toàn hợp lý
- Đối với mỗi dòng di dân đều tồn tại những dòng di chuyển ngược
lại để bù đắp.
- Trong một quốc gia những người di dân gốc thành phố, thị xã
thường ít di chuyển hơn so với những người ở các vùng nông thôn.
- Sự di chuyển từ vùng sâu, vùng xa vào các thành phố lớn diễn ra
theo các giai đoạn.
- Động lực chính của di dân là kinh tế.
- Phần lớn nữ giới di dân theo khoảng cách ngắn hơn nam giới.
1.2.3.3. Lý thuyết đô thị hoá:
Lý thuyết này ra đời nhằm nhấn mạnh mối quan hệ giữa đô thị hoá
và thu nhập bình quân. Lý thuyết này cho rằng những người dân nông thôn
quyết định ra đi vì họ bị hấp dẫn bởi việc làm và đồng lương cao ở thành
phố. Họ sẵn sàng chấp nhận rủi ro hay thất nghiệp ngay tại thị trường lao
động ở thành phố trong thời gian chờ cơ hội thu nhập và việc làm với mức
lương cao hơn nhiều so với khu vực nông thôn.
1.2.3.4. Lý thuyết lực “hút- đẩy”
Everetts Lee (1966) đã xây dựng lý thuyết này trên cơ sở tóm tắt các
quy luật di dân của Ravenstein và phân loại các nhóm ảnh hướng đến quá
trình di chuyển. Ông thừa nhận rằng động lực của di dân bị chi phối chủ
yếu bởi các yếu tố kinh tế, văn hoá, xã hội ở những cấp độ khác nhau, song
theo ông có ba nhóm yếu tố cơ bản cần xem xét khi phân tích quyết định di
Lê Thị Thùy
Kinh tế Phát triển 46
Chuyên đề thực tập
11
cư trú.
Lê Thị Thùy
Kinh tế Phát triển 46
Chuyên đề thực tập
12
TS. Nguyễn Tiến Dũng
Mong muốn đến một nơi ở mới nhằm thay đổi môi trường xã hội và
xây dựng các mối quan hệ xã hội tốt đẹp hơn.
1.3. Vai trò của di dân trong vấn đề giải quyết việc làm
Đứng trên góc độ vĩ mô có thể thấy: Di dân góp phần phân bố lại lao
động để khai thác tốt hơn các tiềm năng của cả đầu đến và đầu đi: đất đai,
rừng, mặt nước ven biển, các cơ hội kinh tế… Thúc đẩy phát triển kinh tế
của đất nước.
Sơ đồ1.1: Vai trò của di dân
Lê Thị Thùy
Kinh tế Phát triển 46
Chuyên đề thực tập
13
mức sống.
Thúc đẩy sự giao lưu, hoà
nhập và phát triển văn hoá
giữa các vùng, các cộng đồng
dân cư.
Vai trò của di dân
Đến
Lê Thị Thùy
Nguồn lao
động
Tăng nguồn
lao động.
Đi
Kinh Giảm
tế Phát
triển 46
áp lực
giải quyết việc
làm.
Chuyên đềKinh
thựctế tập
vùng,
các mạnh
cộng đồng
tế chưacác
phát
triển
hay
dân cư.
nói cách khác là
kinh tế chưa phát triển tương xứng với tiềm năng dân số thì vấn đề giải
quyết việc làm rất khó khăn. Có hai cách giải quyết, hoặc chính quyền địa
phương có những chính sách để giải quyết việc làm hoặc người dân tự tìm
việc làm. Nhưng với nguồn lực hạn hẹp thì con số được giải quyết việc làm
chỉ là hữu hạn. Như vậy, di dân có vai trò rất quan trọng trong giải quyết
việc làm. Đây có thể là những luồng di dân chính thức theo chủ trương của
nhà nước hay xuất khẩu lao động hoặc những luồng di dân không chính
thức như di dân tự do đều có những tác động tích cực nhằm giảm áp lực
việc làm.
Mặt khác, những người di dân này sau khi đi làm xa đều gửi tiền về
nhà. Khoản tiền này chủ yếu được sử dụng cho tiêu dùng thúc đẩy các
doanh nghiệp nơi di dân phát triển, tức là mở rộng sản xuất thuê thêm lao
động. Tuy nhiên số người di chuyển đi cũng làm cho tiêu dùng giảm.
Nhưng sự khác biệt ở đây là hàng hoá tiêu dùng. Nếu không di dân thì chủ
yếu là tiêu dùng tự định, còn khi có di dân thì hàng hoá ở đây chủ yếu là
các dịch vụ: nhà ở, y tế, đồ dùng trong nhà…
1.3.2. Nơi nhập cư.
Là nơi người nhập cư đến sinh sống và làm việc. Nguồn di cư này đáp
ứng kịp thời nhu cầu lao động cho các nông trường, các cơ sở sản xuất, các
về phía Nam, cách thành phố Hồ Chí Minh 1.560 Km. Phía Bắc giáp với ba
tỉnh Sơn La, Hoà Bình, Ninh Bình, phía Nam giáp với tỉnh Nghệ An, phía
Tây giáp với tỉnh Hủa Phăn (nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào), phía
Đông là Vịnh Bắc Bộ.
Thanh Hoá nằm trong vùng ảnh hưởng của những tác động từ vùng
kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, các tỉnh Bắc Lào và vùng trọng điểm kinh tế
Trung Bộ, ở vị trí cửa ngõ nối liền Bắc Bộ với Trung Bộ, có hệ thông giao
thông thuận lợi như: Đường sắt xuyên Việt, đường Hồ Chí Minh, các quốc
lộ 1A, 10, 45, 47, 217; cảng biển nước sâu Nghi Sơn và hệ thống sông ngòi
thuận tiện cho lưu thông Bắc Nam, với các vùng trong tỉnh và đi quốc tế.
Hiện tại, Thanh Hoá có sân bay Sao Vàng và đang dự kiến mở thêm sân
bay quốc tế sát biển phục vụ cho Khu kinh tế Nghi Sơn và khách du lịch.
2.1.1.2. Địa hình
Thanh Hoá có địa hình đa dạng, thấp dần từ Tây sang Đông, chia làm
3 vùng rõ rệt:
Lê Thị Thùy
Kinh tế Phát triển 46
Chuyên đề thực tập
16
TS. Nguyễn Tiến Dũng
- Vùng núi và Trung du có diện tích đất tự nhiên 839.037 ha, chiếm
75,44% diện tích toàn tỉnh, độ cao trung bình vùng núi từ 600- 700m, độ
dốc trên 25 độ; vùng trung du có độ cao trung bình 150- 200m, độ dốc từ
15- 20 độ.
17
TS. Nguyễn Tiến Dũng
Thanh Hoá có diện tích tự nhiên 1.112.033 ha, trong đó đất sản xuất
nông nghiệp 245.367 ha; đất sản xuất lâm nghiệp 553.999 ha; đất nuôi
trồng thuỷ sản 10.157 ha; đất chưa sử dụng 153.520 ha với các nhóm đất
thích hợp cho phát triển cây lương thực, cây lâm nghiệp, cây công nghiệp
và cây ăn quả.
Tài nguyên rừng:
Thanh hoá là một trong những tỉnh có tài nguyên rừng lớn với diện
tích đất có rừng là 484.246 ha, trữ lượng khoảng 16,64 triệu m 3 gỗ, hàng
năm có thể khai thác 50.000- 60.000 m 3. Rừng Thanh Hoá chủ yếu là rừng
cây lá rộng, có hệ thực vật phong phú đa dạng về họ, loài; có các loại gỗ
quý hiếm như: Lát, pơ mu, sa mu, lim xanh, táu, sến, vàng tâm, dổi, de, chò
chỉ. Các loại thuộc họ tre nứa gồm có: Luồng, nứa, vầu, giang, tre. Ngoài ra
còn có: Mây, song, dược liệu, quế, cánh kiến đỏ…Các loại rừng trồng có
luồng, thông nhựa, mỡ, bạch đàn, phi lao, quế, cao su. Thanh Hoá là tỉnh có
diện tích luồng lớn nhất cả nước với diện tích trên 50.000 ha.
Rừng Thanh Hoá cũng là nơi quần tụ và sinh sống của nhiều loài động
vật như: Hươu, nai, hoẵng, vượn, khỉ, lợn rừng các loài bò sát và các loài
chim… Đặc biệt ở vùng Tây nam của tỉnh có rừng quốc gia Bến En, vùng
Tây Bắc có các khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu, Phù Luông, Xuân Liên, là
những khu rừng đặc dụng, nơi tồn trữ và bảo vệ các nguồn gien động, thực
vật quý hiếm, đồng thời là các điểm du lịch hấp dẫn đối với du khách.
Tài nguyên biển:
Thanh Hoá có 102 km bờ biển và vùng lãnh hải rộng 17.000 km 2, với
những bãi cá, bãi tôm có trữ lượng lớn. Dọc bờ biển có 5 cửa lạch lớn,
thuận lợi cho tàu thuyền đánh cá ra vào. Đây cũng là những trung tâm nghề
39.765 km2, tổng lượng nước trung bình hàng năm 19,52 tỉ m 3. Sông suối
Thanh Hoá chảy qua nhiều vùng địa hình phức tạp, là tiềm năng lớn cho
phát triển thuỷ điện. Nước ngầm ở Thanh Hoá cũng rất phong phú về trữ
lượng và chủng loại bởi vì có đầy đủ các loại đất đá trầm tích, biển chất
mắc ma.
2.1.2. Tình hình kinh tế.
2.1.2.1. Về kinh tế:
- Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 10.5- 12%
- Thu nhập bình quân đầu người hàng năm đạt 510- 650 USD/ 1 năm.
- Tốc độ tăng trưởng nông, lâm, ngư nghiệp: 5,2- 5,8%/ 1 năm.
- Tốc độ tăng trưởng công nghiệp, xây dựng: 14,3- 16%/ 1 năm.
- Tôc độ tăng trưởng dịch vụ: 10,5- 12%/ 1 năm.
- Cơ cấu kinh tế: Nông, lâm, ngư nghiệp: 26%; Công nghiệp- xây dựng:
38,8%; Dịch vụ: 35,2%.
Lê Thị Thùy
Kinh tế Phát triển 46
Chuyên đề thực tập
19
TS. Nguyễn Tiến Dũng
2.1.2.2. Về cơ sở hạ tầng.
Thanh Hoá có hệ thống giao thông thuận lợi cả về đường sắt, đường
bộ và đường thuỷ:
- Tuyến đường sắt Bắc Nam chạy qua địa bàn Thanh Hoá dài 92 km
với 9 nhà ga, thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hoá và khách hàng.
20
TS. Nguyễn Tiến Dũng
Bảng 2.1: Dân số, nguồn lao động và chất lượng nguồn lao động.
Chỉ tiêu
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008
Dân số ở độ tuổi LĐ
Tổng
% so với
3.565.279
3.593.147
3.620.354
3.646.593
3.674.838
3.701.297
3.727.206
3.752.551
(người)
31,00
33,00
tạo nghề
11,56
12,9
14,3
15,6
17,0
18,5
20,2
21,7
Nguồn: - Cục thống kê Thanh Hoá
- Sở Lao động- TBXH
Quy mô dân số đông, lực lượng lao động dồi dào là sức mạnh của
tỉnh, là yếu tố cơ bản để mở rộng và phát triển sản xuất. Nhưng đối với một
tỉnh còn chậm phát triển, nguồn vốn trang thiết bị hạn chế, cở sở hạ tầng
yếu kém thì dân số đông và tăng nhanh lại gây sức ép về việc làm. Đây là
bài toán nan giải đã và đang tiếp tục được giải quyết.
Về chất lượng nguồn nhân lực, giữ vai trò quyết định nguồn nhân lực,
bao gồm: Sức khỏe, trình độ chuyên môn, văn hóa, ý thức, khả năng thích
nghi… tóm lại bao gồm thể lực và trí lực. Thể lực như: Chiều cao, cân
nặng (sức khỏe) độ bền, dẻo dai, sự tập trung trong công việcnăng
suất lao động. Mặc dù, trong thời gian gần đây thể lực đã được cải thiện
đáng kể nhưng nhìn chung so với cả nước thì vẫn còn kém. Tỷ lệ suy dinh
dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi cao 28,15%, tỷ lệ đói nghèo 27,02%, thu nhập
bình quân đầu người 662USD/ 1năm (năm 2007) … đã ảnh hưởng trực tiếp
và gián tiếp đến chất lượng nguồn lao động. Trình độ hiểu biết về bảo vệ
chăm sóc sức khỏe, giáo dục thấp, họ vừa không có điều kiện về vật chất
thời tỉnh cũng phải đối mặt với vấn đề giải quyết việc làm.
- Thanh Hóa có truyền thông hiếu học, trọng học, điều kiện khó khăn
cũng cố gắng vươn lên để cho con cái học hành đỗ đạt cao, có địa vị xã hội.
Điều này đã nâng cao tinh thần học tập, tuy nhiên lại làm thay đổi mục đích
học tập. Mặc dù được đào tạo bài bản, có trình độ học vấn, trang bị kiến
thức chuyên môn nhưng khả năng vận dụng, biến tri thức thành kỹ năng
nghề nghiệp yếu, khả năng chuyển từ “năng học” sang “năng hành” bị hạn
chế Làm mất đi ý nghĩa thực tiễn của việc học hành.
- Con người Thanh Hóa rất cần cù, thông minh, sáng tạo…nhưng khả
năng hợp tác, làm việc nhóm lại rất kém, mà đây là yếu tố rất quan trọng để
có thể phát huy được sức mạnh tập thể trong thời đại hiện nay. Con người
là sản phẩm của lịch sử vì vây, những phẩm chất hiện có là kết quả của một
Lê Thị Thùy
Kinh tế Phát triển 46
Chuyên đề thực tập
22
TS. Nguyễn Tiến Dũng
quá trình phát triển lâu dài. Do nền sản xuất tiểu nông kéo dài, mang nặng
yếu tố nhỏ nhoi, ghen ghết, đố kỵ những người vượt trội hơn mình, chỉ thấy
cái lợi trước mắt, cục bộ mà không thấy cái lợi lâu dài, toàn thể…
2.3. Thực trạng về di dân ở Thanh Hóa
2.3.1. Các yếu tố quyết định di dân.
2.3.1.1. Thực trạng về giải quyết việc làm của tỉnh.
Dự báo dân số tỉnh đến năm 2010 khoảng 3,8 triệu người, số lao động
tổng
2001 1.751.001 1.333.387 76,15
2002 1.812.541 1.349.074 74,42
2003 1.873.727 1.392.367 74,31
2004 1.927.330 1.406.950 73,0
2005 1.990.006 1.429.421 71,83
2006 2.048.508 1.413.470 69,0
2007 2.104.356 1.388.875 66,0
Nguồn: -Tổng cục thống kê Thanh hóa.
Công nghiệp
% so
Số người
với
192.260
206.086
213.230
222.992
240.592
297.034
357.740
tổng
10,98
11,37
11,38
11,57
a1. Nông- lâm- ngư nghiệp:
Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của ngành nông- lâm- ngư
nghiệp là 4,8- 5,2%/ năm. Để đạt được tốc độ tăng trưởng như trên, tỉnh đã
tập trung chuyển dịch cơ cấu mùa vụ, cơ cấu cây trồng, con nuôi theo
hướng tận dụng lợi thế của vùng và từng bước gắn với thị trường. Diện tích
một số cây công nghiệp: Mía, lạc, đậu tương… tăng khá nhanh. Trong nội
bộ ngành nông nghiệp đã có xu hướng chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ
trọng lao động trong trồng trọt giảm, tăng lao động trong chăn nuôi; Các
trang trại sản xuất chăn nuôi tổng hợp được hình thành và phát triển, đến
nay có gần 3.700 trang trại hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả, giải
quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động.
Ngành nghề tiểu thủ công nghiệp nông thôn được chú ý phát triển
nhanh như: Thêu ren, chế biến nông lâm sản, sản xuất vật liệu xây dựng,
hàng thủ công mỹ nghệ và các ngành nghề mây tre đan… đến nay toàn tỉnh
có hơn 200 làng nghề và gần 1000 hợp tác xã. Hàng năm các ngành nghề
Lê Thị Thùy
Kinh tế Phát triển 46
Chuyên đề thực tập
24
TS. Nguyễn Tiến Dũng
trong nông nghiệp, nông thôn đã tạo việc làm mới cho 15.000 người. Con
số này có xu hướng ngày càng giảm trong những năm tới. Nâng tổng số
người đang làm việc trong lĩnh vực nông- lâm- ngư nghiệp là 1.388.875
người, chiếm 66% tổng lao động đang làm việc trong toàn tỉnh.
b. Các chương trình hỗ trợ giải quyết việc làm.
b1. Chương trình xuất khẩu lao đồng.
Tỉnh Thanh Hoá được Bộ Lao động- TBXH đánh giá là tỉnh đứng
thứ hai về xuất khẩu lao động. Các thị trường xuất khẩu chính như:
Malaysia, Đài Loan, Hàn Quốc,Trung Đông…Trong giai đoạn 2001- 2005
tỉnh đã đưa được 14.984 người, phấn đấu trong giai đoạn 2006- 2010 tỉnh
đưa thêm 50.000 người. Có thể nói, công tác xuất khẩu lao động đã được
tỉnh quan tâm, khuyến kích, tạo điều kiện thông thoáng cho các doanh
nghiệp xuất khẩu lao động. Số tiền mà người tham gia xuất khẩu lao động
gửi về tiếp tục tham gia vào đầu tư phát triển kinh tế, tạo việc làm, xoá đói
giảm nghèo.
b2. Chương trình vay vốn giải quyết việc làm.
Trong điều kiện kinh tế thị trường, cơ hội tìm kiến việc làm trở nên
khó khăn hơn đối với những đối tượng yếu thế: Lao động nữ, lao động tàn
tật, lao động bị thu hồi đất nông nghiệp, lao động dân tộc thiểu số, lao nông
thôn. Do đó nhóm đối tượng này cần được sự hỗ trợ của Nhà nước và cộng
đồng để tạo việc làm. Trong đó có hỗ trợ về vốn vay từ Quỹ giải quyết việc
làm.
Trong những năm qua Quỹ hỗ trợ giải quyêt việc làm đã cho vay hơn
3.500 dự án, giải quyết việc làm mới cho hàng chục ngàn lao động, với
tổng kinh phí cho vay trong giai đoạn 2006- 2010 là 1.284.000 triệu đồng.
Các lĩnh vực cho vay chủ yếu là: Ngành nghề tiểu thủ công nghiệp (chiếm
tới 40% tổng số vốn cho vay), chăn nuôi…
b3. Một số chương trình khác.
- Đào tạo nghề: Nhằm nâng cao khả năng tự tạo việc làm, tự tìm việc
làm cho người lao động, ưu tiên hỗ trợ dạy nghề cho lao động dân tộc thiểu
số, lao động nông thôn, lao động người tàn tật.
Lê Thị Thùy