ĐỀ CƯƠNG PHẦN NGHỊ LUẬN văn học lớp 12 hay nhất - Pdf 37

ĐỀ CƯƠNG PHẦN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC LỚP 12
1. TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP - HỒ CHÍ MINH
Về tác phẩm này, các em ôn tập theo những dạng đề sau :
Dạng 1: Phân tích 1 đoạn trích: Đoạn đầu quan trọng nhất
Dạng 2: Cảm nhận/ bình luận/ phân tích 1 khía cạnh thuộc nội dung hoặc nghệ
thuật của bản tuyên ngôn
Dạng 3: Nghị luận ý kiến bàn về tác phẩm
Dạng 4: Phân tích tác phẩm/ đoạn trích, từ đó liên hệ thực tế ( dạng đề tích hợp
nghị luận xã hội
Ngoài ra có thể ôn đề đọc hiểu về đoạn trích trong TNĐL
Bài tập tham khảo :
Câu 1: Bình luận về sức thuyết phục của bản Tuyên ngôn độc lập- Hồ Chí
Minh.
Bài làm:
TNĐL là một tác phẩm chứa nhiều giá trị. Nhìn từ nhiều góc độ khác nhau, giá
trị nào của tác phẩm này cũng thật sâu sắc. Về mặt thể loại văn học, Tuyên Ngôn
Độc Lập là một áng văn chính luận hào hùng, mẫu mực, đáng lưu truyền muôn thuở.
Một trong những nét nổi bật của bản Tuyên Ngôn Độc Lập là sự lập luận sắc sảo,
chặt chẽ tạo nên một sức thuyết phục rất lớn. Xuất phát từ quan điểm sáng tác và đặc
trưng thể loại của tác phẩm này, chúng ta sẽ thấy được cội nguồn của sức thuyết
phục ấy.
Như mọi người đều biết, Tuyên Ngôn Độc Lập là một tác phẩm chính luận.
Văn chính luận thuyết phục người ta bằng những lý lẽ, nếu đánh địch thì cũng đánh
địch bằng những lý lẽ. Sức mạnh của nó là ở những lý lẽ đanh thép, những lập luận
chặt chẽ, những bằng chứng không ai chối cãi được. Văn chính luận nếu có dùng đến
hình ảnh, có gợi đến tình cảm thì chẳng qua cũng chỉ để phụ giúp thêm cho sự thuyết
phục bằng lý lẽ mà thôi. Chúng ta sẽ nói đến cái hay, cái tài của Tuyên Ngôn độc

Page 1



Page 2


Tuyên Ngôn Nhân quyền và Dân quyền từng làm vẻ vang cho truyền thống tư tưởng
và văn hoá của những dân tộc ấy. Cách nói, cách viết như thế là vừa khéo léo, vừa
kiên quyết. Khéo léo vì nô tỏ ra rất trân trọng những danh ngôn bất hủ của người
Pháp, người Mỹ .Kiên quyết vì nhắc nhở họ đừng có phản bội tổ tiên mình, đừng có
làm vấy bùn lên lá cờ nhân đạo của những cuộc cách mạng vĩ đại của nước Pháp,
nước Mỹ, nếu nhất định tiến quân xâm lược Việt Nam.
Ngoài ra mở đầu bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Việt Nam mà nhắc đến hai bản
tuyên ngôn nổi tiếng trong lịch sử nhân loại của hai nước lớn như thế, thì cũng cd
nghĩa là đặt ba cuộc cách mạng ngang bằng nhau, ba nền độc lập ngang bằng nhau,
ba bản Tuyên Ngôn ngang bằng nhau. Một cách kín đáo hơn, bản Tuyên Ngôn của
Hồ Chí Minh dường như muốn gợi lại niềm tự hào của tác giả bài Bình Ngô Đại
cáo ngày xưa, khi mở đầu tác phẩm bằng hai vế cân xứng như để đặt ngang
hàng Triệu Đinh. Lê, Lý, Trần của Nam quốc với Hán, Đường, Tông, Nguyên của
Bắc quốc.Mà đăng đối cân xứng cũng là phải, vì cuộc Cách mạng tháng Tám 1945
thực ra đã giải quyết đúng những nhiệm vụ của hai cuộc cách mạng của Mỹ (1776)
và của Pháp (1789). Bản Tuyên Ngôn đã nêu rõ: “Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích
thực dân gần một trăm năm nay đã gây dựng nên nước Việt Nam độc lập”. Đó cũng
là yêu cầu đặt ra cho cuộc cách mạng của nước Mỹ: đấu tranh giải phóng các dân tộc
thuộc địa Bắc Mỹ ra khỏi ách thực dân Anh. Bản Tuyên Ngôn cũng viết: “Dân ta
lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hoà”.
Đấy cũng là tinh thần cơ bản của cuộc cách mạng nhân quyền và dân quyền của Pháp
thế kỷ XVIII.
Nhưng để đối thoại với bọn đế quốc xâm lược lúc bấy giờ,vấn đề hàng đầu là
vấn đề độc lập dân tộc. Điều đó giải thích vì sao bản Tuyên Ngôn Độc Lập đã mở
đầu như thế: “Tất cả mọi người sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những
quyền không ai có thể xâm phạm được. Trong những quyền ấy có quyền được sống,
quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Lời bất hủ ấy trong bản Tuyên Ngôn Độc

chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật”.
Thực dân Pháp tuyên bố Đông Dương là thuộc địa của chúng và chúng có
quyền trở lại Đông Dương ư? Nhưng Đông Dươngcó còn là thuộc địa của chúng nữa
đâu? Bản Tuyên Ngôn vạch rõ: ”Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành
thuộc địa của Nhật chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng
Minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền lập nên nước Việt Nam
Page 4


dân chủ cộng hoà. Sự thật là dàn ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật chứ không
phải từ tay Pháp”. Luận điểm này, đứng về ý nghĩa pháp lý cực kỳ quan trọng. Nó sẽ
dẫn tới lời tuyên bố tiếp theo của bản Tuyên Ngôn: ”Bở thế cho nên, chúng tôi lâm
thời chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam tuyên bố
thoát ly hẳn quan hệ với thực dân Pháp, xoá bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về
nước Việt Nam. Xoá bỏ mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam”. Sức mạnh
của chính nghĩa bao giờ cũng đồng thời là sức mạnh của sự thật. Và không có lý lẽ
nào có sức thuyết phục cao hơn là lý lẽ của sự thật. Vì thế Người viết Tuyên ngôn
luôn luôn láy đi láy lại hai chữ “sự thật”: “Sự thật là…” “sự thật là…” Và cuối cùng
thì nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự
do độc lập”… Đấy là những điệp khúc tiếp nối nhau tăng thêm âm hưởng hùng biện
của bản Tuyên Ngôn. Đấy là hệ thống lý lẽ bác bỏ luận điệu của bọn đế quốc, thực
dân. Còn đối với dân tộc Việt Nam? Dân tộc ta có xứng đáng được hưởng độc lập tự
do hay không, có đủ tư cách làm chủ đất nước mình hay không? Bản Tuyên Ngôn đã
đưa ra những lý lẽ không phải để bác bỏ mà để khẳng định:
Nếu thực dân Pháp có tội phản bội Đồng Minh, hai lần bán rẻ Đông Dương
cho Nhật, thì dân tộc Việt Nam đại diện là Việt Minh đã đứng lên chống Nhật cứu
nước và cuối cùng giành chủ quyền từ tay phát xít Nhật.
Nếu thực dân Pháp bộc lộ tính chất đê hèn, tàn bạo và phản động của chúng
hành động “Thẳng tay khủng bố Việt Minh, thậm chí khi thua chạy, chúng còn nhẫn
tâm giết một số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng’ thì nhân dân ta vẫn giữ

độc lập, tự do trong thời đại ngày nay đối với dân tộc và mỗi cá nhân.
Định hướng cách làm:
Mở bài:
+Giới thiệu tác giả tác phẩm
+Giới thiệu vấn đề nghị luận:
Vấn đề cần nghị luận là: Từ Tuyên ngôn độc lập (Hồ Chí Minh), suy nghĩ về
độc lập – tự do trong thời đại ngày nay đối với dân tộc và mỗi cá nhân
Thân bài : có thể trình bày theo định hướng sau:
+ Khái quát những nội dung chính của bản tuyên ngôn (Các luận điểm chính
của bản tuyên ngôn) trong hoàn cảnh lịch sử- Cách mạng tháng Tám:
-Hoàn cảnh lịch sử: Cách mạng tháng Tám thành công, thực dân Pháp lâm le trở lại
Việt

Nam…
Page 6


– Các luận điểm chính của bản tuyên ngôn: nêu nguyên tắc về quyền bình đẳng giữa
các dân tộc, tố cáo tội ác thực dân trong 80 năm qua, phủ nhận quyền của Pháp đối
với Việt Nam, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và thể hiện quyết tâm bảo
vệ nền độc lập.
+ Suy nghĩ về độc lập tự do trong thời đại ngày nay (Trong mỗi giai đoạn lịch
sử,

độc

lập

tự



đề:

-Với mỗi cá nhân: suy nghĩ, hành động luôn trên tinh thần của công dân nước Việt
Nam độc lập tự hào dân tộc. Trong đời sống cá nhân, độc lập tự do có ý nghĩa hết sức
lớn lao khi ta thực sự sống là chính mình.
Câu 3 : Đọc đoạn trích Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh và trả lời câu hỏi
Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình
đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái
hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.
Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ
nào.
Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở
Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc
ta đoàn kết.
Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những
người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong
những bể máu.
Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.
Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.
Page 7


Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn,
thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên
liệu.
Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.
Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân
buôn trở nên bần cùng.
Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta

12, tập một), có ý kiến cho rằng: Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện lịch sử vô giá.
Nhưng cũng có ý kiến nhận định: Tuyên ngôn Độc lập là một áng văn chính luận
mẫu

mực.

Bằng cảm nhận của mình về tác phẩm, anh/chị hãy bình luận các ý kiến trên.
Gợi ý :
1

Vài

nét

về

tác

giả,

tác

phẩm

- Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ cách mạng đồng thời là nhà văn, nhà văn hóa vĩ đại. Sáng
tác của Người phong phú, đa dạng và thống nhất sâu sắc, nhuần nhị mối quan hệ giữa
chính trị và văn chương, giữa tư tưởng và nghệ thuật. Tuyên ngôn Độc lập là tác
phẩm

tiêu

kiến

- Ý kiến thứ nhất chủ yếu đánh giá về giá trị lịch sử của Tuyên ngôn Độc lập. Đó là
văn kiện có ý nghĩa khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, mở ra trang sử
mới

cho

dân

tộc.

- Ý kiến thứ hai nhấn mạnh tới giá trị nghệ thuật của tác phẩm, xem đây là tác phẩm
chính

luận

đặc

sắc,



tính

thuyết

phục

cao.


biểu

của

tác

phẩm.

- Hai ý kiến không đối lập mà bổ sung cho nhau, hợp thành cách đánh giá đầy đủ,
toàn diện về tác phẩm.
Page 9


- Về giá trị lịch sử: Tuyên ngôn Độc lập là văn kiện lịch sử tuyên bố trước
quốc dân đồng bào và thế giới về việc chấm dứt chế độ thực dân, phong kiến ở nước
ta, đánh dấu kỉ nguyên độc lập, tự do của nước Việt Nam mới. Tác giả đã nêu lên cơ
sở pháp lí vững chắc, tố cáo những tội ác của thực dân Pháp gây ra trên đất nước ta
như những bằng chúng, thước phim lịch sử để từ đó tuyên bố độc lập và khẳng định
quyết

tâm

giữ

vững

nền

độc


của

tác

giả



toàn

dân

tộc.

- Sự kết hợp giữa giá trị lịch sử và giá trị nghệ thuật đã khiến cho bản Tuyên ngôn
Độc lập từ khi ra đời cho đến nay là áng văn chính luận có sức lay động sâu sắc hàng
chục

triệu

trái

tim

con

người

Việt

Quang Dũng được biết đến nhiều là một nhà thơ. Thơ Quang Dũng hồn hậu, phóng
khoáng, đậm chất lãng mạn và tài hoa. Các tác phẩm chính: Mây đầu ô, Thơ văn
Quang Dũng…
2. Trình bày hoàn cảnh sáng tác bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng.
– Tây Tiến vừa chỉ hướng hành quân, vừa là tên một đơn vị quân đội được thành lập
đầu

năm

1947.

– Tây Tiến có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào, bảo vệ biên giới Việt –Lào, đồng
thời đánh tiêu hao lực lượng quân đội Pháp ở Thượng Lào cũng như ở miền tây Bắc
Bộ Việt Nam. Địa bàn đóng quân và hoạt động của đoàn quân TT khá rộng nhưng
chủ yếu là ở biên giới Việt – Lào. Chiến sĩ Tây Tiến phần đông là thanh niên, học
sinh, trí thức Hà Nội, chiến đấu trong những hoàn cảnh gian khổ thiếu thốn về vật
chất, bệnh sốt rét hoành hành dữ dội. Tuy vậy, họ sống rất lạc quan và chiến đấu rất
dũng

cảm.

– Quang Dũng là đại đội trưởng ở đơn vị Tây Tiến từ đầu năm 1947, rồi chuyển sang
đơn vị khác. Rời đơn vị cũ chưa bao lâu, tại Phù Lưu Chanh, Quang Dũng viết bài
thơ Nhớ Tây Tiến. Khi in lại, tác giả đổi tên bài thơ là Tây Tiến. Tây Tiến là một bài
thơ xuất sắc, có thể xem là một kiệt tác của Quang Dũng, xuất hiện ngay trong thời
gian đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
3. Đặc

điểm


TT.
Page 11


– Âm hưởng bi tráng: “bi” là đau buồn, “tráng” là khỏe khoắn, mạnh mẽ. Tác phẩm


âm

hưởng

bi

tráng thường không né tránh những chuyện xót xa, đau lòng nhưng bao giờ cũng đưa
đến những xúc cảm mạnh mẽ, rắn rỏi. Tác giả đã nhắc đến những khó khăn gian khổ
trong những cuộc hành quân, nói đến những mất mác, hi sinh, nhưng trong cái đau
thương ấy đã hàm chứa những nét đẹp hùng. Bi mà không luỵ. Cái bi được thể hiện
bằng

một

giọng

điệu,

âm

hưởng,

màu

chiến

chống

Pháp.

– Thể hiện tình yêu, sự gắn bó, niềm tự hào của tác giả về trung đoàn Tây Tiến và
quê

hương

Tây

Bắc

trong

những

năm

kháng

chiến

chống

Pháp.

* Đoạn 1: Nỗi nhớ của tác giả và con đường hành quân của trung đoàn Tây Tiến:

Tiến

ơi!

rừng

núi

nhớ

chơi

vơi

– Mở đầu bài thơ là lời gọi tha thiết , ngọt ngào. Tác giả gọi tên đơn vị “ Tây Tiến” ,
gọi tên con sông vùng Tây Bắc “ sông Mã” mà thân thiết , dạt dào cảm tình như gọi
tên những người thân thương trong cuộc đời mình.Phải chăng trung đoàn Tây Tiến,
núi rừng Tây Bắc gần gũi , thân thương với tác giả và khi xa thì Tây Bắc, Tây Tiến
trở

thành

một



mảnh

tâm



liệt.

– Con đường hành quân của trung đoàn Tây Tiến: Qua nỗi nhớ da diết của nhà thơ ,
con đường hành quân của trung đoàn Tây Tiến nơi Tây Bắc hiện lên khá rõ nét.
– Trước hết là những vùng đất mà đoàn quân đã đi qua, gắn bó, mỗi vùng đất với một
nét
Sài

riêng
Khao

Mường

không

dễ



quên:

sương

lấp

đoàn

quân


thơm

Lát

….
Nhà

ai

Pha

…..
Đêm

đêm

Mường

Châu

mùa

……
Mai

nếp

xôi

+ Ở Sài Khao thì sương nhiều như muốn che lấp cả đoàn quân khiến cho đoàn quân

tình.

+ Có lẽ “ấm lòng” nhất là khi hành quân về vùng Mai Châu , hương vị đặc sản “ nếp
xôi”của vùng đất ấy khiến các anh chiến sĩ dẫu có xa cũng không thể nào quên.
+ Còn ghê rợn nhất là khi về Mường Hịch, cái âm thanh phát ra từ núi rừng ấy thật là
khiến

cho

con

người

cảm

giác

bất

an

:

“cọp

trêu

người”.

Mỗi vùng đất trung đoàn Tây Tiến đi qua đều để lại dấu ấn trong tâm hồn, tuy có

thơ:

Dốc

lên

khúc

Heo

hút

Ngàn

thước

cồn
lên

khuỷu

dốc

mây

súng

cao,

thăm


gầm

thét

trêu

người

Đoạn thơ ngắn nhưng thể hiện nét bút tài hoa của Quang Dũng. Ông thành công
trong

việc

sử

dụng

ngôn

từ,

hình

ảnh,

bút

pháp,…



thi

thanh


cảm

hứng

Trắc.
lãng

mạn.

Nét bút tài hoa của Quang Dũng đã vẽ lại con đường hành quân- chiến đấu của trung
đoàn Tây Tiến trong những năm kháng chiến chống Pháp , con đường ấy thật gian
khổ, hiểm nguy với đèo cao , dốc hiểm và thú rừng dữ tợn nhưng cũng thật lãng mạn,
khó

quên.

– Sau hàng loạt những câu thơ sử dụng thanh Trắc tác giả phóng bút một câu thơ
toàn thanh Bằng khá độc đáo “ Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”
Phải chăng sau những đoạn đường hành quân, chiến đấu vất vả thì chiến sĩ Tây Tiến
được thưởng thức nét lãng mạn của cơn mưa rừng, được thưởng thức nét đẹp của nhà
ai thấp thoáng trong màn mưa. Những giây phút lãng mạn , thơ mộng trên con đường
hành quân là ngọn nguồn sức mạnh để các chiến sĩ vượt qua gian lao, thử thách.
Qua con đường hành quân của trung đoàn Tây Tiến ta cảm nhận được vẻ đẹp riêng
Page 14

dầu



tưởng

của

không



bỏ

mình:

bước

nữa

quên

đời!

Hai câu thơ gợi cái bi, sự mất mác , đau thương . Nhưng dẫu các anh “ không bước
nữa”, “ bỏ quên đời “ thì vẫn trong tư thế cầm súng. Một số chiến sĩ Tây Tiến không
tiếp tục sự nghiệp , lí tưởng bởi lẽ sức đã kiệt. Các anh sống và chiến đấu trong điều
kiện thiếu thốn thuốc men, lương thực, lại bị những cơn sốt rét rừng hoành
hành nên không còn đủ sức để tiếp bước. Đây là hiện thực đau thương khó tránh khỏi
trong những năm kháng chiến nên Quang Dũng cũng không ngần ngại khi nhắc đến.

nét.

Đó cũng chính là cái “Tình “ mà Quang Dũng dành cho Tây Tiến ,Tây Bắc : Yêu
mến,
(

gắn

Chế

Khi

Lan
ta



Viên

:

đi,

đất

Khi


ta
bỗng

Page 15


quên

nhất



lẽ



những

đêm

liên

hoan

lửa

trại:

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa…….Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ
+ Đêm “ hội đuốc hoa” là đêm liên hoan lửa trại giữa chiến sĩ Tây Tiến với đồng bào
(

Tây

người.

+ Chiến sĩ Tây Tiến đa phần là những chàng trai Hà Nội hào hoa, lãng mạn và có
chút đa tình nên khi các cô gái xuất hiện trong ánh lửa, tiếng khèn điệu nhạc khiến
các anh ngạc nhiên , thích thú, say mê. Niềm vui, thái độ thích thú của các anh được
tác giả diễn tả ở từ “ Kìa”. Phải chăng các anh ngạc nhiên vì nơi núi rừng ấy lại có
những



đóa

hoa”

say

lòng

người

đến

thế.

+ Say mê , thích thú trong đêm hội để về “ xây hồn thơ” các chiến sĩ xây mộng với
các



gái

chiến

trường

ác

liệt.

* Trung đoàn Tây Tiến qua nhiều vùng đất nơi Tây Bắc, mỗi vùng đất với nét đẹp
riêng khó quên. Nếu Sài Khao có sương nhiều như che lấp cả đoàn quân Tây Tiến ,
Mường Hịch có tiếng cọp khiến con người ghê sợ , vùng Mai Châu có hương vị cơm
nếp

thật

hấp

dẫn

,…thì

Châu

Mộc

cũng

thật

lãng


hồn

ở,
bỗng

của

chỉ
hóa

tâm

bao


hồn”

nơi
(

Chế

người.
đất

Lan


Viên

đong

đưa

trên dòng suối? Và nếu là hình ảnh gợi tả các cô gái Tây Bắc thì các cô gái ấy phải có
“tay lái ra hoa” mới có thể “ đong đưa” được như vậy. Quang Dũng thật tài tình và
con

người

Tây

Bắc

thật

tài

hoa!

Bốn câu thơ là những dòng hồi tưởng về cảnh sắc và con người nơi Tây Bắc, nơi cao
nguyên Châu Mộc.Với bút pháp tài hoa và tâm hồn lãng mạn , Quang Dũng vẽ lại
bức

tranh

tuyệt

đẹp


của một danh họa mang vẻ đẹp màu sắc cổ điển và lãng mạn, kết hợp hài hòa tính
thời đại và hiện đại trong máu lửa chiến tranh.
Bức tranh chiều sương Châu Mộc và đêm hội đuốc hoa là tài năng , tâm hồn và
sự gắn bó sâu nặng của Quang Dũng với trung đoàn Tây Tiến, với núi rừng Tây Bắc
và với quê hương đất nước trong những năm kháng chiến chống Pháp.
* Đoạn 3 : chân dung chiến sĩ Tây Tiến với khí phách anh hùng, tâm hồn lãng mạn
trong

máu

lửa

chiến

tranh.

TâyTiến đoàn binh không mọc tóc………Sông Mã gầm lên khúc độc hành
* Trên những nẻo đường hành quân , chiến đấu , vượt qua bao đèo cao dốc hiểm ,
đoàn quân Tây Tiến hiện ra giữa núi rừng trùng trùng điệp điệp vừa kiêu hùng vừa
cảm động. Người chiến binh với quân trang màu xanh của lá rừng, với nước da
phong
TâyTiến
Quân

sương



sốt


hùm

dữ

– Hai câu thơ trần trụi như hiên thực chiến tranh những năm tháng kháng chiến
chống Pháp. Hình ảnh đoàn quân “ không mọc tóc” vừa gợi nét bi hài vừa phản ánh
cái

khốc

liệt

của

chiến

tranh.

Cái hình hài không lấy gì làm đẹp “không mọc tóc”, “ xanh màu lá” tương phản với
nét“ dữ oai hùm”. Với bút pháp tài hoa, Quang Dũng làm bật chí khí hiên ngang ,
tinh thần quả cảm xung trận của các chiến binh Tây Tiến từng làm quân giặc khiếp
sợ.
– “ Dữ oai hùm” là hình ảnh ẩn dụ nói lên chí khí của người lính Tây Tiến , tuy các
chiến sĩ có gầy, xanh nhưng không hề yếu, chí khí của người lính vẫn như con hổ nơi
rừng xanh. Cái tài của Quang Dũng là khắc họa chân dung bên ngoài của chiến sĩ
Tây Tiến tuy gầy , xanh nhưng vẫn toát lên được cái oai phong, khí phách của người
lính

cụ



cụ

Hồ.

– Các chiến sĩ Tây Tiến lại có những giấc mộng đẹp về Hà Nội ,về “ dáng kiều
thơm”. Chiến sĩ Tây Tiến vốn là những thanh niên Hà Nội “ Xếp bút nghiên theo
việc đao, cung”, họ là những chàng thanh niên trẻ hào hoa, lãng mạn và có chút đa
tình. Khi xa Hà Nội, tiến về Tây Bắc để thực hiện nhiệm vụ thì các chiến sĩ luôn
“Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long”. Sống giữa chiến trường ác liệt nhưng tâm
hồn các anh luôn hướng về Hà Nội , mơ về Hà Nội. Đúng vậy, làm sao các anh có
thể quên được hàng me, hàng sấu, phố cổ trường xưa? ,… Làm sao các anh quên
được những tà áo trắng, những cô gái thân thương,… những “dáng kiều thơm” đã
từng hò hẹn,…? Hình ảnh “ dáng kiều thơm” của Quang Dũng đem đến cho người
đọc nhiều điều thú vị , ngôn từ vốn có trong thơ lãng mạn thời “tiền chiến” nhưng
dưới ngòi bút của Quang Dũng nó trở nên có hồn, đặc tả được chất lính trẻ trung, hào
hoa,

lãng

mạn

của

binh

đoàn

Tây


chân

dung

Pháp.
chiến



Tây

Tiến:

– Trong gian khổ chiến trận , bao đồng đội đã ngã xuống trên mảnh đất miền Tây, họ
nằm

lại

nơi

chân

đèo

góc

núi

:


không

chịu

mất

nước,

nhất

định

không

chịu

làm



lệ”.

– Cảnh trường bi tráng giữa chiến trường miền Tây thuở ấy được tác giả ghi lại ở hai
câu
Áo
Sông

cuối
bào


trầm hùng, thương tiếc. “Sông mã gầm lên “ hay hồn thiêng sông núi đang tấu lên
khúc nhạc tiễn đưa linh hồn các anh về nơi an nghỉ cùng đất Mẹ.
Page 20


* Đoạn thơ viết về chân dung chiến sĩ Tây Tiến là đoạn thơ độc đáo nhất trong bài .
Đoạn thơ đậm khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn , kết hợp vận dụng sáng
tạo trong miêu tả và biểu lộ cảm xúc tạo nên những câu thơ có hồn và khắc họa được
vẻ đẹp bi tráng của chiến sĩ Tây Tiến. Các chiến sĩ Tây Tiến đã sống anh hùng và
chết vẻ vang. Chính vì thế mà hình ảnh người lính Tây Tiến, người lính cụ Hồ mãi
mãi là một tượng đài nghệ thuật bi tráng in sâu vào tâm hồn dân tộc:


Anh

Sao



vệ
yêu

quốc

anh

thế

quân


hợp

ảnh
giữa

đặc

sắc,

cảm

hứng

đậm
lãng

chất
mạn



thơ
bút

chất
pháp

bi

nhạc.

Thân bài:
Trước hết chúng ta tiến hành phân tích từng đoạn:
a.Đoạn thơ trong bài Tây Tiến
*Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm, vị trí đoạn thơ
+Quang Dũng là nghệ sĩ đa tài (thơ, văn, nhạc, hoạ), cũng là một người lính,
sống một đời lính oanh liệt, hào hùng. Quãng đời ấy đã trở thành cảm hứng đặc sắc
trong thơ ông. Bài thơ Tây Tiến viết về người lính, về những chàng trai“chiến trường
đi chẳng tiếc đời xanh” – người lính Tây Tiến.
+Tây Tiến là một đơn vị bộ đội thành lập đầu năm 1947. Thành phần chủ yếu
là thanh niên trí thức Hà Nội. Nhiệm vụ của họ là phối hợp với bộ đội Lào, đánh tiêu
hao lực lượng địch ở Thượng Lào, bảo vệ biên giới Việt Lào. Sau một thời gian hoạt
động ở Lào, đoàn quân Tây Tiến trở về Hoà Bình thành lập trung đoàn 52. Năm
1948, nhà thơ Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác, không bao lâu, ông nhớ đơn vị
cũ sáng tác bài thơ này.
+ Bài thơ có 4 khổ, đây là khổ thứ 3, nội dung khắc hoạ hình tượng người lính
TT
*Phân tích cụ thể:
Page 22


-Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là nỗi nhớ, nhớ về đồng đội và địa bàn hoạt
động của đoàn quân, nhớ về vùng đất mà bước chân hào hùng mà đoàn binh Tây
Tiến đã đi qua – Tây Bắc. Vùng đất đó với thiên nhiên hoang sơ, hùng vĩ và thơ
mộng, trữ tình, vùng đất ấy với những con người tài hoa, duyên dáng và nghĩa tình.
Trên nền cảnh ấy là hình ảnh người lính Tây Tiến. Họ hiện lên thật ấn tượng với
phẩm chất hào hùng đáng kính, họ đã hi sinh dọc đường hành quân, hi sinh dọc miền
biên giới – họ đã hi sinh vì lí tưởng sống cao đẹp:
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất

“Áo bào thay chiếu” – một hình ảnh thực đến xót xa của chiến tranh. Nhưng
cái thiếu thốn về vật chất lại được khoả lấp bằng sự hiên ngang, can trường của
người lính. Từ Hán Việt và cách nói “Áo bào thay chiếu anh về đất”làm cho cái chết
của người lính Tây Tiến trở nên trang trọng hơn rất nhiều, thiêng liêng hơn nhiều.
Nhà thơ vẫn gợi lên sjw thật chung của cả thời chống Pháp là sự thiếu thốn về vật
chất, ở vùng biên giới xa xôi thì sự thiếu thốn ấy còn nhân lên gấp bội. Người chiến
sĩ đã ngã xuống không có một cỗ quan tài, thậm chí không có lấy một tấm chiếu để
liệm thân mà khi ngã xuống vẫn cứ mặc nguyên tấm áo thường ngày trên đường hành
quân. Đó có thể là tấm áo sờn vai, tấm áo bạc màu, tấm áo có vài mảnh vá. Nhưng
với thái độ trân trọng đồng đội, nhà thơ Quang Dũng đã thấy họ như đang mặc tấm
áo bào của chiến tướng mà đi vào cõi vĩnh hằng, bất tử cùng sông núi. Cách nói “về
đất” không chỉ là cách nói giảm, nói tránh mà mang ý nghĩa biểu tượng thiêng liêng.
Cái chết không phải là ra đi vào cõi hư vô bất định mà là trở về, trở về với đất Mẹ
yêu thương. Đất Mẹ cũng đã mở lòng đón những đứa con đầy trách nhiệm của mình
trở về. Họ đã ra đi như thế đấy. Họ đã nằm lại nơi chân đèo, dốc núi nào đó trên con
đường hành quân đầy gian khổ, nhọc nhằn, họ đã để lại mình nơi biên cương lạnh
lẽo, hoang vắng. Nhưng họ đã ra đi vì lí tưởng, cái chết của họ dù để lại nhiều xót xa
trong lòng người đọc nhưng họ ra đi một cách rất thanh thản. Họ chỉ là “không bước
nữa”, là “bỏ quên đời”, là “về đất” thôi chứ không phải là chết. các anh đã ngã
xuống, đã “hoá thân cho dáng hình xứ sở” để rồi mỗi thế núi hình sông, mỗi tên đất
tên làng đều có bóng hình các anh. Các anh hi sinh, trở về trong lòng Đất Mẹ để “cho
cây đời mãi mãi xanh tươi”, để đem lại cho đất đai, cho quê hương đất nước sự sống
bất tận.
Page 24


– Đoạn thơ kết thúc bằng một âm hưởng hào hùng. Dường như linh hồn người
tử sĩ đã hòa cùng sông núi, con sông Mã đã tấu lên khúc nhạc đau thương, hùng tráng
để tiễn đưa người lính vào cõi bất tử. Hình tượng “sông Mã” ở cuối bài thơ được
phóng đại và nhân hóa, tô đậm cái chết bi hùng của người lính_ sự hi sinh làm lay

tốt đẹp của người lính Tây Tiến trong cuộc kháng chiến chống Pháp.
b.Đoạn thơ trong bài “Đất Nước” của Nguyễn Khoa Điềm là lời nhắn nhủ của
nhà thơ về trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với non sông đất nước:
*Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm:
+Nguyễn Khoa Điềm là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ các nhà
thơ trẻ thời chống Mỹ . Ông xuất thân từ một gia đình trí thức cách mạng ở Huế, bản
thân ông tham gia trực tiếp vào phong trào đấu tranh sinh viên nên thơ Nguyễn Khoa
Điềm rất giàu chất suy tư, cảm xúc dồn nén mang tâm tư của người trí thức….
+Đất nứơc là phần đầu chương V của trường ca Mặt đường khát vọng, viết
năm 1971 tại chiến khu Trị Thiên giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mĩ đang hết sức
khốc liệt .
*Phân
“Em

ơi

em

Phải
Phải

tích
Đất

biết
biết

Làm

cụ

hình
muôn

mình
sẻ

xứ

sở
đời”

– Đoạn thơ có giọng điệu tâm tình sâu lắng, thiết tha. Tác giả tạo ra cuộc trò chuyện
thân mật giữa nhân vật trữ tình “anh” với “em”. Giọng điệu ấy đã làm mềm hóa nặng
nề,

khô

khan

của

chất

chính

luận.

– Nguyễn Khoa Điềm đã khám phá một định luật rất mới “Đất Nước là máu xương
của mình”. Đối với mỗi con người, máu xương là yếu tố cần thiết cho sự sống. Hình
ảnh so sánh độc đáo ấy có hàm ý khẳng định: Đất nước là sự sống thiêng liêng đối


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status