MỤC LỤC
PHẦN I: MỞ ĐẦU ......................................................................................... 1
1.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI .............................................................................. 1
2. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU .................................................... 3
3. MỤC ĐÍCH, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU ........................... 14
4. Ý NGHĨA VÀ ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN ............................... 18
5. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ...................................................................... 18
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .............................................................. 19
7. THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU ........................................... 28
PHẦN II: NỘI DUNG .................................................................................. 32
CHƯƠNG I: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN
CỨU ............................................................................................................... 32
1.1. Biến động nhiệt độ, lượng mưa, số giờ nắng .......................................... 32
1.2. Thành phần cơ giới của đất ..................................................................... 33
1.3. Độ cao nền đất và thời gian phơi bãi ....................................................... 38
1.4. Mật độ và độ che phủ của rừng ............................................................... 40
CHƯƠNG II: ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
TỚI KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ TÁI SINH CỦA RỪNG TRANG
TẠI KHU VỰC NGHIÊN CỨU ................................................................. 42
2.1. Ảnh hưởng của một số điều kiện tự nhiên tới tăng trưởng chiều cao cây ......... 42
2.2. Ảnh hưởng của một số điều kiện tự nhiên tới tăng trưởng đường kính thân . 55
2.3. Ảnh hưởng của một số điều kiện tự nhiên tới tăng trưởng đường kính tán
lá ..................................................................................................................... 66
2.4. Ảnh hưởng của một số điều kiện tự nhiên tới biến động số lượng hoa, quả,
trụ mầm trên cây ............................................................................................. 74
2.5. Ảnh hưởng của một số điều kiện tự nhiên tới sinh trưởng của cây con tái
sinh tự nhiên dưới tán rừng ............................................................................ 83
CHƯƠNG III: HIỆN TƯỢNG TÁI SINH CÀNH KHI RỪNG ĐÃ KHÉP
TÁN ............................................................................................................... 92
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1. Cây trang (Kandelia obovata) ở khu vực 2 .................................... 15
Hình 1.2. Các giai đoạn hình thành nụ (A), ra hoa (B), kết quả (C) và hình
thành trụ mầm (D) ở cây trang (Kandelia obovata) ....................................... 16
Hình 1.3. Vị trí các khu vực nghiên cứu ........................................................ 19
Hình 1.4. Các khu vực nghiên cứu ................................................................. 20
Hình 1.5. Cách bố trí OTC (A) và ODB (B) .................................................. 21
Hình 1.6. Cách thiết kế cốc đong để xác định độ ngập triều ......................... 21
Hình 1.7. Cách đo đường kính tán lá ............................................................. 23
Hình 1.8. Sơ đồ thu mẫu đất theo phương pháp đường chéo ........................ 23
Hình 1.9. Sơ đồ xác định thành phần cơ giới của FAO – UNESCO ............. 27
Hình 2.1. Bọ nẹt ăn lá trang (11/2014) .......................................................... 69
Hình 2.2. Cây đước tái sinh ............................................................................ 84
Hình 2.3. Cây trang tái sinh ........................................................................... 84
Hình 3.1. Chồi cành trên thân cây trang trong rừng khép tán hoàn toàn ....... 92
Hình 3.2. Cành tái sinh trên thân cây trang trong rừng khép tán hoàn toàn .. 92
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1. Biến động nhiệt độ và lượng mưa trong thời gian nghiên cứu . 32
Biểu đồ 2.2. Biến động nhiệt độ và số giờ nắng trong thời gian nghiên cứu 32
Biểu đồ 2.3. Thành phần cơ giới của đất (%) ở các ....................................... 35
Biểu đồ 2.4. Thời gian phơi bãi trung bình (giờ/ngày) ở các khu vực
nghiên cứu ..................................................................................................... 38
Biểu đồ 2.5. Độ cao nền đất và thời gian phơi bãi ở các khu vực nghiên cứu ..... 39
Biểu đồ 2.6. Mật độ và độ che phủ ở các khu vực nghiên cứu ...................... 40
A. Mật độ (cây/ha) và độ che phủ (%) ở các khu vực nghiên cứu ............... 40
B. Tương quan giữa mật độ và độ che phủ .................................................... 40
Biểu đồ 2.7. Tăng trưởng chiều cao cây ở các khu vực nghiên cứu .............. 43
Biểu đồ 2.8. Tương quan giữa nhân tố khí hậu với tốc độ tăng trưởng chiều
cao cây con ..................................................................................................... 89
Biểu đồ 3.1. Số lượng chồi và cành tái sinh khi rừng đã khép tán ................ 93
Biểu đồ 3.2. Sinh trưởng của cành tái sinh dưới tán rừng ............................. 94
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Rừng ngập mặn (RNM) là hệ sinh thái đặc biệt có giá trị và ý nghĩa to
lớn về đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế xã hội. RNM
là “bức tường xanh” vững chắc bảo vệ bờ biển, đê biển, hạn chế xói lở và các
tác hại của bão lũ. Hệ thống rễ chằng chịt ở cả trên và dưới mặt đất lan rộng,
bám chắc đã thu hút, giữ lại trầm tích góp phần mở rộng đất liền ra phía biển,
nâng cao nền đất. RNM tạo ra sinh khối rất lớn, không những là nguồn tài
nguyên phong phú về lâm sản (gỗ, than, củi…), thuốc, thức ăn, động thực vật
như các rừng nội địa mà còn có vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp
mùn bã, dinh dưỡng cho các thuỷ sinh vật, thức ăn cho chim di cư…
Tuy nhiên, có một thực tế không thể phủ nhận là diện tích RNM đang
ngày càng bị thu hẹp và ảnh hưởng của sự suy giảm này là rất to lớn. Có rất
nhiều nguyên nhân dẫn đến sự biến mất của RNM trong đó có phần ảnh
hưởng không hề nhỏ của các điều kiện tự nhiên bất lợi như độ mặn cao, nhiệt
độ cao, sâu hại… đến khả năng sinh trưởng và tái sinh của rừng.
Nam Định là tỉnh đồng bằng ven biển có diện tích RNM khá lớn. Huyện
Giao Thủy nằm ở cực đông của tỉnh, với chiều dài 32 km bờ biển và có Vườn
quốc gia Xuân Thủy với quy mô 7100 ha, trong đó có 3100 ha đất nổi có rừng,
4000 ha đất rừng ngập nước và vùng đệm rộng 8000 ha. Khu vực nghiên cứu là
RNM thuộc xã Giao Lạc nằm trong vùng đệm của Vườn quốc gia. Tuy nhiên thời
gian qua, tình trạng chặt phá rừng lấy nguyên liệu, lấy đất canh tác, làm đầm nuôi
tôm, làm muối… đã làm suy giảm đáng kể diện tích RNM tại khu vực này. Ngoài
ra, do thời tiết, khí hậu và thuỷ văn có sự biến động mạnh bởi hậu quả của biến
kích thước, thể tích, khối lượng, kèm theo sự tạo mới các thành phần cấu trúc
của cơ thể thực vật. Để đánh giá khả năng sinh trưởng, người ta sử dụng các
chỉ số như: tăng trưởng chiều cao, đường kính (đối với thân), diện tích (đối
với lá), số lượng (đối với rễ), sự biến đổi khối lượng của các cơ quan, số
lượng tế bào, kích thước tế bào và nhiều chỉ số khác. Ở cùng một loài cây,
trong cùng một điều kiện sống, những chỉ số này có thể thay đổi với tốc độ
khác nhau (Nguyễn Như Khanh, 1996) [17].
Theo Lê Thị Vu Lan (1998) [19], sự tăng trưởng của cây (chiều cao,
thể tích, khối lượng…) diễn ra theo đường cong hình sin, gọi là tiến trình sinh
trưởng hình sin. Tiến trình sinh trưởng hình sin được biểu diễn là đường cong
một đỉnh gồm nhiều pha:
-
Pha tiềm ẩn (pha khởi đầu): trong pha này sinh trưởng rất chậm
cũng như diễn ra sự tăng dần nhịp điệu.
-
Pha sinh trưởng nhanh (pha logarit) đây là giai đoạn sinh trưởng
mạnh nhất, nhịp điệu sinh trưởng tỷ lệ thuận với thời gian.
-
Pha giảm sút tốc độ tăng trưởng: nhịp điệu sinh trưởng giảm dần.
-
Pha ổn định: trong thời gian này, không có sự tăng về kích thước
theo thời gian.
Trong phương pháp điều tra cây tái sinh, Lowder Milk (1927) đã đề ra
phương pháp điều tra các ô tiêu chuẩn với diện tích ô đo đếm thông thường từ
1m2 đến 4m2. Diện tích ô đo đếm nhỏ nên thuận lợi trong điều tra nhưng số
lượng ô phải đủ lớn mới phản ánh tính trung thực của tình trạng tái sinh rừng.
Để giảm sai số trong khi thống kê tái sinh tự nhiên, Barnard (1950) đã đề nghị
một phương pháp “Điều tra để chuẩn đoán” mà theo đó kích thước ô đo đếm
có thể thay đổi tuỳ theo giai đoạn phát triển của tái sinh ở các trạng thái rừng
khác nhau (trích theo Phạm Thị Hương Giang – 2010) [5].
4
Theo Lương Thị Thanh Huyền (2009) [15], căn cứ vào nguồn giống,
người ta phân chia ra 3 hình thức tái sinh rừng: (1) Tái sinh nhân tạo: nguồn
giống do con người tạo ra bằng cách gieo hạt giống hoặc trồng trực tiếp; (2)
Tái sinh bán nhân tạo: nguồn giống do con người tạo ra bằng cách trồng bổ
sung các cây giống, sau đó chính các cây giống này sẽ tạo ra nguồn hạt giống
cho quá trình tái sinh; (3) Tái sinh tự nhiên: không có sự tham gia của con
người, nguồn hạt giống hoàn toàn có nguồn gốc tự nhiên.
Việc phân chia các giai đoạn trong quá trình tái sinh rừng, đa số các
nhà nghiên cứu đều thống nhất và cho rằng trong nghiên cứu tái sinh rừng cần
phải nghiên cứu quá trình ra hoa, kết quả, mùa vụ hạt giống, sự phù hợp của
mùa vụ hạt giống với khí hậu… Cây ngập mặn (CNM) cũng không nằm ngoài
quy luật này (theo Baur G.N, 1964) [2].
b. Tái sinh của RNM
CNM phần lớn là cây gỗ, cây bụi thân gỗ mọc ở vùng đất bị ngập triều,
có khả năng chịu được nồng độ muối cao, vì vậy chúng phù hợp với vai trò
của cây tiên phong, bảo vệ vùng cửa sông ven biển. Nhóm cây này có nhiều
đặc điểm cấu tạo giải phẫu hình thái và sinh lý thích nghi với môi trường sống
lầy mặn ven biển. RNM có khả năng tái sinh tự nhiên giúp mở rộng khu vực
Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Hoàng Công Đăng (1995) khi theo dõi sự tăng
trưởng của các loài đước vòi, vẹt dù, trang, mắm biển và sú ở giai đoạn vườn
ươm đã nhận xét: ở vẹt dù có sự tăng trưởng kém nhất; còn những loài trồng
bằng quả thì mắm biển tăng trưởng tốt hơn sú (theo Lương Thị Thanh Huyền,
2009) [15]…
2.2.
Nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến sinh trưởng và
tái sinh của RNM
2.2.1. Nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến sinh trưởng của RNM
CNM sống ở vùng chuyển tiếp giữa môi trường nước mặn và đất liền,
là môi trường mà các nhân tố sinh thái thường xuyên thay đổi, có ảnh hưởng
lớn đến sự phân bố và sinh trưởng của các loài CNM. Hầu hết, các tác giả khi
nghiên cứu CNM thường đề cập đến các nhân tố sinh thái chủ yếu như: khí
hậu, thuỷ triều, độ mặn, địa hình…
Trên thế giới
Năm 1959, Steru và Voigh đã tiến hành thí nghiệm nghiên cứu ảnh
hưởng của độ mặn môi trường tới sinh trưởng của cây đước đỏ (Rhizophora
6
mangle) và cho rằng cây sinh trưởng tốt nhất ở độ mặn tương đương với độ
mặn nước biển (theo Phan Nguyên Hồng, 1991) [12].
Schorlander (1962 - 1966) công bố công trình nghiên cứu về sinh
trưởng của Rhizophora mangle ở độ mặn khác nhau, đã cho rằng CNM có khả
năng điều chỉnh muối tốt nhất ở độ mặn trung bình ( ½ độ mặn nước biển) và
nhiên, tác giả cho rằng sự bồi tụ ít ảnh hưởng đến số đốt sinh ra (theo Hoàng
Thị Hà, 1999) [6].
Nghiên cứu của Duarte và cộng sự (1999) về mối quan hệ giữa sinh
trưởng của cây Đước đôi (Rhizophora apiculata) và hàm lượng dinh dưỡng,
trầm tích cho thấy: cây tăng trưởng chậm nếu mọc ở gần những con sông nhỏ
do hàm lượng chất dinh dưỡng, phú sa ít, còn ở những dải rừng kề con sông
lớn do có lượng phù sa, bùn tăng nhanh thì cây phát triển tốt. Tác giả cũng
cho rằng đất trong RNM nhận được hàm lượng chất hữu cơ cao từ lá CNM
rụng xuống (trích theo Bùi Thị Hằng, 2014)[8].
Nhìn chung, hầu hết các tác giả nghiên cứu CNM thường đề cập đến
các nhân tố sinh thái có liên quan và chủ yếu là độ mặn, điều kiện chất
nền (thành phần dinh dưỡng) tuy nhiên chưa có ý kiến thống nhất cụ thể
về vai trò, mức độ tác động của từng nhân tố đến khả năng sinh trưởng
vào phát triển của RNM.
Ở Việt Nam
Vấn đề nghiên cứu về RNM cũng đã được đề cập nhiều từ trước năm
1975. Tuy nhiên các công trình nghiên cứu trong thời gian đó tập trung
nghiên cứu nhiều về thực vật học và giá trị kinh tế của các loại CNM. Từ sau
năm 1975 đến nay, nhiều công trình nghiên cứu về khả năng sinh trưởng của
CNM được tiến hành ngoài thực địa và trong phòng thí nghiệm.
Năm 1984, Đỗ Hữu Ất đã tiến hành nghiên cứu tăng trưởng chiều cao,
đường kính và đếm số cây trong từng ô thí nghiệm ở những vị trí nghiên cứu
khác nhau, tác giả còn nghiên cứu tăng trưởng của chồi, rễ chống [1].
8
Năm 1991, Phan Nguyên Hồng [12] khi làm thí nghiệm theo dõi tăng
trưởng của cây ở giai đoạn còn non của 3 loài Kandelia candel, Rhizophora
apiculata và R. stylosa cho thấy sự phát triển không bình thường của những
cây sống trong những vùng thiếu nước ngọt.
Nguyễn Đức Tuấn (1994) [43] tiến hành nghiên cứu tăng trưởng của
cây đâng (R.stylosa Griff.) trồng ở Thạch Hà, Hà Tĩnh trên hai khu vực có
tính chất thể nền khác nhau thu được kết quả: trên thể nền bùn sét mềm, ít cát
thô cây đâng sinh trưởng tốt hơn trên thể nền nhiều cát thô, đất cao và cứng.
Năm 1995, Mai Sỹ Tuấn [42] trong công trình nghiên cứu về phản
ứng sinh lý, sinh thái của cây mắm biển (Avicennia marina) lấy giống từ
Hà Tĩnh về trồng trong môi trường có độ mặn khác nhau đã cho thấy cây
sinh trưởng được ở các độ mặn khác nhau kể cả độ mặn rất cao (150% độ
mặn nước biển) nhưng tăng trưởng chiều cao và đường kính đều giảm dần
khi độ mặn nước biển tăng.
Năm 1995, Phan Nguyên Hồng và Nguyễn Thị Mỹ Hằng [13] nghiên
cứu tìm hiểu ảnh hưởng của nhiệt độ thấp đến sự sinh trưởng của một số loài
cây trong họ Đước (Rhizophoraceae) trồng ở điều kiện thí nghiệm đã rút ra
kết luận nhiệt độ thấp có ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của một số
loài CNM, cho dù các loài đó đã sống qua nhiều thế hệ ở miền Bắc. Cây trang
chịu rét tốt hơn cây đâng.
Năm 1995, Viên Ngọc Nam [27] theo dõi tăng trưởng của cây đước ở
Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh đã nhận xét: đường kính thân cây tăng
trưởng không phụ thuộc nhiệt độ mà bị ảnh hưởng bởi mật độ cây.
Năm 1999, tác giả Phạm Hồng Chính [4] nghiên cứu về chế độ tỉa
thưa với rừng trang (Kandelia candel (L.) Druce) nhận xét: khi rừng
được tỉa thưa thì tốc độ tăng trưởng đường kính thân tăng lên rõ rệt do
độ che phủ giảm.
10
sinh trưởng (đường kính, chiều cao, thể tích…) trên các bộ phận của cây
như: thân, lá, chồi, búp, hoa, rễ… các nghiên cứu này đã cho thấy tác
động của các nhân tố môi trường như: thể nền, nhiệt độ, độ bồi tụ… đã
ảnh hưởng rõ rệt đến quá trình sinh trưởng của CNM.
2.2.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến tái sinh của RNM
Trên thế giới
Nhiều công trình nghiên cứu đã đi sâu tìm hiểu vai trò của nhân tố ánh
sáng đối với cây tái sinh dưới tán rừng. Theo Richard (1964), trong rừng mưa
nhiệt đới thiếu hụt ánh sáng ảnh hưởng chủ yếu đến sự phát triển của cây con,
còn với sự nảy mầm và phát triển của mầm non thường không rõ (trích theo
Phan Nguyên Hồng, 1991) [12].
Walter và Steiner (1936) khi nghiên cứu về sự phát triển của cây con
trong họ Đước như Rhizophora stylosa cho rằng: cây con duy trì nồng độ muối
thấp hơn cây mẹ, đặc biệt hàm lượng muối trong lá mầm của cây con thấp hơn
nhiều so với lá của cây mẹ. Điều này được giải thích như là cơ chế bảo vệ phôi
trước độ mặn cao (theo Phan Nguyên Hồng và cộng sự, 1999) [14].
Theo Blasco (1984) [44]: RNM phát triển mạnh mẽ về kích thước và
thành phần ở những nơi có lượng mưa hàng năm cao và không có mùa khô.
Lượng mưa có ảnh hưởng rất rõ rệt đến sự tái sinh của RNM.
Khaffii và Saudi Arabia (1994) sau khi nghiên cứu nảy mầm và sinh
trưởng ở một số loài CNM đã kết luận: trụ mầm của một số loài cây trong chi
Rhizophora có thể phát triển tốt trong độ mặn 50% độ mặn nước biển và phát
triển kém nhất ở độ mặn 150% độ mặn nước biển; trụ mầm của một số loài
cây trong chi Rhizophora có thể bị chết khi nhiệt độ quá thấp hoặc quá cao
(theo Nguyễn Thị Hiền, 2001) [9].
Lê Thị Vu Lan (1998) [19] nghiên cứu sự nảy mầm, sinh trưởng của trụ
mầm trang ở thời kì đầu trong điều kiện tự nhiên cho biết: chiều cao cây trang
con tăng trưởng ở tất cả các tháng theo dõi trong năm và tăng mạnh vào các
tháng 9, 10, 11, 12, 4. Vào các tháng 12, 1, 2 thời tiết khắc nghiệt cây vẫn
tăng trưởng nhưng rất chậm. Đường kính thân cây tăng trưởng chậm, có tháng
13
hầu như không tăng trưởng. Thời điểm đường kính thân tăng mạnh có liên
quan nghịch với tăng chiều cao. Khi chiều cao tăng mạnh thì đường kính tăng
chậm. Cây sinh trưởng mạnh vào giai đoạn đầu tiên (1 – 2 năm đầu) sau đó
chậm lại và tập trung vào phát triển bộ rễ, tán cây, lá thường tăng mạnh vào
các tháng 3, 4, 10 vì thời gian này khí hậu ấm áp, vào các tháng 12, 1, 2 nhiệt
độ xuống thấp tăng trưởng lá rất chậm và lá rụng nhiều.
Năm 1999, Nguyễn Hoàng Trí [39] cho rằng: nhân tố chính tác động
tác động tới tỷ lệ chết sau khi trụ mầm cố định được vào bùn là các yếu tố vật
lý như dòng xoáy, các yếu tố sinh học như cua, sâu đục thân, ốc ăn lá và nhân
tố sinh lý như nước ngọt, độ mặn cao…
Năm 2000, Hoàng Thị Hà [6] khi nghiên cứu tăng trưởng, biến động số
lượng cá thể và cấu trúc tuổi của hai quần thể cây trang tái sinh tự nhiên trên
hai nền đất khác nhau ở vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh đã kết luận: “Tỷ lệ
cây chết của cây trang con phụ thuộc nhiều vào lượng mưa. Tỷ lệ sống sót của
cây trang cao khi cố định trên nền đất cứng ít bùn sét nhưng tốc độ tăng
trưởng lại chậm”.
Nguyễn Thị Hiền (2001) [9] khi nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ che
sáng tới sự nảy mầm ở trụ mầm và sinh trưởng của cây con hai loài trang
(K.candel) , đước (R.stylosa) trong điều kiện thí nghiệm đã chỉ ra rằng: cây
con trồng từ trụ mầm bảo quản trong nước ở điều kiện ánh sáng mặt trời chiếu
vào trực tiếp khi trồng ở giai đoạn đầu sinh trưởng chậm hơn so với cây con
chịu được lạnh về mùa đông, phân bố ở Trung Quốc (Hải Nam, Phúc Kiến,
Đài Loan), Nam Nhật Bản và Bắc Việt Nam. Dựa trên kết nghiên cứu của các
tác giả Sheue, Liu & Yong (2005) [49], Nguyễn Thị Hồng Liên, Lê Thị Ánh
Hình 1.1. Cây trang (Kandelia obovata) ở khu vực 2
15
(2008)[13], loài trang được trồng ở Giao Thuỷ, Nam Định được xác định là
loài Kandelia obovata Sheue, Liu & Yong.
Kandelia obovata có dạng thân gỗ nhỏ, cao từ 4 - 10 m, không có rễ
chống nhưng có bạnh gốc. Lá cây trang mọc đối hình bầu dục thuôn hay mác
hẹp, lá thường bầu, mép nguyên, kích thước khoảng 7 - 12 cm × 3 - 5,5 cm.
Cây trang (Kandelia obovata Sheue, Liu & Yong) trồng ở Giao Thuỷ
chỉ ra hoa 1 vụ/năm, thời gian ra hoa từ khoảng tháng 2 đến tháng 7. Khi mới
xuất hiện, nụ có dạng chấm tròn, có màu đỏ đậm sau đó lớn dần lên chuyển
sang màu xanh pha trắng. Nụ càng lớn, màu xanh càng nhạt dần và tới khi hoa
chuẩn bị nở thì nụ lúc này có màu trắng hoàn toàn.
A
B
C
D
Hình 1.2. Các giai đoạn hình thành nụ (A), ra hoa (B), kết quả (C) và hình
thành trụ mầm (D) ở cây trang (Kandelia obovata)
lượng mưa và số giờ nắng) tới khả năng sinh trưởng, tái sinh tự nhiên của
rừng trang trồng tại khu vực này.
17
4.
Ý NGHĨA VÀ ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
Phân tích rõ ảnh hưởng của một số điều kiện tự nhiên đến khả năng sinh
trưởng và tái sinh của rừng trang trồng ở xã Giao Lạc, huyện Giao Thuỷ, tỉnh
Nam Định. Trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp bảo vệ, phục hồi và sử dụng
hợp lý nguồn tài nguyên RNM dưới tác động của các điều kiện tự nhiên.
4.1. Đóng góp mới của luận văn
-
Đóng góp mới của luận văn là đánh giá khả năng sinh trưởng, tái
sinh của rừng trang sau khi bị bồi lấp.
-
Xác định mối tương quan giữa sự sinh trưởng và tái sinh của RNM
với một số điều kiện tự nhiên.
-
Nghiên cứu đặc điểm phát triển của thân (phân cành) của cây trang
trong điều kiện rừng khép tán hoàn toàn.
18
5.4. Đặc điểm phát triển của thân (phân cành) của cây trang trong điều
kiện rừng khép tán hoàn toàn
- Theo dõi số lượng chồi cành, cành; số lá/cành, chiều dài cành tái
sinh dưới tán rừng trang 17 tuổi.
5.5. Phân tích tổng hợp ảnh hưởng của các điều kiện sinh thái tới sự sinh
trưởng và tái sinh của rừng trang
Ảnh hưởng của nhân tố thời tiết (nhiệt độ, lượng mưa); mật độ và độ
che phủ; độ cao nền đất và thời gian phơi bãi; thành phần cơ giới của đất đến
sự sinh trưởng và tái sinh của rừng trang.
6.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm
Bố trí thí nghiệm thu thập số liệu tìm hiểu về khả năng sinh trưởng và
tái sinh của cây trang (hình 1.3).
Hình 1.3. Vị trí các khu vực nghiên cứu
19