Luận văn Thạc sĩ Khoa học: Nghiên cứu ảnh hưởng hoạt động hàng hải đến môi trường và đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường khu vực cảng biển Hải Phòng đến năm 2020 - Pdf 59

MỞ ĐẦU

Ô nhiễm môi trường do các hoạt động hàng hải, công nghiệp và dân 
sinh đã và đang gây ra những  ảnh hưởng  tiêu cực đến chất lượng môi 
trường sống, làm suy thoái đa dạng sinh học và gây ra những tác động xấu 
đến sức khỏe con người  ở nhiều nơi trên thế giới. Hàng năm, chính quyền  
các thành phố  lớn hay chính phủ  nhiều nước đã phải bỏ  ra khoản chi phí 
khổng lồ để khắc phục và giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Ở Việt Nam, ô  
nhiễm môi trường đang trở  thành mối quan tâm hàng đầu khi chất lượng 
môi trường không khí tại các khu đô thị  đang xuống cấp từng ngày, môi 
trường nước tại các hệ  thống sông ngòi, vùng biển ven bờ  cũng đang dần 
dần bị ô nhiễm, chất lượng môi trường sống tại nhiều vùng nông thôn cũng 
đã bị  tác động nghiêm trọng. Sự  thay đổi này đã và đang tác động sâu sắc 
đến sức khỏe con người như  gia tăng nhanh các loại bệnh như  ung thư,  
mắt, đường tiêu hóa, ...
Hoạt động hàng hải bao gồm nhiều lĩnh vực, trong đó có các lĩnh vực 
chính là cảng biển và luồng cảng biển, vận tải biển và đội tàu vận tải  
biển, công nghiệp đóng mới và sửa chữa tàu biển. Hoạt động hàng hải  
đóng góp đáng kể chất ô nhiễm môi trường, đặc biệt là ô nhiễm không khí,  
nước biển. Hoạt động hàng hải cũng đã được ghi nhận là nguồn gây ô  
nhiễm môi trường lớn cần thực hiện các giải pháp giảm thiểu. Sự cố môi 
trường trong hoạt động hàng hải như: sự cố tràn dầu, tràn các chất độc hại  
trong quá trình vận chuyển trên biển cũng đang là nguy cơ gây suy thoái môi 
trường nghiêm trọng. Ngành Hàng hải là một trong các ngành đang đóng 
một vai trò to lớn trong quá trình phát triển kinh tế   ở  nước ta, đóng góp  


quan trọng cho sự phát triển kinh tế ­ xã hội, bảo đảm an ninh ­ quốc phòng 
của đất nước. Trải qua 47 năm hình thành và phát triển, ngành hàng hải đã  
đạt được nhiều thành tựu quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình  
đẩy mạnh công nghiệp hoá ­ hiện đại hoá đất nước. Tuy nhiên, ô nhiễm và  

sông, mất nơi sinh cư, rừng ngập mặn,…
Khu vực cảng biển Hải Phòng là một trong những đầu mối trung tâm 
giao thương hàng hải lớn nhất của cả nước, đang tiếp tục được đầu tư xây 
dựng và mở  rộng ngày càng hiện đại. Vấn đề  bảo vệ  môi trường đối với  
hoạt động hàng hải phải được xem xét, giải quyết để  đảm bảo phát triển 
bền vững và hội nhập với khu vực và thế giới. Từ những vấn đề đặt ra nói 
trên, việc lựa  chọn, triển khai nghiên cứu đề tài "Nghiên cứu ảnh hưởng  
hoạt động hàng hải đến môi trường và đề  xuất giải pháp bảo vệ  môi  
trường khu vực cảng biển Hải Phòng đến năm 2020" là cần thiết. Luận 
văn tập trung giải quyết các vấn đề  quản lý môi trường, nghiên cứu các 
ảnh hưởng của hoạt động hàng hải đến môi trường từ đó đề xuất các giải  
pháp bảo vệ môi trường cho khu vực cảng biển Hải Phòng đến năm 2020. 
Các nội dung chính, trọng tâm vấn đề sẽ trình bày trong luận văn bao gồm:
­ Tổng quan tài liệu nghiên cứu
­ Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
­ Kết quả nghiên cứu và bàn luận, cụ thể gồm:
+ Hiện trạng về hoạt động hàng hải khu vực cảng biển Hải Phòng
+ Tổng quan về  quy hoạch cảng biển, vận tải biển và công nghiệp 
tàu thủy khu vực cảng biển Hải Phòng.
+ Thực trạng công tác quản lý môi trường đối với hoạt động hàng 
hải tại khu vực cảng biển Hải Phòng.
+ Ảnh hưởng hoạt động hàng hải đến môi trường khu vực cảng biển  

3


Hải Phòng
+ Đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường khu vực cảng biển Hải  
Phòng đến năm 2020.



5


Chiếm giữ vị trí địa lý kinh tế  thuận lợi, Hải Phòng là đầu mối giao 
thông quan trọng của hệ  thống đường thuỷ  nội địa vùng châu thổ  sông  
Hồng, sông Thái Bình và của tuyến quốc lộ lớn là quốc lộ 5, quốc lộ 10, là  
điểm cuối của tuyến đường sắt Hải Phòng ­ Hà Nội, là cửa ngõ thông ra 
biển nối với các tuyến hàng hải trong nước và quốc tế. Bởi vậy trong gần  
100 năm qua, tuy tuyến luồng ra vào cảng có nhiều hạn chế  nhưng cảng  
biển Hải Phòng vẫn luôn là cửa ngõ thông thương quan trọng nhất trong  
quan hệ trao đổi hàng hoá thương mại của các tỉnh phía Bắc Việt Nam với  
các nước trong khu vực và trên thế  giới. Theo số  liệu thống kê của Cảng 
vụ Hàng hải Hải Phòng năm 2008 lượng hàng khô tổng hợp thông qua cảng 
khu vực Hải Phòng đạt 16,8 triệu tấn (riêng cảng Hải Phòng đạt 11,2 triệu  
tấn), chiếm khoảng 85% tổng lượng hàng hoá tổng hợp thông qua các cảng 
biển phía Bắc. Sự  hình thành, phát triển hàng loạt các khu kinh tế, công 
nghiệp tập trung và các nhà máy với quy mô lớn dẫn đến hàng hoá xuất,  

6


nhập khẩu qua cảng tăng nhanh, đây thực sự  là một cơ  hội lớn đồng thời  
cũng là một thách thức lớn đối với việc nâng cấp, phát triển cảng biển khu  
vực Hải Phòng nói riêng và cụm cảng phía Bắc nói chung trong thời gian  
tới.
1.2.2. Điều kiện tự nhiên của thành phố Hải Phòng [2][8]
1.2.2.1.Vị trí địa lý ­ địa hình
Vị  trí địa lý:  Hải Phòng là thành phố  ven biển, nằm về  phía Đông 
miền duyên hải Bắc Bộ, cách thủ đô Hà Nội 102 km, tổng diện tích đất là  

cổ bên dưới, nơi trước đây đã xảy ra quá trình sụt võng với cường độ nhỏ.  
Cấu tạo địa chất gồm các loại đá cát kết, phiến sét và đá vôi có tuổi khác 
nhau được phân bố  thành từng dải liên tục theo hướng Tây Bắc ­ Đông 
Nam từ đất liền ra biển. 
Bờ  biển, hải đảo: Vùng biển Hải Phòng là một bộ  phận thuộc Tây 

8


Bắc vịnh Bắc Bộ. Các đặc điểm cấu trúc địa hình đáy biển và đặc điểm 
hải văn biển Hải Phòng gắn liền với những đặc điểm chung quanh của 
vịnh Bắc Bộ và biển Đông. Độ sâu của biển Hải Phòng không lớn. Đường  
đẳng sâu 2m chạy quanh mũi Đồ Sơn rồi hạ xuống 5m ở cách bờ khá xa. Ở 
đáy biển, nơi có các cửa sông đổ ra, do sức xâm thực của dòng chảy nên độ 
sâu lớn hơn. Ra xa ngoài khơi, đáy biển hạ  thấp dần theo độ  sâu của vịnh  
Bắc Bộ, chừng 30 ­ 40 m. Mặt đáy biển Hải Phòng được cấu tạo bằng  
thành phần mịn, có nhiều lạch sâu vốn là những lòng sông cũ dùng làm 
luồng lạch ra vào hàng ngày của tàu biển.
Hải Phòng có bờ biển dài trên 125 km kể cả bờ biển xung quanh các 
đảo khơi. Bờ biển có hướng 1 đường cong lõm của bờ vịnh Bắc Bộ, thấp  
và khá bằng phẳng, cấu tạo chủ yếu là cát bùn do 5 cửa sông chính đổ  ra.  
Trên đoạn chính giữa bờ  biển, mũi Đồ  Sơn nhô ra như  1 bán đảo, đây là 
điểm mút của dải đồi núi chạy từ trong đất liền, có cấu tạo đá cát kết (sa 
thạch) tuổi Đevon, đỉnh cao nhất đạt 125 m, độ  dài nhô ra biển 5 km theo 
hướng Tây Bắc ­ Đông Nam.  Ưu thế  về  cấu trúc tự  nhiên này đã tạo cho 
Đồ Sơn có một vị trí chiến lược quan trọng trên mặt biển, đồng thời cũng  
là một thắng cảnh nổi tiếng. Dưới chân những đồi đá cát kết có bãi tắm, có  
nơi nghỉ mát nên thơ và khu an dưỡng có giá trị. Ngoài khơi thuộc địa phận  
Hải Phòng có nhiều đảo rải rác trên khắp mặt biển, lớn nhất có đảo Cát 
Bà, xa nhất có đảo Bạch Long Vĩ. Bờ  biển và hải đảo đã tạo nên cảnh  

có xuất hiện gió xoáy với tốc độ từ 100 ­ 200m/s. Ngoài ra, còn hiện tượng  
hơi nước bị  hoá băng do đoạn nhiệt mạnh gây ra mưa đá trên một số  khu 
vực.
1.2.2.3. Thuỷ văn
Hải Phòng là miền đất nằm sát biển, có nhiều sông ngòi. Các sông 

10


của Hải Phòng đều là hạ  lưu cuối của hệ  thống sông Thái Bình sau khi 
chảy qua địa phận tỉnh Hải Dương. Các sông có hướng chảy chủ  yếu là 
Tây Bắc ­ Đông Nam, các sông lớn nhỏ  tạo thành mạng lưới dày đặc. Hệ 
thống sông chính bao gồm: sông Bạch Đằng, sông Hàn, sông Cấm, sông 
Kinh Môn, sông Lạch Tray, sông Văn Úc, sông Mới, sông Thái Bình, sông  
Luộc, sông Hoá. Hệ thống sông nhánh gồm các sông: sông Chung Mỹ, sông 
Lịch Sỹ, sông Giá, sông Tam Bạc, sông Đa Độ, sông Kinh Đông. Do nằm 
về cuối nguồn nên bề mặt các dòng chảy khá rộng, tốc độ  dòng nhỏ. Hầu  
hết các dòng chảy thuộc khu vực Hải Phòng chịu ảnh hưởng trực tiếp của 
thuỷ triều và bị nhiễm mặn.
1.2.2.4. Hải văn
Biển là yếu tố  tự  nhiên đặc sắc nhất của Hải Phòng, là nhân tố  tác 
động thường xuyên đến nhiều quá trình xảy ra trong thiên nhiên và  ảnh 
hưởng quan trọng đến nhiều hoạt động của con người. Hải Phòng là thành 
phố  biển, tổng diện tích chỉ  có 1.507,6km2  đất nổi, riêng hải đảo chiếm 
229,1km2. Vùng nước bên ngoài bờ  biển Hải Phòng là một dải hẹp, rộng 
khoảng 31 km, phần lớn không sâu quá 20 m, nơi sâu nhất không quá 40 m, 
bao quanh hệ  quần đảo Cát Bà, Bạch Long Vĩ, Thương Mai, Long Châu,  
Hòn Dáu.
Chế  độ  thuỷ  triều vịnh Bắc Bộ  mang tính chất nhật triều là chính. 
Vùng biển Hải Phòng là nơi có chế  độ  nhật triều điển hình, trong một 

thành và đổ  ra biển  ở cửa Cấm. Cảng Hải Phòng được xây dựng trên khu 
vực cửa sông này từ cuối thế kỷ 19. Sông Cấm cũng là ranh giới hành chính 
giữa huyện Thuỷ Nguyên và An Hải. 
­ Sông Đá Bạc ­ Bạch Đằng dài hơn 32 km cũng là nhánh của sông 
Kinh Môn đổ  ra biển  ở  cửa Nam Triệu và là ranh giới phía Bắc và Đông 

12


Bắc của Hải Phòng với Quảng Ninh. Cửa sông ở đây rộng và sâu, hai bên 
bờ là những vách núi đá vôi tráng lệ, nơi đây đã 3 lần ghi lại những chiến 
công   hiển   hách   của   dân   tộc   Việt   Nam   trong   lịch   sử   chống   xâm   lược 
phương Bắc ở thế kỷ thứ X và XIII. 
Ngoài các sông chính còn có các sông nhánh lớn nhỏ chia cắt khắp địa 
hình thành phố  như  sông Giá (Thuỷ  Nguyên), sông Đa Độ  (Kiến An ­ Đồ 
Sơn), sông Tam Bạc,... 
Nước ngầm: Do đặc điểm cấu tạo địa chất thuỷ  văn khu vực Hải  
Phòng phức tạp, nguồn nước ngầm bị  hạn chế, dễ  bị  xáo trộn và nhiễm  
mặn do bề  mặt địa hình bị  phân cách mạnh mẽ. Tổng trữ  lượng nước  
ngầm của Hải Phòng khoảng 40.000m3/ngày.
Tài nguyên sinh thái:
Thực vật: Thảm thực vật của Hải Phòng bao gồm cả  rừng tự nhiên 
và rừng ngập mặn. 
­ Rừng tự  nhiên tập trung chủ  yếu trên đảo Cát Bà và các đồi núi 
thuộc thị xã Đồ Sơn, Kiến An, An Lão và Thuỷ Nguyên.
­ Rừng ngập mặn ven đảo Cát Hải, Cát Bà, các huyện Thuỷ Nguyên, 
Kiến Thuỵ, Đồ  Sơn, Tiên Lãng và Vĩnh Bảo còn khoảng 6.623 ha, thuộc  
loại rừng ngập mặn lớn cả nước. Về giá trị kinh tế, rừng ngập mặn ở Hải 
Phòng là loại rừng phòng hộ giữ đất, ngăn sóng, bảo vệ đê ven biển.
Động vật ở Hải Phòng có 28 loài thú, 37 loài chim và 20 loài bò sát, 

phương và Trung  ương cũng như đời sống của nhân dân. Biển Hải Phòng 
có nhiều bãi cá, lớn nhất là bãi cá quanh đảo Bạch Long Vĩ trữ lượng cao  
và ổn định. Tại các vùng triều ven bờ, ven đảo và các vùng bãi triều ở các  
vùng cửa sông rộng có khả năng khai thác, vừa có khả năng nuôi trồng thuỷ 
sản nước mặn và nước lợ có giá trị kinh tế cao.

14


Tài nguyên đất: Hải Phòng có trên 57,000 ha đất canh tác, hình thành 
từ phù sa của hệ thống sông Thái Bình và nằm ven biển nên phần lớn mang  
tính chất đất phèn và phèn mặn, địa hình cao thấp xen nhau và nhiều đồng 
trũng. Thêm vào đó là những biến động của thời tiết có ảnh hưởng không  
tốt đến đất đai, cây trồng gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp, nhất là  
nghề trồng trọt.
Tài nguyên rừng: Hải Phòng phong phú và đa dạng về  tài nguyên 
rừng, có rừng nước mặn, rừng cây lấy gỗ, cây ăn quả, tre, mây,... đặc biệt 
có khu rừng nguyên sinh Cát Bà với thảm thực vật đa dạng và phong phú,  
trong đó có nhiều loại thảo mộc quí hiếm. 
1.2.3. Phát triển kinh tế xã hội [2][8]
 

Thành phố  Hải Phòng có diện tích đất liền là 1.208,5km2. Dân số 

khoảng 1,7 triệu người vào năm 2011, mật độ  1,154 người/km2. Trong đó 
13 ­ 14% sống  ở  vùng ven biển, hải  đảo và gần 60% sống bằng nông 
nghiệp, tỉ lệ tăng dân số tự nhiên 1,0%.
Hải Phòng có 14 đơn vị  hành chính gồm 5 quận nội thành: Hồng  
Bàng, Lê Chân, Ngô Quyền, Kiến An, Hải An. Có 1 thị  xã Đồ  Sơn và 8 
huyện:   Vĩnh   Bảo,   Tiên   Lãng,   An   Lão,   Kiến   Thuỵ,   An   Dương,   Thuỷ 


2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu của luận văn, bao gồm:
­ Các hoạt động hàng hải: 
+ Hoạt động xây dựng và khai thác cảng biển
+ Hoạt động vận tải biển và đội tàu
+ Hoạt động đóng mới, sửa chữa và phá dỡ tàu cũ 
­ Các ảnh hưởng hoạt động hàng hải đến tài nguyên môi trường:
+ Nước biển ven bờ
+ Không khí
+ Đất và trầm tích
+ Đa dạng sinh học
­ Các giải pháp bảo vệ môi trường.
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu của luận văn 
­ Phạm vi về  không gian: khu vực cảng biển Hải Phòng và xung 
quanh.
­ Phạm vi về  lĩnh vực nghiên cứu bao gồm điều kiện tự  nhiên, kinh  
tế xã hội, hiện trạng về hoạt động hàng hải, quy hoạch cảng biển, vận tải  
biển và công nghiệp tàu thủy, thực trạng công tác quản lý môi trường đối  
với hoạt động hàng hải,  ảnh hưởng hoạt động hàng hải đến môi trường  
khu vực cảng biển Hải Phòng và đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường  
khu vực cảng biển Hải Phòng đến năm 2020.
­ Phạm vi về thời gian: nghiên cứu các hoạt động hàng hải trong thời  
gian từ tháng 4/2011 đến tháng 4/2012.
2.2. Phương pháp nghiên cứu: 

17


­ Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa: tiến hành khảo sát thực  

2006­2010 và Kế  hoạch giảm thiểu ô nhiễm do hoạt động hàng hải giai  
đoạn 2011­2020.
Đề  án bảo vệ  môi trường Nghiên cứu xác định vùng thải nước dằn 
tàu cho khu vực cảng biển Hải Phòng ­ Quảng Ninh, mã số MT.074006.
Đề  án Quy hoạch vận tải biển Việt Nam  đến năm 2020 và định 
hướng đến năm 2030.
Quyết định số  2610/QĐ­TTg ngày 15/10/2009 của Thủ  tướng Chính 
phủ phê duyệt quy hoạch phát triển vận tải biển Việt Nam đến năm 2020 
và định hướng đến năm 2030.
Quyết định số  2190/QĐ­TTg ngày 24/12/2009 của Thủ  tướng Chính 
phủ về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam 
đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.
Quyết định số 855/QĐ­TTg ngày 6/6/2011 của Thủ tướng Chính phủ 
về  việc phê duyệt đề  án Kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động 
Giao thông vận tải.
 Báo cáo đánh giá tác động môi trường Dự án đầu tư  xây dựng công 
trình cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng, 2008.
Báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án đầu tư xây dựng và 
kinh doanh cơ sở hạ tầng khu phi thuế quan và khu công nghiệp Nam Đình 
Vũ.
Báo cáo tổng kết công tác quản lý hoạt động hàng hải năm 2011 và 
phương hướng, nhiệm vụ năm 2012 tại khu vực cảng biển Hải Phòng.
+ Phân tích nhận dạng các hoạt động hàng hải có  ảnh hưởng đến 
môi trường khu vực cảng biển Hải Phòng. 
­ Phương pháp thống kê: các số  liệu điều kiện tự  nhiên, kinh tế  xã 

19


hội cũng như các số liệu khác tại khu vực cảng biển Hải Phòng được phân 

thì khu vực cảng nổi Bến Gót đóng vai trò quan trọng trong việc đưa các 
tàu có trọng tải lớn hành thuỷ trong điều kiện hạn chế ra vào cảng. Khi đó 

21


việc tiếp nhận các tàu có trọng tải đến 20.000 DWT và các tàu lớn hơn có  
kích   thước   LxB   =   (230­240)x(30­33)m   giảm   tải   mớn   8,5­9,6m   tương  
đương 40.000 DWT tại khu Đình Vũ sẽ  thuận lợi hơn nhiều do luồng tàu  
ngắn, rộng, bán kính cong lớn và độ sâu luồng được cải thiện đáng kể và vị 
trí vũng quay tàu không bị hạn chế.
Luồng Hải Phòng có tổng chiều dài khoảng 85 km, bao gồm các  
đoạn luồng Lạch Huyện, Hà Nam, Bạch Đằng, Sông Cấm, Vật Cách, Phà  
Rừng và Nam Triệu. Hiện tại, độ sâu đoạn luồng Lạch Huyện đạt ­ 6,4 m,  
kênh Hà Nam ­ 6,4 m, Bạch Đằng ­ 6,5 m, sông Cấm từ ­ 5,3 m đến ­ 6,3 m,  
Vật Cách ­ 3,4 m, Phà Rừng từ ­ 1,8 m đến ­ 3,6 m, Nam Triệu ­ 1,2 m đến  
­ 2,6 m. Hệ thống luồng hàng hải được lắp đặt các trang thiết bị, phao tiêu 
báo hiệu hàng hải theo tiêu chuẩn Việt Nam và quốc tế  đáp  ứng yêu cầu  
đảm bảo an toàn cho tàu ra, vào khu vực cảng biển Hải Phòng an toàn 
24/24 giờ trong ngày.
Tuy nhiên, với đặc điểm hệ thống luồng Hải Phòng có chiều dài khá 
lớn gắn liền với sông lại có tốc độ  sa bồi lớn, nên độ  sâu khai thác luồng 
không đồng đều, thường xuất hiện những dải cạn cục bộ trên luồng, đặc 
biệt vào mùa mưa lũ, đã gây khó khăn cho việc lập kế hoạch điều động tàu 
ra, vào cảng và làm tăng chi phí khi các tàu đến phải chuyển tải trước khi 
vào cảng làm hàng, phần nào cũng làm  ảnh hưởng tới tốc độ  tăng trưởng  
chung của khu vực. Độ  sâu khai thác hiện tại của đoạn luồng xung yếu  
như luồng kênh Hà Nam hiện tại chỉ đạt ­ 6,4 m so với chuẩn tắc thiết kế 
là ­ 7,2 m. Trong những năm qua hệ  thống luồng Hải Phòng đã được nhà 
nước quan tâm đầu tư  kinh phí duy tu nạo vét, nhưng nguồn kinh phí này 


Kinh phí 

lượng nạo  nạo vét duy 

Lạch 

Hà 

Bạch 

Sông 

vét duy tu 

tu 

Huyện

Nam

Đằng

Cấm

(m3)

( Tỷ đồng )

­7,2


­5,7
­5.7
­5,1

­5,5
­5,5
 ­5,2

Không

Không

716.210

59,9

­6,4
­6,1
­5,8

­6,4
­5,0
­5,0

­6,4
­5,0
­5,0

­5,5



cảng chủ  yếu được áp dụng tại các bến cảng container và đã bước đầu 
phát huy tốt vai trò, làm tăng hiệu quả bốc xếp, giải phóng tàu nhanh. Tuy 
nhiên, việc đầu tư nâng cấp chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của  
thành phố. Do đó khả  năng tiếp nhận các tàu có trọng tải lớn đầy tải ra,  
vào làm hàng còn hạn chế, sự tăng trưởng theo đó cũng bị ảnh hưởng. Vấn 
đề  bảo vệ  môi trường tại cảng biển nói chung chưa được các cảng quan  
tâm đầu tư thực hiện một cách đúng mức mà vẫn mang tính hình thức. Đối 
với các bến cảng bốc xếp hàng tổng hợp, bách hóa thì việc áp dụng khoa 
học công nghệ  vào quản lý khai thác chưa đồng bộ, mới chỉ  phổ  biến là 
việc tin học hóa trong văn phòng.
Theo báo cáo của Cảng vụ  Hàng hải Hải Phòng năm 2011, tốc độ 
tăng trưởng bình quân hàng năm của tổng sản lượng hàng thông qua khu  
vực cảng biển Hải Phòng trên 10%. Năm 2009, sản lượng hàng hóa thông 
qua các cảng trong khu vực cảng biển Hải Phòng đạt 33,4 triệu tấn, tăng 
15% so với năm 2008. Năm 2011, sản lượng hàng hóa thông qua khu vực  
cảng biển Hải Phòng đạt 43 triệu tấn tăng 12% so với năm 2010 và bằng  
15% so với hàng hóa thông qua các cảng biển trên toàn quốc là 286 triệu 
tấn (Phụ lục I). Dự kiến, năm 2012 sản lượng hàng hóa thông qua khu vực 
cảng biển Hải Phòng đạt 48 triệu tấn.
3.1.2. Hoạt động vận tải biển [6]
Dựa vào các số  liệu thống kê và tài liệu thu thập được từ  Bộ  Giao  
thông vận tải và Cục Hàng hải Việt Nam thì tính đến năm 2011, khu vực 
cảng biển Hải Phòng đã có tổng số  tàu đăng ký khoảng 600 chiếc chiếm 
35,5% tổng số  tàu đăng ký trong toàn quốc (1.691 tàu), với tổng số  tấn  
trọng tải   chiếm  37%  tổng  số  tấn trọng tải của  đội  tàu  trong  cả  nước  
(7.467.269 DWT). Số lượng tàu đăng ký hoạt động và số  tấn trọng tải tàu 

24



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status