MỞ ĐẦU
Ô nhiễm môi trường do các hoạt động hàng hải, công nghiệp và dân
sinh đã và đang gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng môi
trường sống, làm suy thoái đa dạng sinh học và gây ra những tác động xấu
đến sức khỏe con người ở nhiều nơi trên thế giới. Hàng năm, chính quyền
các thành phố lớn hay chính phủ nhiều nước đã phải bỏ ra khoản chi phí
khổng lồ để khắc phục và giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Ở Việt Nam, ô
nhiễm môi trường đang trở thành mối quan tâm hàng đầu khi chất lượng
môi trường không khí tại các khu đô thị đang xuống cấp từng ngày, môi
trường nước tại các hệ thống sông ngòi, vùng biển ven bờ cũng đang dần
dần bị ô nhiễm, chất lượng môi trường sống tại nhiều vùng nông thôn cũng
đã bị tác động nghiêm trọng. Sự thay đổi này đã và đang tác động sâu sắc
đến sức khỏe con người như gia tăng nhanh các loại bệnh như ung thư,
mắt, đường tiêu hóa, ...
Hoạt động hàng hải bao gồm nhiều lĩnh vực, trong đó có các lĩnh vực
chính là cảng biển và luồng cảng biển, vận tải biển và đội tàu vận tải
biển, công nghiệp đóng mới và sửa chữa tàu biển. Hoạt động hàng hải
đóng góp đáng kể chất ô nhiễm môi trường, đặc biệt là ô nhiễm không khí,
nước biển. Hoạt động hàng hải cũng đã được ghi nhận là nguồn gây ô
nhiễm môi trường lớn cần thực hiện các giải pháp giảm thiểu. Sự cố môi
trường trong hoạt động hàng hải như: sự cố tràn dầu, tràn các chất độc hại
trong quá trình vận chuyển trên biển cũng đang là nguy cơ gây suy thoái môi
trường nghiêm trọng. Ngành Hàng hải là một trong các ngành đang đóng
một vai trò to lớn trong quá trình phát triển kinh tế ở nước ta, đóng góp
quan trọng cho sự phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng
của đất nước. Trải qua 47 năm hình thành và phát triển, ngành hàng hải đã
đạt được nhiều thành tựu quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình
đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Tuy nhiên, ô nhiễm và
sông, mất nơi sinh cư, rừng ngập mặn,…
Khu vực cảng biển Hải Phòng là một trong những đầu mối trung tâm
giao thương hàng hải lớn nhất của cả nước, đang tiếp tục được đầu tư xây
dựng và mở rộng ngày càng hiện đại. Vấn đề bảo vệ môi trường đối với
hoạt động hàng hải phải được xem xét, giải quyết để đảm bảo phát triển
bền vững và hội nhập với khu vực và thế giới. Từ những vấn đề đặt ra nói
trên, việc lựa chọn, triển khai nghiên cứu đề tài "Nghiên cứu ảnh hưởng
hoạt động hàng hải đến môi trường và đề xuất giải pháp bảo vệ môi
trường khu vực cảng biển Hải Phòng đến năm 2020" là cần thiết. Luận
văn tập trung giải quyết các vấn đề quản lý môi trường, nghiên cứu các
ảnh hưởng của hoạt động hàng hải đến môi trường từ đó đề xuất các giải
pháp bảo vệ môi trường cho khu vực cảng biển Hải Phòng đến năm 2020.
Các nội dung chính, trọng tâm vấn đề sẽ trình bày trong luận văn bao gồm:
Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu và bàn luận, cụ thể gồm:
+ Hiện trạng về hoạt động hàng hải khu vực cảng biển Hải Phòng
+ Tổng quan về quy hoạch cảng biển, vận tải biển và công nghiệp
tàu thủy khu vực cảng biển Hải Phòng.
+ Thực trạng công tác quản lý môi trường đối với hoạt động hàng
hải tại khu vực cảng biển Hải Phòng.
+ Ảnh hưởng hoạt động hàng hải đến môi trường khu vực cảng biển
3
Hải Phòng
+ Đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường khu vực cảng biển Hải
Phòng đến năm 2020.
5
Chiếm giữ vị trí địa lý kinh tế thuận lợi, Hải Phòng là đầu mối giao
thông quan trọng của hệ thống đường thuỷ nội địa vùng châu thổ sông
Hồng, sông Thái Bình và của tuyến quốc lộ lớn là quốc lộ 5, quốc lộ 10, là
điểm cuối của tuyến đường sắt Hải Phòng Hà Nội, là cửa ngõ thông ra
biển nối với các tuyến hàng hải trong nước và quốc tế. Bởi vậy trong gần
100 năm qua, tuy tuyến luồng ra vào cảng có nhiều hạn chế nhưng cảng
biển Hải Phòng vẫn luôn là cửa ngõ thông thương quan trọng nhất trong
quan hệ trao đổi hàng hoá thương mại của các tỉnh phía Bắc Việt Nam với
các nước trong khu vực và trên thế giới. Theo số liệu thống kê của Cảng
vụ Hàng hải Hải Phòng năm 2008 lượng hàng khô tổng hợp thông qua cảng
khu vực Hải Phòng đạt 16,8 triệu tấn (riêng cảng Hải Phòng đạt 11,2 triệu
tấn), chiếm khoảng 85% tổng lượng hàng hoá tổng hợp thông qua các cảng
biển phía Bắc. Sự hình thành, phát triển hàng loạt các khu kinh tế, công
nghiệp tập trung và các nhà máy với quy mô lớn dẫn đến hàng hoá xuất,
6
nhập khẩu qua cảng tăng nhanh, đây thực sự là một cơ hội lớn đồng thời
cũng là một thách thức lớn đối với việc nâng cấp, phát triển cảng biển khu
vực Hải Phòng nói riêng và cụm cảng phía Bắc nói chung trong thời gian
tới.
1.2.2. Điều kiện tự nhiên của thành phố Hải Phòng [2][8]
1.2.2.1.Vị trí địa lý địa hình
Vị trí địa lý: Hải Phòng là thành phố ven biển, nằm về phía Đông
miền duyên hải Bắc Bộ, cách thủ đô Hà Nội 102 km, tổng diện tích đất là
cổ bên dưới, nơi trước đây đã xảy ra quá trình sụt võng với cường độ nhỏ.
Cấu tạo địa chất gồm các loại đá cát kết, phiến sét và đá vôi có tuổi khác
nhau được phân bố thành từng dải liên tục theo hướng Tây Bắc Đông
Nam từ đất liền ra biển.
Bờ biển, hải đảo: Vùng biển Hải Phòng là một bộ phận thuộc Tây
8
Bắc vịnh Bắc Bộ. Các đặc điểm cấu trúc địa hình đáy biển và đặc điểm
hải văn biển Hải Phòng gắn liền với những đặc điểm chung quanh của
vịnh Bắc Bộ và biển Đông. Độ sâu của biển Hải Phòng không lớn. Đường
đẳng sâu 2m chạy quanh mũi Đồ Sơn rồi hạ xuống 5m ở cách bờ khá xa. Ở
đáy biển, nơi có các cửa sông đổ ra, do sức xâm thực của dòng chảy nên độ
sâu lớn hơn. Ra xa ngoài khơi, đáy biển hạ thấp dần theo độ sâu của vịnh
Bắc Bộ, chừng 30 40 m. Mặt đáy biển Hải Phòng được cấu tạo bằng
thành phần mịn, có nhiều lạch sâu vốn là những lòng sông cũ dùng làm
luồng lạch ra vào hàng ngày của tàu biển.
Hải Phòng có bờ biển dài trên 125 km kể cả bờ biển xung quanh các
đảo khơi. Bờ biển có hướng 1 đường cong lõm của bờ vịnh Bắc Bộ, thấp
và khá bằng phẳng, cấu tạo chủ yếu là cát bùn do 5 cửa sông chính đổ ra.
Trên đoạn chính giữa bờ biển, mũi Đồ Sơn nhô ra như 1 bán đảo, đây là
điểm mút của dải đồi núi chạy từ trong đất liền, có cấu tạo đá cát kết (sa
thạch) tuổi Đevon, đỉnh cao nhất đạt 125 m, độ dài nhô ra biển 5 km theo
hướng Tây Bắc Đông Nam. Ưu thế về cấu trúc tự nhiên này đã tạo cho
Đồ Sơn có một vị trí chiến lược quan trọng trên mặt biển, đồng thời cũng
là một thắng cảnh nổi tiếng. Dưới chân những đồi đá cát kết có bãi tắm, có
nơi nghỉ mát nên thơ và khu an dưỡng có giá trị. Ngoài khơi thuộc địa phận
Hải Phòng có nhiều đảo rải rác trên khắp mặt biển, lớn nhất có đảo Cát
Bà, xa nhất có đảo Bạch Long Vĩ. Bờ biển và hải đảo đã tạo nên cảnh
có xuất hiện gió xoáy với tốc độ từ 100 200m/s. Ngoài ra, còn hiện tượng
hơi nước bị hoá băng do đoạn nhiệt mạnh gây ra mưa đá trên một số khu
vực.
1.2.2.3. Thuỷ văn
Hải Phòng là miền đất nằm sát biển, có nhiều sông ngòi. Các sông
10
của Hải Phòng đều là hạ lưu cuối của hệ thống sông Thái Bình sau khi
chảy qua địa phận tỉnh Hải Dương. Các sông có hướng chảy chủ yếu là
Tây Bắc Đông Nam, các sông lớn nhỏ tạo thành mạng lưới dày đặc. Hệ
thống sông chính bao gồm: sông Bạch Đằng, sông Hàn, sông Cấm, sông
Kinh Môn, sông Lạch Tray, sông Văn Úc, sông Mới, sông Thái Bình, sông
Luộc, sông Hoá. Hệ thống sông nhánh gồm các sông: sông Chung Mỹ, sông
Lịch Sỹ, sông Giá, sông Tam Bạc, sông Đa Độ, sông Kinh Đông. Do nằm
về cuối nguồn nên bề mặt các dòng chảy khá rộng, tốc độ dòng nhỏ. Hầu
hết các dòng chảy thuộc khu vực Hải Phòng chịu ảnh hưởng trực tiếp của
thuỷ triều và bị nhiễm mặn.
1.2.2.4. Hải văn
Biển là yếu tố tự nhiên đặc sắc nhất của Hải Phòng, là nhân tố tác
động thường xuyên đến nhiều quá trình xảy ra trong thiên nhiên và ảnh
hưởng quan trọng đến nhiều hoạt động của con người. Hải Phòng là thành
phố biển, tổng diện tích chỉ có 1.507,6km2 đất nổi, riêng hải đảo chiếm
229,1km2. Vùng nước bên ngoài bờ biển Hải Phòng là một dải hẹp, rộng
khoảng 31 km, phần lớn không sâu quá 20 m, nơi sâu nhất không quá 40 m,
bao quanh hệ quần đảo Cát Bà, Bạch Long Vĩ, Thương Mai, Long Châu,
Hòn Dáu.
Chế độ thuỷ triều vịnh Bắc Bộ mang tính chất nhật triều là chính.
Vùng biển Hải Phòng là nơi có chế độ nhật triều điển hình, trong một
thành và đổ ra biển ở cửa Cấm. Cảng Hải Phòng được xây dựng trên khu
vực cửa sông này từ cuối thế kỷ 19. Sông Cấm cũng là ranh giới hành chính
giữa huyện Thuỷ Nguyên và An Hải.
Sông Đá Bạc Bạch Đằng dài hơn 32 km cũng là nhánh của sông
Kinh Môn đổ ra biển ở cửa Nam Triệu và là ranh giới phía Bắc và Đông
12
Bắc của Hải Phòng với Quảng Ninh. Cửa sông ở đây rộng và sâu, hai bên
bờ là những vách núi đá vôi tráng lệ, nơi đây đã 3 lần ghi lại những chiến
công hiển hách của dân tộc Việt Nam trong lịch sử chống xâm lược
phương Bắc ở thế kỷ thứ X và XIII.
Ngoài các sông chính còn có các sông nhánh lớn nhỏ chia cắt khắp địa
hình thành phố như sông Giá (Thuỷ Nguyên), sông Đa Độ (Kiến An Đồ
Sơn), sông Tam Bạc,...
Nước ngầm: Do đặc điểm cấu tạo địa chất thuỷ văn khu vực Hải
Phòng phức tạp, nguồn nước ngầm bị hạn chế, dễ bị xáo trộn và nhiễm
mặn do bề mặt địa hình bị phân cách mạnh mẽ. Tổng trữ lượng nước
ngầm của Hải Phòng khoảng 40.000m3/ngày.
Tài nguyên sinh thái:
Thực vật: Thảm thực vật của Hải Phòng bao gồm cả rừng tự nhiên
và rừng ngập mặn.
Rừng tự nhiên tập trung chủ yếu trên đảo Cát Bà và các đồi núi
thuộc thị xã Đồ Sơn, Kiến An, An Lão và Thuỷ Nguyên.
Rừng ngập mặn ven đảo Cát Hải, Cát Bà, các huyện Thuỷ Nguyên,
Kiến Thuỵ, Đồ Sơn, Tiên Lãng và Vĩnh Bảo còn khoảng 6.623 ha, thuộc
loại rừng ngập mặn lớn cả nước. Về giá trị kinh tế, rừng ngập mặn ở Hải
Phòng là loại rừng phòng hộ giữ đất, ngăn sóng, bảo vệ đê ven biển.
Động vật ở Hải Phòng có 28 loài thú, 37 loài chim và 20 loài bò sát,
phương và Trung ương cũng như đời sống của nhân dân. Biển Hải Phòng
có nhiều bãi cá, lớn nhất là bãi cá quanh đảo Bạch Long Vĩ trữ lượng cao
và ổn định. Tại các vùng triều ven bờ, ven đảo và các vùng bãi triều ở các
vùng cửa sông rộng có khả năng khai thác, vừa có khả năng nuôi trồng thuỷ
sản nước mặn và nước lợ có giá trị kinh tế cao.
14
Tài nguyên đất: Hải Phòng có trên 57,000 ha đất canh tác, hình thành
từ phù sa của hệ thống sông Thái Bình và nằm ven biển nên phần lớn mang
tính chất đất phèn và phèn mặn, địa hình cao thấp xen nhau và nhiều đồng
trũng. Thêm vào đó là những biến động của thời tiết có ảnh hưởng không
tốt đến đất đai, cây trồng gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp, nhất là
nghề trồng trọt.
Tài nguyên rừng: Hải Phòng phong phú và đa dạng về tài nguyên
rừng, có rừng nước mặn, rừng cây lấy gỗ, cây ăn quả, tre, mây,... đặc biệt
có khu rừng nguyên sinh Cát Bà với thảm thực vật đa dạng và phong phú,
trong đó có nhiều loại thảo mộc quí hiếm.
1.2.3. Phát triển kinh tế xã hội [2][8]
Thành phố Hải Phòng có diện tích đất liền là 1.208,5km2. Dân số
khoảng 1,7 triệu người vào năm 2011, mật độ 1,154 người/km2. Trong đó
13 14% sống ở vùng ven biển, hải đảo và gần 60% sống bằng nông
nghiệp, tỉ lệ tăng dân số tự nhiên 1,0%.
Hải Phòng có 14 đơn vị hành chính gồm 5 quận nội thành: Hồng
Bàng, Lê Chân, Ngô Quyền, Kiến An, Hải An. Có 1 thị xã Đồ Sơn và 8
huyện: Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, An Lão, Kiến Thuỵ, An Dương, Thuỷ
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu của luận văn, bao gồm:
Các hoạt động hàng hải:
+ Hoạt động xây dựng và khai thác cảng biển
+ Hoạt động vận tải biển và đội tàu
+ Hoạt động đóng mới, sửa chữa và phá dỡ tàu cũ
Các ảnh hưởng hoạt động hàng hải đến tài nguyên môi trường:
+ Nước biển ven bờ
+ Không khí
+ Đất và trầm tích
+ Đa dạng sinh học
Các giải pháp bảo vệ môi trường.
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Phạm vi về không gian: khu vực cảng biển Hải Phòng và xung
quanh.
Phạm vi về lĩnh vực nghiên cứu bao gồm điều kiện tự nhiên, kinh
tế xã hội, hiện trạng về hoạt động hàng hải, quy hoạch cảng biển, vận tải
biển và công nghiệp tàu thủy, thực trạng công tác quản lý môi trường đối
với hoạt động hàng hải, ảnh hưởng hoạt động hàng hải đến môi trường
khu vực cảng biển Hải Phòng và đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường
khu vực cảng biển Hải Phòng đến năm 2020.
Phạm vi về thời gian: nghiên cứu các hoạt động hàng hải trong thời
gian từ tháng 4/2011 đến tháng 4/2012.
2.2. Phương pháp nghiên cứu:
17
Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa: tiến hành khảo sát thực
20062010 và Kế hoạch giảm thiểu ô nhiễm do hoạt động hàng hải giai
đoạn 20112020.
Đề án bảo vệ môi trường Nghiên cứu xác định vùng thải nước dằn
tàu cho khu vực cảng biển Hải Phòng Quảng Ninh, mã số MT.074006.
Đề án Quy hoạch vận tải biển Việt Nam đến năm 2020 và định
hướng đến năm 2030.
Quyết định số 2610/QĐTTg ngày 15/10/2009 của Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt quy hoạch phát triển vận tải biển Việt Nam đến năm 2020
và định hướng đến năm 2030.
Quyết định số 2190/QĐTTg ngày 24/12/2009 của Thủ tướng Chính
phủ về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam
đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.
Quyết định số 855/QĐTTg ngày 6/6/2011 của Thủ tướng Chính phủ
về việc phê duyệt đề án Kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động
Giao thông vận tải.
Báo cáo đánh giá tác động môi trường Dự án đầu tư xây dựng công
trình cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng, 2008.
Báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án đầu tư xây dựng và
kinh doanh cơ sở hạ tầng khu phi thuế quan và khu công nghiệp Nam Đình
Vũ.
Báo cáo tổng kết công tác quản lý hoạt động hàng hải năm 2011 và
phương hướng, nhiệm vụ năm 2012 tại khu vực cảng biển Hải Phòng.
+ Phân tích nhận dạng các hoạt động hàng hải có ảnh hưởng đến
môi trường khu vực cảng biển Hải Phòng.
Phương pháp thống kê: các số liệu điều kiện tự nhiên, kinh tế xã
19
hội cũng như các số liệu khác tại khu vực cảng biển Hải Phòng được phân
thì khu vực cảng nổi Bến Gót đóng vai trò quan trọng trong việc đưa các
tàu có trọng tải lớn hành thuỷ trong điều kiện hạn chế ra vào cảng. Khi đó
21
việc tiếp nhận các tàu có trọng tải đến 20.000 DWT và các tàu lớn hơn có
kích thước LxB = (230240)x(3033)m giảm tải mớn 8,59,6m tương
đương 40.000 DWT tại khu Đình Vũ sẽ thuận lợi hơn nhiều do luồng tàu
ngắn, rộng, bán kính cong lớn và độ sâu luồng được cải thiện đáng kể và vị
trí vũng quay tàu không bị hạn chế.
Luồng Hải Phòng có tổng chiều dài khoảng 85 km, bao gồm các
đoạn luồng Lạch Huyện, Hà Nam, Bạch Đằng, Sông Cấm, Vật Cách, Phà
Rừng và Nam Triệu. Hiện tại, độ sâu đoạn luồng Lạch Huyện đạt 6,4 m,
kênh Hà Nam 6,4 m, Bạch Đằng 6,5 m, sông Cấm từ 5,3 m đến 6,3 m,
Vật Cách 3,4 m, Phà Rừng từ 1,8 m đến 3,6 m, Nam Triệu 1,2 m đến
2,6 m. Hệ thống luồng hàng hải được lắp đặt các trang thiết bị, phao tiêu
báo hiệu hàng hải theo tiêu chuẩn Việt Nam và quốc tế đáp ứng yêu cầu
đảm bảo an toàn cho tàu ra, vào khu vực cảng biển Hải Phòng an toàn
24/24 giờ trong ngày.
Tuy nhiên, với đặc điểm hệ thống luồng Hải Phòng có chiều dài khá
lớn gắn liền với sông lại có tốc độ sa bồi lớn, nên độ sâu khai thác luồng
không đồng đều, thường xuất hiện những dải cạn cục bộ trên luồng, đặc
biệt vào mùa mưa lũ, đã gây khó khăn cho việc lập kế hoạch điều động tàu
ra, vào cảng và làm tăng chi phí khi các tàu đến phải chuyển tải trước khi
vào cảng làm hàng, phần nào cũng làm ảnh hưởng tới tốc độ tăng trưởng
chung của khu vực. Độ sâu khai thác hiện tại của đoạn luồng xung yếu
như luồng kênh Hà Nam hiện tại chỉ đạt 6,4 m so với chuẩn tắc thiết kế
là 7,2 m. Trong những năm qua hệ thống luồng Hải Phòng đã được nhà
nước quan tâm đầu tư kinh phí duy tu nạo vét, nhưng nguồn kinh phí này
Kinh phí
lượng nạo nạo vét duy
Lạch
Hà
Bạch
Sông
vét duy tu
tu
Huyện
Nam
Đằng
Cấm
(m3)
( Tỷ đồng )
7,2
5,7
5.7
5,1
5,5
5,5
5,2
Không
Không
716.210
59,9
6,4
6,1
5,8
6,4
5,0
5,0
6,4
5,0
5,0
5,5
cảng chủ yếu được áp dụng tại các bến cảng container và đã bước đầu
phát huy tốt vai trò, làm tăng hiệu quả bốc xếp, giải phóng tàu nhanh. Tuy
nhiên, việc đầu tư nâng cấp chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của
thành phố. Do đó khả năng tiếp nhận các tàu có trọng tải lớn đầy tải ra,
vào làm hàng còn hạn chế, sự tăng trưởng theo đó cũng bị ảnh hưởng. Vấn
đề bảo vệ môi trường tại cảng biển nói chung chưa được các cảng quan
tâm đầu tư thực hiện một cách đúng mức mà vẫn mang tính hình thức. Đối
với các bến cảng bốc xếp hàng tổng hợp, bách hóa thì việc áp dụng khoa
học công nghệ vào quản lý khai thác chưa đồng bộ, mới chỉ phổ biến là
việc tin học hóa trong văn phòng.
Theo báo cáo của Cảng vụ Hàng hải Hải Phòng năm 2011, tốc độ
tăng trưởng bình quân hàng năm của tổng sản lượng hàng thông qua khu
vực cảng biển Hải Phòng trên 10%. Năm 2009, sản lượng hàng hóa thông
qua các cảng trong khu vực cảng biển Hải Phòng đạt 33,4 triệu tấn, tăng
15% so với năm 2008. Năm 2011, sản lượng hàng hóa thông qua khu vực
cảng biển Hải Phòng đạt 43 triệu tấn tăng 12% so với năm 2010 và bằng
15% so với hàng hóa thông qua các cảng biển trên toàn quốc là 286 triệu
tấn (Phụ lục I). Dự kiến, năm 2012 sản lượng hàng hóa thông qua khu vực
cảng biển Hải Phòng đạt 48 triệu tấn.
3.1.2. Hoạt động vận tải biển [6]
Dựa vào các số liệu thống kê và tài liệu thu thập được từ Bộ Giao
thông vận tải và Cục Hàng hải Việt Nam thì tính đến năm 2011, khu vực
cảng biển Hải Phòng đã có tổng số tàu đăng ký khoảng 600 chiếc chiếm
35,5% tổng số tàu đăng ký trong toàn quốc (1.691 tàu), với tổng số tấn
trọng tải chiếm 37% tổng số tấn trọng tải của đội tàu trong cả nước
(7.467.269 DWT). Số lượng tàu đăng ký hoạt động và số tấn trọng tải tàu
24