Luận văn tốt nghiệp cử nhân luật kinh tế về pháp luật về giao kết hợp đồng qua fax và email thực tiễn thực hiện - Pdf 37

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT

LÊ THỊ KIỀU TRINH

GIAO KẾT HỢP ĐỒNG QUA FAX & EMAILTHỰC TRẠNG TẠI CÔNG TY TNHH NHÀ MÁY
SỬA CHỮA VÀ ĐÓNG TÀU SÀI GÒN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
CHUYÊN NGÀNH LUẬT KINH DOANH

TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT

LÊ THỊ KIỀU TRINH

GIAO KẾT HỢP ĐỒNG QUA FAX & EMAILTHỰC TRẠNG TẠI CÔNG TY TNHH NHÀ MÁY
SỬA CHỮA VÀ ĐÓNG TÀU SÀI GÒN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Chuyên ngành Luật kinh doanh – Mã số 52380101


được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đã được chỉ rõ
nguồn gốc”

Tác giả khóa luận
(ký và ghi rõ họ tên người cam đoan)

Lê Thị Kiều Trinh

ii


TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT
---   ---

PHIẾU ĐIỂM CỦA ĐƠN VỊ THỰC TẬP
Sinh viên thực tập: LÊ THỊ KIỀU TRINH MSSV: 33131020334
Lớp: Luật kinh doanh

Khóa:

16

Hệ: VB2CQ

Đơn vị thực tập: CÔNG TY TNHH NHÀ MÁY SỬA CHỮA VÀ
ĐÓNG TÀU SÀI GÒN


TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT
---   ---

PHIẾU ĐIỂM CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Sinh viên thực tập: LÊ THỊ KIỀU TRINH MSSV: 33131020334
Lớp: Luật kinh doanh

Khóa:

16

Hệ: VB2CQ

Đơn vị thực tập: Viết tên đơn vị thực tập vào đây
Đề tài nghiên cứu:
GIAO KẾT HỢP ĐỒNG QUA FAX &EMAIL-THỰC TRẠNG TẠI
CÔNG TY TNHH NHÀ MÁY SỬA CHỮA VÀ ĐÓNG TÀU SÀI GÒN.
Nhận xét chung:
…………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
Đánh giá và chấm điểm quá trình thực tập
(1) Có tinh thần thái độ phù hợp, chấp hành kỷ luật tốt (tối đa 3 điểm)..…….
(2) Thực hiện tốt yêu cầu của GVHD, nộp KL đúng hạn (tối đa 7 điểm)……..
Tổng cộng điểm thực tập cộng (1) + (2)……………….
Điểm chữ:…………………………………………………
Kết luận của người hướng dẫn thực tập & viết khóa luận

GIAO KẾT HỢP ĐỒNG QUA FAX & EMAIL – THỰC TRẠNG TẠI
CÔNG TY TNHH NHÀ MÁY SỬA CHỮA VÀ ĐÓNG TÀU SÀI GÒN.
Nhận xét chung:
…………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………..
Đánh giá cụ thể
(1) Điểm quá trình (tối đa 1 điểm)……………………………………….
(2) Hình thức khóa luận (tối đa 1 điểm)………………………………….
(3) Nội dung khóa luận
- Tính phù hợp, thực tiễn và mới của đề tài (tối đa 1 điểm)……..…..
- Phần mở đầu (tối đa 0,5 điểm)…………………………………………
- Phần 1(tối đa 1,5 điểm)………………………………………..………..
- Phần 2 (tối đa 3 điểm)…………………………………………….…….
- Phần 3 (tối đa 1 điểm)……………………………….…………...…….
- Phần kết luận (tối đa 1 điểm)……………………………………..……
Điểm số tổng cộng (1) + (2) + (3)……………………….
Điểm chữ:……………………………………………….
Tp.HCM, ngày …… tháng 10 năm 2015
Người chấm thứ nhất

v


TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT
---   ---

PHIẾU ĐIỂM CỦA NGƯỜI CHẤM THỨ NHẤT
Sinh viên thực tập: LÊ THỊ KIỀU TRINH MSSV: 33131020334


vi


MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU.................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài............................................................................................................1
2. Mục tiêu nghiên cứu:......................................................................................................2
3. Phương pháp và phạm vi nghiên cứu.............................................................................2
4. Kết cấu đề tài..................................................................................................................2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA GIAO KẾT HỢP
ĐỒNG QUA FAX & EMAIL.........................................................................4



vii


LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Khi xã hội ngày càng phát triển thì con người sẽ luôn cố gắng tìm ra
những phương pháp mới để đơn giản hóa hoạt động thương mại, sản xuất
của chính mình. Theo đà phát triển đó, kinh doanh thương mại không thể
thiếu các bản hợp đồng, các thỏa thuận để tạo sự đồng nhất và đảm bảo lợi
ích giữa các bên tham gia ký kết. Nhưng việc gặp nhau, mặt đối mặt để cùng
thảo luận hợp đồng lại tốn khá nhiều thời gian cũng như các chi phí khác. Vì
thế, các bên tham gia đã hướng đến việc chọn hình thức giao kết hợp đồng
qua fax & email để rút ngắn các giai đoạn trong thương thảo. Trên cơ sở sự

2. Mục tiêu nghiên cứu:
Trên cơ sở khái quát về hình thức giao kết hợp đồng qua fax & email
và nêu lên hậu quả pháp lý thường gặp trong giao kết, đồng thời, đề ra hướng
phòng tránh cũng như hạn chế rủi ro này trong giao kết hợp đồng. Tác giả
muốn hướng đến việc có thể xem xét áp dụng hình thức giao kết hợp đồng
này tại công ty một cách hữu hiệu và mang lại lợi ích tối ưu.

3. Phương pháp và phạm vi nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu:
Tác giả lấy ý tưởng đề tài từ kinh nghiệm thực tế nên tác giả đã vận dụng
phương pháp nghiên cứu tổng hợp, phân tích chuyên sâu và so sánh để hoàn
thiện đề tài.
Phạm vi nghiên cứu:
Hạn chế về thời gian cũng như khả năng tiếp cận những thông tin ở
phạm vi vĩ mô, tác giả chỉ tập trung để nghiên cứu vấn đề giao kết hợp đồng
qua fax & email, hậu quả pháp lý cũng như phương pháp hạn chế và phòng
tránh rủi ro trong giao kết hợp đồng qua fax & email tại doanh nghiệp thực
tập: công ty TNHH nhà máy sửa chữa và đóng tàu Sài Gòn.

4. Kết cấu đề tài
Phần mở đầu: Lý do chọn đề tài; mục tiêu, phạm vi, ý nghĩa thực tiễn,
kết cấu đề tài.
Chương 1: Cơ sở lý luận và căn cứ pháp lý giao kết hợp đồng qua
fax & email.


Chương 2: Một số vấn đề pháp lý phát sinh giao kết hợp đồng qua
fax & email tại công ty TNHH nhà máy sửa chữa và đóng tàu Sài Gòn.
Chương 3: Những giải pháp phòng tránh và hạn chế rủi ro trong
giao kết hợp đồng qua fax và email.

thực tiễn và nhà làm luật cũng nhìn ra được những bất cập đó, nên nhu
cầu cần phải sửa đổi và bổ sung đã được xem xét một cách khá thận
trọng. Kết quả là ngày 14/6/2005, bộ luật dân sự mới đã được quốc hội
khóa 11 thông qua và bắt đầu có hiệu lực ngày 01/01/2006. Nó thay thế
cho bộ luật dân sự năm 1995 và pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989.


Bộ luật dân sự năm 2005 là bộ luật chung áp dụng cho tất cả các mối
quan hệ dân sự và cũng là nguồn gốc luật cho tất cả các quan hệ hợp
đồng nói riêng. Căn cứ theo điều 121, điều 122 & điều 388 đến điều 411
BLDS năm 2005, đây là cơ sở pháp lý quy định về hình thức giao kết hợp
đồng mua bán nói chung.
Ngày 14/6/2005, quốc hội đã thông qua luật thương mại 2005 , thay thế
cho luật thương mại năm 1997 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2006. Đây là
nguồn gốc điều chỉnh các quan hệ hợp đồng trong kinh doanh thương
mại, sinh lợi nhuận. Theo điều 24 luật thương mại 2005, có quy định khá
rõ về hợp đồng mua bán.
Vì hợp đồng qua fax & email có liên quan tới yếu tố “ thông điệp điện
tử”- bên thứ ba tham gia trong giao kết chính là nhà mạng viễn thông nên
một văn bản pháp luật không thể thiếu chính là luật giao dịch điện tử. Khi
xã hội ngày một đề cao yếu tố “ công nghệ hóa” thì tất nhiên các nhà kinh
doanh sẽ tích cực tìm ra các hình thức để giao kết hợp đồng nhanh chóng,
tiện lợi hơn. Do đó, ngày 29/11/2005 quốc hội khóa XI đã thông qua luật
giao dịch điện tử có hiệu lực ngày 01/03/2006. Luật này bổ trợ khá nhiều
cho luật thương mại năm 2005 về khía cạnh “thương mại điện tử” trong
hợp đồng thương mại.
Như vậy đối với hợp đồng thương mại nói chung, nguồn luật chủ yếu điều
chỉnh chính là:
Bộ luật dân sự năm 2005
Luật thương mại năm 2005

quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại.
1.2.1.2

Hình thức giao kết hợp đồng thương mại:
Giao kết hợp đồng là việc các bên chủ thể tham gia bày tỏ, thống
nhất ý chí, yêu cầu với nhau theo những nguyên tắc, hình thức và
trình tự nhất định để qua đó xác lập các quyền và nghĩa vụ dân sự
trên cơ sở pháp luật quy định.
2

Hợp đồng thương mại chính là hành vi thương mại thể hiện sự ý chí
của các bên trong giao kết hợp đồng, đặc biệt chủ thể tham gia phải
là thương nhân hoặc ít nhất một bên là thương nhân và đây phải là
hoạt động thương mại sinh lợi nhuận. Hình thức giao kết chính là sự
1

Trang 305- Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2005 (tập I) , Phần thứ 1: Những quy định chung, Nhà
xuất bản chính trị quốc gia- sự thật năm 2013.

2

ngày truy
cập 10/10/2015


thể hiện cách thức các bên chủ thể lựa chọn để nhằm thực hiện một
thỏa thuận với nhau nhằm xác lập những quyền và nghĩa vụ tương
ứng đó.
1.2.2 Những đặc điểm cơ bản:
1.2.2.1


Nghị định số 59/2006/NĐ-CP ban hành ngày 12/06/2006,quy định chi tiết luật thương mại về hàng hóa,
dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều..


Theo điều 402 BLDS năm 2005, nội dung của hợp đồng dân sự
là điều khoản mà các bên tham giao kết hợp đồng thỏa thuận với
nhau trên cơ sở bình đẳng tự nguyện, thống nhất trong thương lượng
để đảm bảo nội dung hợp pháp, rõ ràng và cụ thể. Trong đó, các
điều khoản bắt buộc phải thể hiện trong hợp đồng: xác định quyền
và nghĩa vụ của các bên, cơ sở chủ yếu để tạo lập hợp đồng...bên
cạnh đó sẽ có những điều khoản theo sự thỏa thuận giữa các bên để
đảm bảo quyền lợi, ràng buộc hay làm rõ ý muốn của các bên trong
giao kết là cơ sở để giai quyết tranh chấp nếu có nhưng vẫn phải
nằm trong khuôn khổ của pháp luật hiện hành.
Theo quy định tại khoản 1,khoản 2 điều 401 BLDS năm 2005 và
điều 24 luật thương mại năm 2005 thì hình thức của hợp đồng được
thể hiện bằng lời nói, văn bản hay hành vi cụ thể. Trong đó hình
thức giao kết hợp đồng bằng văn bản là đảm bảo nhất. Còn hình
thức giao kết bằng lời nói, hành vi thì phổ biến trong đời sống dân
sự nhưng lại thiếu cơ sở để giải quyết khi có tranh chấp. Vì đối với
hình thức giao kết này bất buộc phải có người thứ ba làm chứng thì
tòa án mới có cơ sở để giải quyết. Nhưng việc người thứ ba làm
chứng có thực sự trung thực thì khó có thể xác định.
1.2.3 Phân loại hình thức giao kết hợp đồng:
4

Hình thức giao kết hợp đồng được phân thành các loại sau:

Giao kết hợp đồng bằng văn bản thể hiện nhiều ưu điểm trong việc

định trong giao kết hợp đồng: với ai, nội dung và hình thức gì. Nó
xuất phát từ ý muốn chủ quan của chủ thể tham gia nhằm đảm bảo
lợi ích của bản thân nhưng trên khuôn khổ pháp luật cho phép,
không trái với các quy tắc ứng xử chung của xã hội nhằm hướng
đến lợi ích hợp pháp của cá nhân và lợi ích chung của xã hội. Tóm
lại, 5theo quy định tại khoản 1 điều 389 BLDS năm 2005 các chủ thể
tham gia giao kết hợp đồng được “quyền tự do giao kết hợp đồng”.
Quyền “tự do giao kết hợp đồng” những quyền này được thể hiện
khá rõ ràng. “ Tự do giao kết hợp đồng” có nghĩa là chủ thể được
quyền làm theo ý muốn của bản thân trong việc tự do chọn lựa loại
hình hợp đồng ký kết, muốn chỉ định hay hợp tác với những đối tác
nào trong ký kết hợp đồng, tự do trong thỏa thuận, thương lượng
nội dung của hợp đồng, tự do rút lại hay hủy bỏ hợp đồng… trên cở
sở phù hợp với các quy định của pháp luật.
Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng.
( khoản 2 điều 389 BLDS năm 2005):

5

Trang 205, Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2005 (tập II) , Phần thứ 3: Nghĩa vụ dân sự và hợp đồng
dân sự, Nhà xuất bản chính trị quốc gia- sự thật năm 2013.


Các bên tự nguyện, bình đẳng đề ra ý kiến của cá nhân mình nhằm
cùng nhau đi đến một thỏa thuận thống nhất bảo đảm quyền và lợi
ích của các bên khi tham gia hợp đồng. 6Nội dung của nguyên tắc
bình đẳng khi giao kết hợp đồng thể hiện: Bình đẳng ở mọi phương
diện, tức là các bên chủ thể tham gia có quyền như nhau trong việc
đàm phán, đưa ra ý kiến thảo luận trước khi đi đến một vấn đề nhất
định như bình đẳng trong việc đưa ra điều kiện, nội dung, lợi ích của

vọng. Khi thiện chí thì nghĩa là các chủ thể tham gia luôn mang tinh
thần tự nguyện vui vẻ trong giao kết không có bất cứ sự đe dọa hay
bắt buộc nào xảy ra. Khi một giao kết hợp đồng mà thể hiện sự
không trung thực và gian dối nhằm mục đích trục lợi riêng cho bản
thân thì hợp đồng đó bị vi phạm nguyên tắc của hợp đồng và sẽ bị
mất hiệu lực tại thời điểm giao kết. Hoặc một trong các bên tham
gia giao kết hợp đồng bị đe dọa hay cưỡng ép vì lý do nào đó cũng
dẫn đến việc không tự nguyện trong giao kết hợp đồng. Giao kết
hợp đồng bị vô hiệu.
1.3.2 Phương thức giao kết hợp đồng:
1.3.2.1

Ký hợp đồng bằng phương thức trực tiếp:
Phương thức trực tiếp là cách thức truyền thống trong giao kết hợp
đồng. Theo đó, các bên sẽ có người đại diện có thẩm quyền trực tiếp
gặp mặt, thỏa thuận thống nhất với nhau về nội dung của hợp đồng.
Nó được công nhận, xác lập bằng văn bản hoàn chỉnh trên cở sở
thống nhất về nội dung và hình thức, các bên cùng ký tên đóng dấu
vào hợp đồng. Hiệu lực pháp lý được xác lập và phát sinh tại thời
điểm ký kết nếu pháp luật không có quy định khác.
Theo phương thức ký kết hợp đồng này thì việc giao kết thực sự
được bảo đảm cả về mặt chất lẫn mặt lượng của hợp đồng. Khi các
bên đối mặt với nhau để cùng đi đến một quyết định thì các chủ thể
có thể xem xét được phản ứng và cách giải quyết của bên đối tác
ngay tại thời điểm đàm phán nhưng với cách thức này sẽ không thể
hiện sự tiện lời và linh hoạt trong giao kết.

1.3.2.2

Ký hợp đồng bằng phương thức gián tiếp:

pháp luật không có quy định khác.

1.4

Hậu quả pháp lý đối với hình thức giao kết hợp đồng qua
fax & email:
Giao kết hợp đồng thì luôn đi kèm theo là những rủi ro. Khi những rủi
ro này xảy ra thì sẽ làm phát sinh những hậu quả pháp lý gây ảnh
hưởng trực tiếp tới giao kết này. Vậy rủi ro là gì? Rủi ro là một khái
niệm khá rộng và thể hiện khác nhau trên các lĩnh vực khác nhau. Nó


chính là những sự cố bất ngờ, ngẫu nhiên xảy ra gây thiệt hại đến lợi
ích của một chủ thể nào đó nói chung.
Theo ý kiến của tác giả rủi ro pháp lý là những biến cố đã được lường
trước hoặc không lường trước được tác động trực tiếp tới quyền và
nghĩa vụ của các bên, gây thiệt hại về tài sản, lợi ích đối với chủ thể
tham gia trên cơ sở quy định của pháp luật hiện hành.
8

Bên cạnh đó cũng có những định nghĩa khác về rủi ro pháp lý ví dụ
như:”Rủi ro pháp lý là những sự kiện khách quan”. Yếu tố khách quan
ở đây cũng được hiểu là sự hạn chế của các quy định của pháp luật. Sự
bất ngờ đôi khi cũng mang đến những ưu điểm nhất định nhưng đôi khi
đó lại là mối hiểm họa trong kinh doanh. Kinh doanh thương mại là sự
đánh cược trong một canh bạc và những yếu tố bên trong và bên ngoài
sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới yếu tố thành công hay thất bại trong kinh
doanh. Điều đó đồng nghĩa với việc hoặc là doanh nghiệp sẽ thu được
những lợi ích đáng kế hoặc là sẽ gánh chịu những thiệt hại nặng nề mà
khó có thể lường trước được.

hiểu theo những hướng khác nhau. Ví dụ việc giao kết hợp đồng chỉ gởi
qua một thư điện tử và tất cả các thông tin đều thể hiện bằng nội dung
trên thư đó. Nhưng người gởi đã gửi đi, người nhận vẫn chưa nhận
được vậy thời điểm phát sinh hiệu lực của giao kết đó là tại thời điểm
người gởi đã gởi email hay là thời điểm người nhận đọc nội dung email
đó, sự mập mờ đó tạo ra sự mơ hồ trong cách nhìn nhận của chủ thể
tham gia. Hơn nữa, nó ảnh hưởng đến hình thức và nội dung của giao
kết, không đảm bảo làm cho giao kết hợp đồng bị mất hiệu lực.
Tất cả những nguyên nhân trên dẫn đến một hậu quả duy nhất là hợp
đồng bị mất hiệu lực, tức là vô hiệu một phần hoặc toàn bộ
Hậu quả pháp lý đối với giao kết hợp đồng qua fax và email chính là
hợp đồng không có hiệu lực hay nói cách khác là hợp đồng bị vô hiệu
do trái pháp luật hoặc không đủ điều kiện cần thiết để hợp đồng có hiệu
lực. Giao kết hợp đồng qua fax & email bị vô hiệu thì được điều chỉnh
bởi các quy định tại điều 127 đến điều 138 của bộ luật dân sự năm
2005 và nó không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ
của các bên tham gia giao kết hợp đồng.
Theo điều 128 BLDS 2005, nếu giao kết hợp đồng vi phạm điều cấm
của hợp đồng , trái đạo đức xã hội thì giao kết đó sẽ bị vô hiệu chẳng


hạn như: hợp đồng mua bán hàng cấm( ma túy, chất gây nghiện), buôn
bán phụ nữ, trẻ em, buôn bán nội tạng,.. nó trái hoàn toàn với thuần
phong mỹ tục, gây ảnh hưởng đến cách cư xử, đạo đức của con người
nên sẽ mặc nhiên bị vô hiệu.
Theo điều 129, điều 131 BLDS 2005, giao dịch dân sự nói chung và
giao kết hợp đồng nói riêng sẽ bị mất hiệu lực nếu có dấu hiệu giả tạo,
nhầm lẫn. Ví dụ, bên đề nghị gởi một đề nghị giao kết hợp đồng với
bên A, trong giấy đề nghị có nêu rõ công ty A, nhưng trong quá trình
thao tác và gửi thư điện tử đã có sai xót là gởi nhầm, nên bên B nhận

của nhà nước yêu cầu phải công chứng, hay theo mẫu nhất định theo
quy định của pháp luật.
1.4.1 Hợp đồng bị vô hiệu một phần:
Theo điều 135 BLDS năm 2005, một phần của giao dịch bị vô hiệu
nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của phần còn lại của giao dịch.
Khi công ty A gởi cho công ty B một bảng yêu cầu chào hàng và có
quy định thời hạn phải trả lời chấp nhận đề nghị. Trong đó có hai phần:
phần một phải trả lời chấp nhận trong ngày và phần hai có thể trả lời
chậm hơn sau đó một ngày. Và đến hết ngày hôm đó, bên B vẫn không
phản hồi gì cho bên A. Ngày hôm sau, bên B đã gởi đề nghị chấp nhận
cho bên A. Và lúc này chấp nhận đề nghị này chỉ có hiệu lực một phầnphần hai trong bản đề nghị giao kết ban đầu của bên A gởi cho bên B.
Hay bên A giao kết với bên B mua bán 100 đôi giày bảo hộ yêu cầu
giao hàng tại công ty A chi nhánh tại Hồ Chí Minh nhưng do không
xem xét kỹ hợp đồng nên bên B đã giao ra chi nhánh khác của công ty
A tại Vũng Tàu. Do đó, hợp đồng này bị vô hiệu một phần và chi phí
phát sinh này bên B phải chịu hoàn toàn không được yêu cầu chi trả
thêm từ công ty A, các phần khác như chất lượng hàng hóa, số lượng
hàng hóa vẫn có hiệu lực trong trường hợp này. Công ty B vẫn phải
thực hiện là giao hàng đầy đủ cho công ty A tại chi nhánh Hồ Chí Minh
như giao kết ban đầu.
1.4.2 Hợp đồng bị vô hiệu toàn phần



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status