Tài liệu Luận văn tốt nghiệp "Những bài học kinh nghiệm rút ra từ vụ kiện bán phá giá cá tra và cá Basa vào thị trường Mỹ" doc - Pdf 90


LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Những bài học kinh nghiệm rút ra
từ vụ kiện bán phá giá cá tra và cá basa
vào thị trường Mỹ

Giáo viên hướng dẫn:
Lê Thị Thanh 4
LỜI NÓI ĐẦU

Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ vừa được ký kết đã mở ra những cơ
hội làm ăn mới cho các thương nhân của cả hai nước Việt Nam và Mỹ. Đây
là một sự kiện hợp với tiến trình toàn cầu hoá và tự do thương mại đang
diễn ra trên phạm vi toàn cầu. Tuy nhiên, Hiệp định được ký chưa ráo mực
thì chúng ta đã phải chứng kiến những hành độ
ng trái ngược hẳn với tinh
thần tự do cạnh tranh, tự do thương mại. Đó là việc xảy ra khi cá tra, cá
basa nhập khẩu vào thị trường nước Mỹ. Kể từ cuối năm 2000, Hiệp hội
các chủ trại nuôi cá nheo Mỹ (CFA) tiến hành chiến dịch chống lại việc

CHƯƠNG II. NỘI DUNG VỤ KIỆN CÁ TRA, CÁ BASA GIỮA VIỆT NAM VÀ MỸ
CHƯƠNG III. NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM RÚT RA TỪ VỤ KIỆN
Do thiếu kinh nghiệm và nguồn thông tin còn hạn hẹp nên đề tài
sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Em xin chân thành cảm ơn sự hướng
dẫn chu đáo và sự giúp đỡ tận tình của cô giáo Lê Thị Thanh trong quá
trình thực hiện đề tài này. 6
CHƯƠNG I. ĐẠI CƯƠNG VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC
TẾ VÀ TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
I . THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI
QUỐC TẾ
1. Thương mại quốc tế
1.1 Định nghĩa. Thương mại quốc tế là việc trao đổi hàng hoá và dịch vụ

tranh chấp thông thường là các doanh nghiệp; tranh chấp gắn liền với lợi
ích riêng biệt của mỗi chủ thể và luôn thuộc quyền tự định đoạt của họ.
Theo ý củ
a người viết, tranh chấp thương mại có thể hiểu là những mâu
thuẫn xung đột phát sinh trong quá trình thương mại. Các mâu thuẫn xung
đột đó không chỉ thể hiện sự mâu thuẫn về lợi ích giữa các thương nhân
hay tầng lớp thương nhân của các quốc gia như biểu hiện bề ngoài của nó.
Đó là một biểu hiện của sự va chạm về lợi ích giữa các quốc gia, các nền
kinh tế và trong một chừ
ng mực nào đó là các nền sản xuất với các phương
thức sản xuất khác nhau.
Hãy tưởng tượng về một doanh nghiệp nhà nước, độc quyền ở ngành
của mình ở trong nước, xuất khẩu hàng ra nước ngoài. Do có lợi thế độc
quyền ở hậu phương nên trong giai đoạn đầu thâm nhập thị trường nước
ngoài doanh nghiệp đó có thể hạ giá sản phẩm tới mức thấ
p hơn cả giá bán
ở nước mình để chiếm thị trường. Khi đó các doanh nghiệp ở nước chủ
nhà, vốn quen với một thị trường cạnh tranh tự do sẽ không đủ tiềm lực
cạnh tranh. Vậy để bảo vệ lợi ích của các doanh nghiệp nước mình chính
quyền nước sở tại có thể đưa ra luật cấm bán hàng nhập khẩu với giá thấp
hơn giá bán tại nước s
ản xuất. Ta có thể thấy rõ đó là một tranh chấp
thương mại phát sinh giữa hai nền kinh tế khác nhau: nền kinh tế thị trường
và nền kinh tế không có yếu tố thị trường.
2.2 Nguyên nhân. Nguyên nhân của các tranh chấp thương mại rất đa
dạng. Về cơ bản nó có nguyên nhân sau:
Chính sách bảo hộ mậu dịch, bảo hộ các ngành công nghiệp trong
nước. Chính phủ các nước có thể thực hiện một hệ
thống chính sách mang
tính bảo hộ mậu dịch. Các chính sách này tạo cho các thương nhân và nhà

tịch khác nhau và trụ sở công ty đặt tại những quốc gia khác nhau được gọi
là tranh chấp thương mại quốc tế. Những cuộc tranh chấp thương mại quốc

9
tế xuất phát từ việc bán phá giá đã xuất hiện nhiều trên thế giới như tranh
chấp thương mại giữa Mỹ và EU, Nga về việc Mỹ cho rằng EU và Nga bán
phá giá thép trên thị trường Mỹ, tranh chấp thương mại giữa EU và Việt
Nam khi EU cho rằng Việt Nam bán phá giá bật lửa gas trên thị trường
EU...

II. LUẬT CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA MỸ VÀ LIÊN MINH CHÂU
ÂU (EU)
Bán phá giá là bán một món hàng xuất ra nước ngoài thấp hơn giá
hiện đang thị
nh hành ở thị trường nội địa và thấp hơn giá cần thiết để thu
hồi chi phí sản xuất (bán dưới giá thành) để mở rộng thị trường và nó gây
thiệt hại cho nền kinh tế, loại bỏ cạnh tranh và tạo thế độc quyền. Về lâu
dài, thương nhân sẽ tăng giá cao để bù vào chi phí và thu lợi nhuận độc
quyền. Các chính phủ đều có chú ý ngăn chặn và trừng phạt các hoạt động
này. Các hiệ
p ước quốc tế, như thoả ước tổng quát về thương mại và thuế
quan (GATT) đều cho phép làm như vậy.
Sự khác biệt giữa bán phá giá với bán hàng giá rẻ do giá thành thấp,
nhìn bề ngoài là rất khó xác định. Một khía cạnh của tranh chấp thương mại
là xác định sự khác biệt đó. Khi có tranh chấp, một bên sẽ cố buộc tội đối
thủ cạnh tranh của mình là có bán phá giá. Bên kia sẽ chứng minh là mình
không bán phá giá mà là bán hàng giá rẻ, phù hợp v
ới chi phí sản xuất của
mình.


Kê, Tp.Hồ Chí Minh 2000).

2. Luật chống bán phá giá của Liên minh châu Âu (EU)
Luật của EU được ban hành ngày 22/12/1995 dựa trên cơ sở pháp lý
Hiệp định về chống bán phá giá của WTO. Một sản phẩm được xem là bị
bán phá giá nếu giá xuất khẩu (tính theo giá CIF) của của sả
n phẩm này
vào EU thấp hơn so với giá bán trong nước của sản phẩm tương tự đó tại
nước xuất khẩu. Một sản phẩm được xem là có bán trong nước nếu khối

11
lượng bán trong nước chiếm từ 5% trở nên so với khối lượng sản phẩm đó
xuất khẩu vào EU.
Các công ty, pháp nhân, các tổ chức của EU có thể đưa đơn kiện lên
Uỷ ban Châu Âu (EC), tuy nhiên có một số quy định khác mang tính kỹ
thuật: Bên đi kiện phải chứng minh được rằng tổng sản phẩm của những
công ty đi kiện chiếm hơn 25% tổng sản phẩm các mặt hàng đó trong khối
EU; t
ổng sản lượng của những công ty đi kiện phải chiếm hơn 50% tổng
sản lượng của những công ty không kiện (trong EU); đơn kiện sẽ bị bác bỏ
nếu sản phẩm bán phá giá vào EU chỉ chiếm đưới 1% (sản phẩm của một
nước) hoặc dưới 3% thị phần tại EU (nếu là sản phẩm do nhiều nước cùng
xuất vào EU). Sau khi thu thập thông tin, EC sẽ tính ra giá thành sản xuất
của s
ản phẩm, giá bán sản phẩm trong nước (bao gồm chi phí sản xuất,
khấu hao, lợi nhuận…), giá xuất khẩu (giá CIF) để xem có bán phá giá hay
không và tính ra mức độ phá giá (còn gọi là biên độ phá giá, là số lượng mà
giá trị thông thường, hay mức giá bán trong nước vượt quá giá trị xuất
khẩu). Nếu sản phẩm không bán trong nước hoặc bán trong nước nhưng
chiếm sản lượng ít hơn 5% thì EC sẽ so sánh với giá bán tương tự của một

nằm trên cơ sở so sánh như vậy, việc xem xét hợp lý dưới dạng điều chỉnh
sẽ được thực hiện trong mỗi trườ
ng hợp tuỳ thuộc vào tầm quan trọng của
từng vụ việc. Bất kỳ một sự chồng chéo nào khi thực hiện việc điều chỉnh
cũng cần phải được tránh, đặc biệt là sự chồng chéo liên quan tới mức khấu
hao, giảm giá số lượng và cấp độ thương mại. Khi những điều kiện cụ thể
được đáp ứng, các yếu tố
có thể được điều chỉnh bao gồm: phí nhập khẩu
và các loại thuế gián tiếp; chiết khấu, giảm giá và số lượng, chi phí vận tải,
bảo hiểm, bốc dỡ; đóng gói; tiền hoa hồng... Biên phá giá là số lượng mà
giá thông thường vượt quá giá trị xuất khẩu. Giá trị thông thường sẽ được
tính dựa trên cơ sở những mức giá được trả hay phải trả theo tiến trình
thương mạ
i thông thường, bởi các khách hàng độc lập ở nước xuất khẩu.
Tuy nhiên, trong trường hợp nhà xuất khẩu ở nước xuất khẩu không sản
xuất hay không bán sản phẩm tương tự, giá trị thông thường có thể được
thiết lập dựa trên cơ sở giá của những người bán hàng hay những nhà sản
xuất khác. Việc bán sản phẩm tương tự ở thị trường nội địa của n
ước xuất

13
khẩu; hoặc việc bán hàng xuất khẩu sang một nước thứ ba, ở mức giá thấp
hơn chi phí sản xuất cộng với các chi phí khác có thể được xem là không
nằm trong tiến trình thương mại thông thường. Việc áp dụng được thực
hiện chỉ khi nào xác định được rằng việc bán hàng như vậy nằm trong một
khoảng thời gian kéo dài với một số lượng đáng kể và ở mức giá không cho
phép việ
c thu hồi tất cả các chi phí trong khoảng thời gian hợp lý. Khoảng
thời gian kéo dài thường là 1 năm nhưng trong mọi trường hợp sẽ không ít
hơn 6 tháng và việc bán thấp hơn chi phí sẽ được xem là bán với một khối
15
III. TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM VỚI MỸ VÀ
CANADA
1. Tranh chấp thương mại dệt may Việt Nam–Mỹ
Từ tháng 12/2002, do doanh số hàng may mặc sang thị trường Mỹ
tăng rất mạnh, Hiệp hội các nhà sản xuất dệt may Mỹ (ATMI) đã liên tiếp
yêu cầu chính phủ nước này có các biện pháp hạn chế nhập khẩu hàng dệt
may từ các nước đang phát triển, đặc biệt là Châu Á, trong đó có Trung
Quố
c và Việt Nam. Các công ty sản xuất tại Mỹ cho rằng, hàng nhập khẩu
từ các nước đang phát triển có sức cạnh tranh lớn, nhờ được sự hỗ trợ bởi
chính sách duy trì đồng nội tệ yếu hơn đồng USD. Họ còn khẳng định ,
việc nhập hàng không hạn chế đã làm cho ngành dệt may Mỹ bị mất
177.000 việc làm (30% lực lượng lao động) kể từ năm 1997. Chính phủ Mỹ
chưa công bố lộ trình cụ thể cho vấn đề hạn ngạch, nhưng có thể đến tháng
6/2003 sẽ bắt đầu áp dụng.
Năm 2002, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt nam sang
Mỹ đạt 930 triệu USD, tăng mạnh so với năm 2001. Nhưng thực tế, con số
này còn quá nhỏ so với các nước trong khu vực (thậm chí không bằng
Campuchia với 1 tỷ USD). Nay nếu bị chuyển từ xuất khẩ
u tự do sang xuất
khẩu có điều kiện–theo hạn ngạch giống như qua EU–doanh ngiệp Việt
nam tất nhiên sẽ chịu thiệt thòi. Việt Nam đang mong đợi cuộc đàm phán
sắp tới đi đến 1 trong 2 thoả thuận: hạn ngạch Mỹ đưa ra sẽ tăng thêm 15-
20% so với lượng hàng đã xuất sang nước này năm 2002 hoặc áp hạn
ngạch tương đương với Thái Lan, Singapore… Trong cuộc thương lượ
ng,
phía Việt Nam sẽ có sự tham gia của Tổng Công ty Dệt may và các quan

ngành liên quan đã phối hợp trả lời, gửi kèm gần 1000 trang tài liệu về
chính sách của Chính phủ, vai trò của cơ quan quản lý với hoạt động sản
xuất, kinh doanh của doanh nghiệp…
Ngày 9/9/2002, CCRA ra quyế
t định sơ bộ cho rằng giày xuất xứ từ
Việt Nam được bán phá giá vào Canada, và ngay lập tức áp dụng biện pháp
tạm thời, cộng thêm mức thuế chống phá giá rất cao (72 và 187%) vào
hàng nhập khẩu từ Việt Nam.

17
Cùng thời gian, lần lượt hai đoàn công tác của CCRA tới Việt Nam
làm việc với các doanh nghệp bị kiện, và cơ quan quản lý liên quan. Sau
quá trình điều tra trực tiếp, ngày 9/12/2002, CCRA kết luận và gửi tới
CITT bộ hồ sơ thừa nhận Chính phủ Việt Nam không độc quyền ngoại
thương, không trợ cấp trong lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu giày. Tuy nhiên,
họ vẫn cho rằng Việt Nam bán phá giá, nên chỉ giảm mứ
thuế áp dụng từ
72% xuống trung bình 25,7%.
Tại CITT, đại diện Hiệp hội Da giày Việt Nam cùng các bộ, ngành
và Thương vụ Việt Nam đã tham gia phiên điều trần, trả lời các câu hỏi của
CITT và luật sư biện hộ cho SMAC. Phía Việt Nam đã được những người
tham dự, đại diện người tiêu dùng và các nhà nhập khẩu Canada ủng hộ.
CITT đã ra phán quyết cuối cùng ngày 7/1/2003 khẳng định mặt hàng giày
và đế giày không thấ
m nước có nguồn gốc hoặc được xuất khẩu từ Việt
Nam không gây thiệt hại và cũng không đe dọa ngành sản xuất giày
Canada, và bác bỏ đơn kiện của SMAC.
(Nghĩa Nhân , vnexpress.net/vietnam/kinhdoanh, ngày 9/1/2003)

18

sau thời điểm Hiệp Định Thương Mại Việt-Mỹ (BTA) có hiệu lự
c. Trong

19
các mặt hàng hải sản Việt Nam nhập khẩu vào đây, mặt hàng có khối
lượng lớn nhất là tôm sau đó là cá phi-lê đông lạnh, cụ thể hơn là cá tra và
cá basa. Trước đây, từ năm 1995 tới năm 1999, khối lượng mặt hàng này
xuất sang Mỹ không lớn (năm 1999 xuất khoảng 2000 pound). Chỉ khi
Hiệp Định Thương Mại Việt-Mỹ được tiến hành đàm phán và ký kết thì
khối lượng mặt hàng này tă
ng lên rõ rệt. Cuối năm 2000 đầu 2001, khi Mỹ
khan hiếm cá nheo, một mặt hàng sản xuất trong nước của Mỹ thì khối
lượng nhập khẩu cá tra và cá basa mới tăng vọt lên (năm 2001 lên tới hơn
17000 pound). Các nhà nuôi cá của Mỹ cảm thấy bất an cho tương lai của
ngành và họ đã để ý đến con cá tra, cá basa của Việt Nam. Bắt đầu từ lúc
này, “cuộc chiến catfish” nổ ra thật sự trên các trận tuyến khác nhau.

2. Đị
nh nghĩa “catfish”
Thực ra thì catfish là gì vậy? Từ điển Oxford định nghĩa: catfish là
cá nước ngọt có các sợi râu giống như ria ở quanh mồm. Về mặt khoa học,
Catfish được dùng để chỉ tất cả các loài cá da trơn (không có vẩy) gồm cá
trê, cá tra, basa, cá lăng, cá bông lau v.v... Theo hệ thống phân loại ngư
học, tất cả các loại cá trên thuộc bộ cá Nheo (Silurifemes) gồm khoảng
2500 đến 3000 loài cá khác nhau, phân bố khắp các vùng nước ngọt, nước
mặn và nước lợ trên toàn thế giới. Họ cá Nheo ở Mỹ là Ictaluridae, loại cá
nuôi ở Mỹ là Ictalurus punctatus còn cá tra (Pangasius hypophthalmus) và
cá basa (Pangasius bocourty) được nuôi phổ biến ở đồng bằng Sông Cửu
Long và nhập khẩu vào Mỹ là thuộc họ cá Da trơn Châu á (Pangasidae).
Theo thông lệ, cả cá nheo Mỹ và cá tra, cá basa đều có quyền mang tên

ký kết một hiệp định riêng với Việt Nam về mặt hàng này. Hành động này
tuy rất cực đoan nhưng nó dựa trên một cơ sở pháp lý là Luật Thương mại
Mỹ, cho phép các ngành công nghiệp bị tổn thương đệ đơn lên Uỷ Ban
Mậu Dịch Quốc Tế của M
ỹ đề nghị Tổng thống loại bỏ một số loại thuế đã
được cắt giảm đối với hàng hoá nhập khẩu, nếu cần có thể đàm phán lại
một hiệp định riêng cho mặt hàng đó. Rất may yêu cầu ký kết hiệp định
riêng bị bác bỏ. Bên cạnh đó họ thuê công ty luật Nathan Associates thu
thập thông tin mở chiến dịch tuyên truyền hạ thấp uy tín cá Việt Nam, nhấn

21
mạnh rằng do cá Việt Nam nhập khẩu mà giá cá nheo ở Mỹ giảm 10%, tạo
chứng cứ pháp lý để kiện chống bán phá giá.
Mặt khác, các nghị sĩ thuộc các bang nuôi nhiều cá nheo cũng tiến
hành nhiều hoạt động cản trở đối với các doanh nghiệp Việt Nam nhập
khẩu cá vào Mỹ. Ngày 9/2/2001, 12 nghị sĩ Mỹ gồm có 8 thượng nghị sĩ và
4 hạ nghị sĩ đại biểu cho các bang nói trên đã cùng gửi thư
cho ông Robert
Zoellick, đại diện thương mại Mỹ, kêu ca về việc cá tra và cá basa nhập
khẩu từ Việt Nam gây thiệt hại cho nghề nuôi cá nheo Mỹ và kiến nghị
Chính phủ Mỹ phải có biện pháp xử trí. Ngày 11/7/2001, các thượng nghị
sĩ bang Mississipi Ronnie Shows và Bennie Thompson cùng với thượng
nghị sĩ bang Arkansas Marion Barry-vâng, chính người tuyên bố về chất
độc da cam trong cá của Việt Nam, đã kêu gọi Quốc hội thông qua dự luật
H.R.2439 “Ghi nhãn về nguồn gốc xuất xứ
” đối với cá nuôi nhập khẩu
trong khâu bán lẻ, với những lập luận công khai bôi nhọ sản phẩm của
nước ta. Tuy nhiên, dự luật này không được thông qua do Thượng viện Mỹ
đã bác bỏ một dự luật tương tự đối với sản phẩm nông nghiệp nuôi trồng.
Sau đó, ngày 15/8/2001, nghị sĩ Mỹ Mike Ross, một trong những

G.Bush ký phê chuẩn.
Những người chủ trương chống lại cá da trơn Việt Nam dựa vào lý lẽ
rằng catfish ở Mỹ thuộc họ Ictaluridae, trong khi loài nuôi ở Việt Nam có
tên Pangasiidae. Tuy nhiên, năm ngoái sau khi xem xét lại thuật ngữ của
Hiệp hội Nuôi cá Mỹ, FDA
đã cho phép sử dụng tên basa catfish đối với
hàng Việt Nam.
Dự luật mang tính chất bảo hộ mậu dịch của Quốc hội Mỹ sẽ có hiệu
lực tới ngày 30/09/2002 nhưng nghị sĩ một số bang miền Nam nuôi cá
catfish của Mỹ đang tìm mọi cách để cấm vĩnh viễn việc nhập catfish từ
Việt Nam. Các nhà ngư học khẳng định cá da trơn của Việt Nam cũng là
catfish. Trên thự
c tế, trong khi hô hào ủng hộ tự do thương mại, chính
quyền của Tổng thống Bush lại đang cố bảo hộ cho các nhà sản xuất trong
nước bằng cách áp dặt những điều lệ vô lý đối với hàng hoá nhập khẩu từ
nước ngoài. Để hỗ trợ các nhà nuôi cá Mỹ, chính quyền Liên bang đã quyết

23
định chi 6 triệu USD để mua catfish cho chương trình ăn trưa của các
trường học. Việt Nam bắt đầu xuất khẩu cá basa và cá tra sang Mỹ từ năm
1996. Năm 1998, lượng cá file catfish không xương đông lạnh của Việt
Nam xuất sang đây mới chỉ vẻn vẹn 260 tấn. Sự thành công bất ngờ này đã
gây thiệt hại nghiêm trọng cho các nhà nuôi catfish Mỹ và họ kết tội rằng,
cá Việt Nam thắng lớn chủ yếu nh
ờ sự thay đổi về chiến lược tiếp thị. Việt
Nam thôi không gọi sản phẩm của mình bằng cái tên basa và tra nữa mà
bắt đầu tiêu thụ sản phẩm trên thị trường Mỹ với nhãn hiệu basa catfish. Sự
xuất hiện của sản phẩm cá da trơn giá rẻ từ Việt Nam đã khiến tổng giá trị
catfish bán ra của các nhà nông nghiệp Mỹ giảm mạnh, từ 446 triệ
u USD

oạn thứ nhất mới chỉ là…"phát súng cảnh cáo" của CFA, dựa
vào Luật ngân sách nông nghiệp 107-76 của Mỹ để cấm cá basa của Việt
Nam được nhập vào nước này với tên gọi catfish. Hiệp đấu thứ hai, cũng
do CFA khơi mào, được bảo trợ bởi đạo luật HR.2646 cấm hoàn toàn việc
dùng tên catfish cho các loài cá tra, cá basa của Việt Nam trong tất cả các
khâu bán lẻ, bán sỉ, nhà hàng, thông tin, quảng cáo… trong vòng 5 năm.
Chưa dừng ở đây, CFA vin tiếp vào
điều khoản 10806 của đạo luật An ninh
nông trại và Đầu tư nông thôn mới nhất để xác lập chủ quyền tuyệt đối trên
thương hiệu catfish. Chốt lại cuộc chiến này, CFA mở một đợt tấn công
khác: khởi kiện các doanh nghiệp Việt Nam bán phá giá vào ngày
28/6/2002. CFA đã có tính toán rất kỹ lưỡng cho cuộc đi kiện lần này. Có
thể thấy rõ điều đó ngay từ các đệ đơn kiện lên U
ỷ ban Hiệp thương Quốc
tế Mỹ: nộp đơn vào đúng 4h chiều ngày làm việc cuối cùng trong tuần (thứ
sáu - 28/6). Theo luật Mỹ thì chỉ sau 20 ngày nhận đơn kiện, bên bị kiện sẽ
phải điều trần trước Uỷ ban Hiệp thương Quốc tế Mỹ. Như vậy, có thể hiểu
phía Việt Nam đã mất đi 3 ngày để chuẩn bị cho cuộc giải trình lần 1 này
(th
ứ sáu, thứ bảy, chủ nhật). Là đơn kiện nhưng khối lượng khá đồ sộ với
hơn 200 trang kèm theo 37 phụ lục, trong đó phân tích chi tiết về tình hình
thị trường cá nheo Mỹ, thị phần cá da trơn filê đông lạnh của Việt Nam tại

25
Mỹ cũng như ảnh hưởng của sản phẩm "rẻ tiền" (theo cách gọi của CFA)
đối với ngành sản xuất trong nước.
Tiếp đó, đến ngày thứ hai đầu tuần (2/7/2002) , hai nghị sĩ Mike
Ross và Ronnie Shows, đại diện cho CFA lại gửi thư trực tiếp đến bà
Deanna Tanner Okim, Chủ tịch Uỷ ban Hiệp thương Quốc tế Mỹ nên luận
điểm: "Đại diện cho những người nuôi catfish Mỹ

chịu thuế như thuế nhập khẩu catfish. Cuối lá thư, hai ông Ross và Ronie
Shows tiếp tục chỉ rõ mức độ nguy hại của các sản phẩm nhập khẩu giá rẻ
đối với ngành chăn nuôi và chế biến catfish Mỹ, vốn đóng vai trò quan
trọng trong việc phát triển kinh tế địa ph
ương. Rồi từ đó, khẩn thiết yêu
cầu: "Một lần nữa, chúng tôi đề nghị Uỷ ban cẩn trọng xem xét tới yêu cầu
cấp thiết của ngành chăn nuôi catfish để bảo vệ cho ngành sản xuất quan
trọng này khỏi những nguy cơ mà các sản phẩm cá tra, basa đông lạnh
nhập từ Việt Nam mang lại. Kính mong Bà yêu cầu các thành viên của Uỷ
ban thường xuyên theo dõi diễn tiến của vụ việc này…".
Hãng luậ
t mà CFA chọn mặt gửi vàng lần này là công ty Akin
Gump. Công ty luật này mới đây cũng đã gửi lên Bộ trưởng Bộ Thương
mại Mỹ, Donald L. Evans, Thư ký Uỷ ban Hiệp thương Quốc tế Mỹ,
Marilyn R.Abott lá đơn kiện liên quan tới vụ việc mà CFA nhờ cậy. Nội
dung lá đơn nêu: "Chúng tôi đệ trình lên Bộ Thương mại Mỹ và Uỷ ban
Hiệp thương Quốc tế Mỹ đơn kiện về việc cá filê đ
ông lạnh của Việt Nam
được bán phá giá trên thị trường, chiểu theo điều 731 và 732 (b) của Điều
luật Thuế quan Mỹ năm 1930". Ngay trong phần đầu của đơn kiện, Akin
Gump không quên khuyến cáo về việc phải tuyệt đối bảo mật thông tin
trong lá đơn nhằm "bảo đảm lợi thế cạnh tranh" trong vụ kiện này cho
CFA.
Tập tài liệu kèm theo lá đơn dài hơn 60 trang, gồm 5 phần với nội
dung: thông tin chung nhất liên quan t
ới vụ kiện; dẫn chứng và lý lẽ chứng
tỏ cá filê đông lạnh nhập từ Việt Nam được bán với giá thấp hơn giá trị
thực, trong đó có so sánh giá bán cá trên thị trường Mỹ với chuẩn mực giá
thành của nền kinh tế phi thị trường hiện nay của Việt Nam và so sánh với
mức giá của ấn Độ (một nước có nền kinh tế và trình độ phát triển tương

i nuôi nhưng họ lại đi
kiện cá filê đông lạnh, một sản phẩm của các nhà chế biến. Hơn nữa, sản
phẩm bị kiện không rõ ràng vì cá filê đông lạnh có thể gồm cả cá rô phi, cá
chẽm, sản phẩm tẩm bột…. Nếu như vậy, số người của nguyên đơn chưa

Trích đoạn Những lý lẽ không thể phủ nhận Giá thành sản xuất cá tra, cá basa nuôi bè Điều kiện nuôi cá và vệ sinh kiến của giới chuyên môn Việt Nam đã sẵn sàng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status