Đề thi số 1
Câu 1: Vài nét ngắn gọn về bài thơ “Tâm tư trong tù” của nhà
thơ Tố Hữu
Câu 2: Phân tích bốn dòn thơ mở đầu bài thơ “Tống biệt
hành” của tác giả Thâm Tâm
Câu 3: Phân tích bức chân dung vua bù nhìn Khải Định trong
truyện ngắn “Vi hành” của Nguyễn Ái Quốc
Bài làm
Câu 1: Vài nét ngắn gọn về bài thơ “Tâm tư trong tù” của nhà thơ Tố
Hữu
Bài thơ “Tâm tư trong tù của nhà thơ Tố Hữu được sáng tác tại xà lim
số 1 lao Thừa Thiên tháng 4 năm 1939. Đó cũng chính là những ngày đầu
tác giả bị thực dân Pháp bắt giam.
Bài thơ với thể thơ tự do, bố cục chặt chẽ, sáng tạo theo mạch cảm
xúc của nhân vật trữ tình, hệ thống ngôn từ chọn lọc, bút pháp đối lập và rất
nhiều động từ, điệp từ được nhắc đi nhắc lại, giọng thơ tha thiết, sôi nổi phù
hợp với tâm trạng của nhân vật trữ tình
“Tâm tư trong tù” thể hiện chân thực niềm khát khao tự do cháy bỏng.
Cùng với đó là những suy nghĩ, những vận động của người thanh niên cộng
sản lúc bị giam cầm. Qua bài thơ người đọc cũng hiểu được tình cảm Cách
mạng chân thành, bản lĩnh, ý chí sắt đá của người thanh niên cộng sản Tố
Hữu với sự nghiệp Cách mạng của Đảng.
Câu 2: Phân tích bốn dòng thơ mở đầu bài thơ “Tống biệt hành” của
tác giả Thâm Tâm:
Thơ là hiện thân cho những gì thầm kín nhất của con tim và thiêng
liêng sâu thẳm nhất tâm hồn của con người. Và phải chăng cũng chính bởi
những vần thơ xúc động của mình, nhà thơ Thâm Tâm của chúng ta đã gieo
tượng và hết sức độc đáo, nó đã tạo nên âm điệu dư ba, âm vang cho cả bài
thơ. Bên cạnh đó trong câu thơ tác giả còn sử dụng phủ định từ “không” để
khẳng định. Với phủ định từ “không” – “không đưa qua sông” tác giả đã
giúp cho người đọc hiểu được cuộc chia ly ấy không diễn ra trên bến song
nhưng nỗi nhớ thương lưu luyến đã cồn cào như những con sóng dâng lên
trong long kẻ đi người ở. Chính phủ định từ ấy cũng góp phần làm nên nét
đặc sắc trong thơ Thâm Tâm. Một lần nữa, nét đặc sắc ấy lại được thể hiện
qua câu thơ thứ hai bài thơ với một câu hỏi tu từ sinh động: “Sao có tiếng
sóng ở trong lòng”. Hình ảnh “sóng lòng” được nhà thơ sử dụng trong câu
thơ thật sáng tạo. “Sóng lòng” – đó là tiếng sóng ở trong lòng chứ không
phải sóng ở lòng sông. Đó là một con sóng đặc biệt, con sóng chỉ tâm trạng.
Trong thơ xưa các thi nhân cũng đã nhiều lần mượn hình ảnh con
sóng để gửi tâm trạng, nỗi lòng, như Huy Cận đã gửi nỗi lòng qua:
Sóng gợn Tràng Giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song
Hay có một nhà thơ cũng đã từng gửi nỗi lòng của mình:
Biết không cô hỡi biết không
Chèo cô còn quẫy, sóng lòng còn xao
Đó là những hiện thực có thật gợi lên tâm trạng. Nhưng nay trong thơ
Thâm Tâm, nhà thơ cũng dùng hình ảnh “con sóng” để gửi tâm trạng nhưng
đây là con sóng trừu tượng, con sóng của nội tâm, con sóng lòng”. Nó khiến
cho câu thơ trở nên mơ hồ, khó hiểu và hết sức ấn tượng với người đọc:”sao
có tiếng sóng ở trong lòng”. Câu thơ đọc lên nghe như một nghịch lý, bởi lẽ
không có sông mà lại có song. Nhưng tiếng sóng ở đây là tiếng “sóng lòng”
của nhân vật trữ tình, tiếng sóng của những nhớ thương thổn thức, của
những lưu luyến bâng khuâng.
“Chất thơ chưa chắc đã là nghệ thuật nhưng đã là nghệ thuật thì không
thể thiếu chất thơ”. Phải chăng chính chất thơ gồ ghề lẫm liệt, phảng phất
sáng tạo, tài hoa kết hợp với khả năng am hiểu sâu sắc tâm lý nhân vật, nhà
thơ đã diễn tả thành công một khung cảnh tiễn đưa đầy lưu luyến. Cảnh tiễn
đưa ấy phút chốc cứ như mơ như thực. Nó làm nên không khí bâng khuâng
khó hiểu của thời đại. Chính điều này đã làm cho những vần thơ của Thâm
Tâm để lại trong lòng người đọc những ấn tượng vô cùng độc đáo.
Khi đọc những dòng thơ mở đầu bài thơ “Tống biệt hành”, có người
đã nhận xét: “Chính bằng cách sử dụng những phủ định từ và những từ để
hỏi “sao”, “sao” để khẳng định, nhà thơ Thâm Tâm đã tạo ra được trong
những dòng thơ của ông chút âm vang, vừa mơ hồ, vừa tinh tế, làm nên
những cảm xúc khó quên trong long người đọc.
“Thơ là xuất khẩu từ trong lòng người ta”. Có lẽ chính vì thế mà qua
những dòng thơ mở đầu bài thơ ngắn gọn ấy người đọc như nhận thấy được
tấm lòng của nhà thơ cũng như ngưng đọng lại ở bốn dòng thơ ấy. Đó là nỗi
nhớ thương lưu luyến ngập tràn. Và cùng với thời gian, Thâm Tâm luôn
sống mãi trong thi nhân Việt Nam, trong lòng người đọc và vẻ đẹp của
những trang nam nhi hiện đại trong buổi ra đi lịch sử này cũng nhờ đó mà
đẹp mãi trong mỗi trái tim người đọc và trở thành những bài ca bất tử
(không bao giờ quên).
Câu 3: Phân tích bức chân dung vua bù nhìn Khải Định trong truyện
ngắn “Vi hành” của Nguyễn Ái Quốc
Ai đó đã từng nói: “Nghệ thuật có thể tạo ra trong tâm trí chúng ta tất
cả, làm sống lại tất cả”. Phải chăng cũng chính bởi nghệ thuật ấy mà nhà văn
Nguyễn Ái Quốc của chúng ta đã gieo vào lòng người đọc những cảm nhận
sâu sắc, những ấn tượng khó phai mờ qua truyện ngắn “Vi hành” của mình.
Bằng ngòi bút tài hoa của tác giả, truyện ngắn đã khắc hoạ thành công bức
chân dung vua bù nhìn Khải Định. Qua bức chân dung ấy ta cũng phần nào
thấy được nghệ thuật khắc hoạ chân dung nhân vật đặc sắc của tác giả
Nguyễn Ái Quốc.
tạo ra được một tình huống truyện độc đáo, có sức lôi cuốn với người đọc.
Nó không chỉ cho ta thấy được thái độ của người Pháp đối với kẻ bù nhìn,
dù đó là một bậc đế vương mà nó còn cho ta thấy sức mạnh của văn chương
trong công tác tuyên truyền. Chính những tình huống truyện độc đáo ấy đã
làm nên chiều sâu của tác phẩm, góp phần khẳng định sự già dặn trong
phong cách nghệ thuật của ngòi bút Nguyễn Ái Quốc, cho ta thấy được chất
trí tuệ toả sang trong mỗi sáng tác văn học của Người. Và cũng chính tình
huống truyện đặc sắc ấy đã phần nào giới thiệu, hé mở với mỗi chúng ta về
bức chân dung vua bù nhìn Khải Định.
Nghệ thuật chính là chìa khoá để mở vào thành công của mọi tác
phẩm văn học. Và phải chăng góp phần làm nên thành công của truyện ngắn
“Vi hành” chính là nghệ thuật khắc hoạ chân dung nhân vật tinh tế, đặc sắc
của nhà văn. Qua ngòi bút tài hoa của Người bức chân dung vua bù nhìn
Khải Định được khắc hoạ rõ nét qua nhiều góc nhìn khác nhau. Cũng chính
bởi ngòi bút tài hoa ấy, cả bat rang truyện không có từ nào nhắc đến tên
Khải |Định mà ta vẫn cảm thấy hắn hiện lên bằng xương bằng thịt rất rõ rang
qua cái nhìn của nhân dân Pháp và nhân vật “tôi”. Mà ta cảm nhận rõ hơn cả
bức chân dung vua bù nhìn Khải Định dưới cái nhìn của đôi trai gái người
Pháp. Hắn hiện lên với vẻ bề ngoài lạ mắt: “Chẳng phải vẫn cái mũi tẹt ấy,
vẫn đôi mắt xếch ấy, vẫn cái mặt bủng như vỏ chanh ấy đấy à?” Có lúc hắn
đeo lên người hắn đủ cả bộ lụa là, hạt cườm”. Qua tài năng kể chuyện cuat
Nguyễn Ái Quốc ta thấy sự xuất hiện của vị quốc vương An Nam thật nực
cười. Nó càng làm tăng trí tò mò của người dân Pháp, làm tăng sức hấp dẫn
của tác phẩm. Chân dung vua bù nhìn Khải Định còn được thể hiện qua tính
cách đáng ngờ của hắn. Hàng loạt những câu hỏi tu từ của đôi trai gái lien
tiếp được đặt ra chứa đầy hoài nghi: “Hay là hắn đã đem tất cả các thứ đó
đến tiệm cầm đồ rôi”; Hắn đến đây làm gì nhỉ trong đường xe điện ngầm
này, và tụi các ông quan bà kiếc đi theo thì đâu cả?”. Những câu hỏi tu từ
hiểu được đời sống khốn cùng của nhân dân Việt Nam dưới ách cai trị, bóc
lột tàn nhẫn của thực dân Pháp. Và đến câu hỏi tu từ thứ ba ta càng thâý rõ
hơn bộ mặt thật của thực dân Pháp, của xã hội Pháp: “Hay là chán cảnh làm
một ông vua to, bây giờ ngài lại muốn nếm thử cuộc đời của các cậu công tử
bé”. Bằng giọng văn lúc mỉa mai, khi cười cợt dí dỏm cùng những câu hỏi tu
từ đặc sắc với những dẫn chứng chính xác về bản chất của cái gọi là mục
tiêu khai hoá văn minh cho các nước thuộc địa mà thực dân Pháp vẫn rêu
rao, tác giả đã vạch trần sự gian ác, xảo trá - bộ mặt thật của thực dân Pháp. .
Không những vậy mà nó còn đập tan chiêu bài giả dối về việc khai hoá văn
minh cho các nước thuộc địa mà thực dân Pháp thường rêu rao. Chính từ đó
mà chuyến vi hành của Khải Định bỗng trở nên mỉa mai, nực cười dưới cái
nhìn cũng như sự đánh giá sắc sảo của tác giả.
Với những lời kể khách quan, lời bình sắc sảo cùng những chi tiết
chọn lọc, sự liên tưởng sáng tạo cùng giọng văn linh hoạt của lối viết thư
dưới cái nhìn của người dân Pháp và của nhân vật tôi, chân dung Khải Định
hiện lên giống như một thằng hề, một con rối rẻ tiền, một kẻ bù nhìn trong
tay thực dân Pháp. Qua những câu văn ta cũng thấy được tài năng xây dựng
chân dung nhân vật tinh tế, đặc sắc của nhà văn. Phải chăng cũng chính câu
văn đã vạch trần dã tâm xâm lược nước ta của thực dân Pháp, giúo cho nhân
dân tiến bộ Pháp hiểu rõ hơn việc làm bẩn thỉu của thực dân Pháp ở Đông
Dương nói chung và ở Việt Nam nói riêng, đạp tan chiêu bài giả dối về
“khai hoá văn minh” cho các nước thuộc địa mà thực dân Pháp vẫn rêu rao.
Nó cũng vạch rõ cho mọi người thấy thực tế nấp sau chiêu bài ấy là một
cuộc cướp nước bẩn thỉu. Và bức chân dung về vua bù nhìn Khải Định vẫn
nổi bật lên qua những câu văn của truyện ngắn.
Là một tác phẩm được sáng tác với mục đích chính trị, “Vi hành” là
truyện ngắn lấp lánh nhiều tầng ý nghĩa lớn lao. Nó chính là một kiệt tác văn
chương với những giá trị to lớn về nhiều mặt. Cùng với bức chân dung về
đấy.
2. Lại như quãng Tà Mường Vát phía dưới Sơn La. Trên sông bỗng có
những cái hút nước giống như cái giếng bê tông thả xuống sông để
chuẩn bị làm móng cầu.
3.
Câu 3: “Đôi mắt” của nhà văn Nam Cao là tác phẩm mang giá trị
hiện thực lớn lao. Hãy phân tích.
“Chao ôi! Nghệ thuật không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật chỉ
có thể là tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than”. Nhà văn
Nam Cao của chúng ta đã từng thốt lên như vậy. Đó cũng chính là quan
điểm nghệ thuật của ông và suốt cuộc đời cầm bút của mình ông đã luôn
đi theo quan điểm ấy. Có lẽ cũng chính quan điểm đó đã giúp cho nhà
văn làm nên thành công của truyện ngắn “Đôi mắt” - một tác phẩm văn
học mang giá trị hiện thực lớn lao.
Có thể nói thế giới vĩnh hằng là nơi hội tụ giá trị của các tác phẩm văn
học. Thiên nhiên tạo hoá vạn vật có thể đổi thay nhưng những giá trị ấy
của văn học luôn trường tồn theo thời gian năm tháng để làm nên thành
công của mọi tác phẩm văn học và neo lại trong long bạn đọc những ấn
tượng khó phai mờ. Hãy dõi theo từng trang viết của nhà văn Nam Cao
khi ông viết truyện ngắn “Đôi mắt” ta mới thấy rõ giá trị của văn học –
đó là giá trị hiện thực lớn lao. Nói ‘Đôi mắt” của nhà văn Nam Cao là tác
phẩm văn học mang giá trị hiện thực lớn lao bởi lẽ nó đã tái hiện thành
công một chặng đường đấu tranh tư tưởng của các nhà văn tiểu tư sản
những ngày đầu đi theo Cách mạng. Không những vậy mà nó còn lên án
hiện thực về cái nhìn sai lệch cũng như lối sống xa rời quần chúng của
một số nhà văn tiểu tư sản chậm tiến thời bấy giờ đồng thời nó cũng
khẳng định vai trò, vị trí của nhân dân lao động trong sự nghiệp kháng
chiến cũng như trong văn học.
nhà quê đủ thứ: “Toàn là những người ngu độn, lỗ mãng, ích kỉ, tham
lam, bần tiện cả, cha con, anh em ruột cũng chẳng tốt với nhau…”. Qua
đoạn văn ngắn, ngôn ngữ kể chuyện linh hoạt, đôi chút có chỗ phóng đại
với những hư cấu nghệ thuật đặc sắc, giọng điệu mỉa mai, châm biếm
cùng những chi tiết chọn lọc rất “đắt” và những lời bình sắc sảo tác giả
đã thể hiện thành công cái nhìn coi thường người nông dân của Hoàng.
Không chỉ có cái nhìn sai lệch về những người nông dân mà với người
dân tham gia kháng chiến Hoàng cũng có cái nhìn hết sức sai lệch với
thái độ khinh miệt. Anh gọi họ bằng những đại từ mỉa mai, khinh miệt:
“Các ông uỷ ban, “các bố tự vệ”, “các bà phụ nữ”, “các ông thanh niên,
các bà phụ nữ mới lại càng nhố nhăng”. Hoàng coi thường những người
nhân dân làm kháng chiến vì theo anh họ là những kẻ ít học, có những cái
ngố không chịu được: “Tôi thấy có nhiều ông tự vệ hay cả vệ quốc quân
nữa táy máy nghịch súng hay lựu đạn làm chết người như bỡn. Nhiều ông
cầm đến một khẩu súng kiểu lạ không biết bắn thế nào…”. Hoàng bi
quan, không tin vào sức mạnh của quần chúng. Anh nghi ngờ khả năng
làm Cách mạng của nhân dân: “Thì cứ để họ đánh Tây đi! Nhưng tai hại
là người ta lại cứ muốn cho họ làm uỷ ban nọ, uỷ ban kia nữa thế mới
chết người ta chứ!. Nói ví dụ ngay như cái thằng chủ tịch uỷ ban phố tôi
ở Hà Nội. Lúc chưa đánh nhau, nó là một anh hàng cháo lòng. Bán cháo
lòng thì nó biết đánh tiết canh chứ biết làm uỷ ban thế nào mà bắt nó làm
uỷ ban”. Với những lời kể, lời bình sắc sảo qua một hệ thống ngôn ngữ
kể chuyện khách quan với những chi tiết chọn lọc có khả năng khái quát
cao, tác giả đã nói lên cái nhìn sai lệch của nhân vật Hoàng về người
nông dân và nhân dân kháng chiến. Phải chăng cũng từ đó mà nhà văn
muốn nói lên những băn khoăn trăn trở của cả một thế hệ các nhà văn
tiểu tư sản đang trong bước chuyển mình đi theo Cách mạng. Có thể nói
rằng thể hiện thành công những băn khoăn ấy là nhà văn Nam Cao đã nói
vươn lên làm chủ và trở thành đối tượng của nền văn học chân chính.
Đọc truyện ngắn “Đôi mắt” của nhà văn Nam Cao ta thấy rất rõ người
nông dân đã thực sự trở thành đối tượng của nền văn học khi nhà văn
khẳng định vai trò, sức mạnh của nông dân trong sự nghiệp kháng chiến
cũng như trong xã hội mới. Giá trị hiện thực của tác phẩm cũng là ở chỗ
đó. Điều này được thể hiện rõ qua cái nhìn của nhân vật Độ về người
nông dân và nhân dân kháng chiến - một cái nhìn hoàn toàn đối lập với
nhân vật Hoàng. Với Độ, “người nhà quê dẫu sao thì cũng còn là một cái
bí mật đối với chúng ta”. Lúc đầu, anh còn nghi ngờ sức mạnh của quần
chúng nhưng đến thời kỳ tổng khởi nghĩa thì Độ đã ngã ngửa người: “Té
ra người nông dân nước mình vẫn có thể làm cách mạng, mà làm Cách
mạng hăng hái lắm..Những người nông dân ấyhoj làm được rất nhiều
việc: vác tre, làm uỷ ban, làm Cách mạng…”. Những chi tiết không nhiều
nhưng dưới ngòi bút văn xuôi tài hoa của nhà văn Nam Cao, người đọc
như thấy rất rõ vai trò, sức mạnh của quần chúng trong sự nghiệp kháng
chiến thông qua cái nhìn của Độ. Phải chăng khẳng định vai trò, sức
mạnh của quần chúng là nhà văn Nam Cao đã nói lên giá trị hiện thực lớn
lao của truyện ngắn “Đôi mắt”.
Có nhà phê bình văn học đã từng nói: “Văn học là tấm gương phản
ánh lịch sử”. Đọc truyện ngắn “Đôi mắt” của nhà văn Nam Cao ta như
thấy lại hình ảnh lịch sử của dân tộc những ngày đầu kháng chiến với
tinh thần đoàn kết, yêu lao động, yêu Cách mạng, yêu nước căm thù giặc
của quần chúng nhân dân - đối tượng của nền văn học với vai trò to lớn.
Đó chính là giá trị hiện thực lớn lao của tác phẩm. Cùng với gái trị lớn
lao ấy, truyện ngắn “Đôi mắt” của nhà văn Nam Cao luôn sống mãi với
thời gian và in đậm trong mỗi trái tim người đọc.
- Bài thơ ngập tràn tâm trạng xốn xang của nhân vật trữ tình khi quê
hương được giải phóng. Qua bài thơ ta cũng thấy được sự mới mẻ,
tinh tế trong cảm nhận của nhân vật trữ tình về đất nước trong mối
quan hệ truyền thống xưa và nay.
Câu 2: Phân tích vẻ đẹp mùa thu đất nước qua bốn khổ thơ đầu bài
thơ “Đất nước” của tác giả Nguyễn Đình Thi
“Hà nội mùa thu, mùa thu Hà Nội, mùa hoa sữa nồng thơm từng góc
phố, mùa cốm xanh…”. Câu hát vang lên thật ngọt ngào sâu lắng, gợi lại
trong tôi nhứng hình ảnh tuyệt đẹp của mùa thu – mùa của thiên nhiên tạo
hoá, mùa của đất trời. Và mùa thu đất nước với vẻ đẹp của nó cũng đã
được nhà thơ Nguyễn Đình Thi tái hiện qua bài thơ “Đất nước” của ông.
Đọc bài thơ ta như cảm nhận rất rõ vẻ đẹp mùa thu đất nước qua bốn khổ
thơ đầu bài thơ.
Ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt, bài thơ là sự tập hợp của hai bài thơ
“sáng mát trong như sáng năm xưa” (1948) và “đêm mít tinh” (1949) và
có thêm một phần sửa đổi để trở thành “Đất nước”. Vì thế bài thơ được
sáng tác trong một khoảng thời gian rất dài (từ 1948 – 1955) nhưng lại có
sự thống nhất rất logic về mặt nội dung. Bài thơ được kết cấu theo mạch
cảm xúc của nhân vật trữ tình khi quê hương được giải phóng. Với bút
pháp hiện thực xen lãng mạn với những liên tưởng đẹp, được diễn đạt
qua hình ảnh thơ chân thực, giản dị, có nhiều sáng tạo trong cách dùng
điệp ngữ, điệp từ và những so sánh liên tưởng, bài thơ ngập tràn tâm
trạng xốn xang của nhân vật trữ tình khi quê hương được giải phóng. Qua
bài thơ ta cũng thấy được vẻ đẹp mùa thu đất nước như hiện dần lên qua
mỗi dòng thơ.
Mùa thu từ lâu đã trở thành niềm cảm hứng của thơ ca, của biết bao
thi sĩ. Song cảm nhận về mùa thu mỗi người lại có một cảm nhận riêng
biệt. Đối với Nguyễn Đình Thi thì mùa thu trong thơ ông được cảm nhận
thuộc: “sáng chớm lạnh”; “xao xác heo may” làm nên nét đặc trưng riêng
của mùa thu Hà Nội trong kháng chiến. Mùa thu đất nước hiện lên với vẻ
đẹp vừa tĩnh lặng, bang khuâng lại vừa buồn thương, xao xuyến lòng
người. Qua thủ pháp nhân hoá tài hoa với những hình ảnh thơ được chọn
lọc rất “đắt”, giàu khả năng gợi hình tượng, nhà thơ đã cho người đọc
nhận thấy vẻ đẹp mùa thu đất nước qua bức tranh mùa thu Hà Nội trong
kháng chiến tĩnh lặng, bang khuâng, đẹp nhưng đượm buồn.
Điểm vào bức tranh đẹp mà đượm buồn ấy là bức chân dung những
người lính tự vệ thủ đô những ngày đầu kháng chiến góp phần làm tăng
them vẻ đẹp mùa thu đất nước:
Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy
Nhịp thơ thay đổi linh hoạt, từ nhịp ¾ ở hai dòng thơ trên chuyển sang
nhịp 3/2/2 và nhịp 4/3 tạo nên âm điệu chắc khoẻ, rắn rỏi. Hình ảnh thơ đẹp
gợi lên vẻ đẹp cương quyết của những tráng sĩ ngày xưa. Câu cuối khổ thơ
âm điệu câu thơ như trùng hẳn xuống, diễn tả hết sức tinh tế tâm trạng người
ra đi cương quyết đấy nhưng không sao tránh khỏi lưu luyến, bâng khuâng.
Với lối diễn đạt sáng tạo, tài hoa, ngôn từ hình ảnh chọn lọc, tác giả đã làm
nên vẻ đẹp mùa thu đất nước qua bức tranh mùa thu xưa Hà Nội trong kháng
chiến đẹp, buồn mà tĩnh lặng, bâng khuâng.
Vẻ đẹp mùa thu đất nước còn được nhà thơ cảm nhận qua hình ảnh
mùa thu nay - miền Bắc được giải phóng
Mùa thu nay khác rồi
……………………..
Những dòng song đỏ nặng phù sa
Hình ảnh thơ thay đổi, cách gieo vần sáng tạo với cách ngắt nhịp thơ linh
hoạt. Câu thơ “mùa thu nay khác rồi” vang lên như một tiếng reo vui, như
một sự so sánh làm thay đổi cả không gian và cảm xúc của nhân vật trữ tình.
Thuận Thành - Bắc Ninh.
- Sống trong không khí dân ca xứ Kinh Bắc từ nhỏ, Hoàng Cầm làm
thơ rất sớm.
- Thơ Hoàng Cầm ngọt ngào chất dân ca được người đọc yêu mến
* Bài thơ “Bên kia sông Đuống”:
- Ra đời trong một đêm xuất thần khi nhà thơ đang công tác tại chiến
khu Việt Bắc năm 1948 nghe tin giặc chiếm quê hương.
- Bài thơ được viết theo thể thơ tự do, kết cấu ngắn gọn, hình ảnh thơ
chọn lọc, ngôn ngữ giản dị, nhịp thơ thay đổi linh hoạt, giọng thơ trữ
tình chứa chan hoài niệm, thủ pháp liệt kê với rất nhiều câu hỏi tu từ
chất chứa những hờn căm nhưng cũng tràn ngập niềm tự hào.
- Bài thơ đã diễn tả thành công niềm thương nỗi nhớ xen lẫn tự hào của
nhà thơ về một quê hương Kinh Bắc đẹp giàu. Từ đó người đọc thấy