vấn đề cơ bản của triết học trong tác phẩm
chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán
ý nghĩa thực tiễn
1. Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm.
Cuối thế kỉ XIX, chủ nghĩa t bản chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc;
những mâu thuẫn vốn có trong lòng xã hội t bản vốn đã gay gắt nay lại càng gay gắt
hơn; cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp t sản ngày càng phát triển mạnh
mẽ; trung tâm cách mạng chuyển từ nớc Đức sang nớc Nga. Sau thất bại của cách
mạng t sản dân chủ 1905 1907, nớc Nga bớc vào thời kì thống trị của các lực lợng phản động. Trớc tình trạng thoái trào của cách mạng, nớc Nga bị đặt dới quyền
thống trị hà khắc của của chế độ quân chủ chuyên chế Nga hoàng, đời sống nhân
dân vô cùng cực khổ, trong hàng ngũ những ngời Bônxêvich nảy sinh t tởng dao
động, mất tinh thần, chạy dài, từ bỏ lập trờng, . Trong triết học, một số ngả theo
chủ nghĩa duy tâm, thần bí, xuất hiện trào lu tìm thần và tạo thần trong giới tri
thức.
Đến những năm cuối cùng của thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, trớc sự phát triển
của khoa học tự nhiên, đặc biệt là vật lí học phát triển nh vũ bão. Hàng loạt các phát
minh mang tính vạch thời đại ra đời nh: Rơnghen phát hiện ra tia X (1895);
Beccơli phát hiện ra hiện tợng phóng xạ (1896); Tômxơn phát hiện ra điện tử (1897)
; Anhxtanh phát minh ra thuyết tơng đối. Chính những phát minh khoa học đã
dẫn đến cuộc khủng hoảng vật lí. Đặc biệt là việc phát hiện ra điện tử và cấu tạo
nguyên tử. Do không nắm vững lí luận nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng,
nhiều nhà khoa học đã rơi vào chủ nghĩa duy tâm. Nhân cơ hội này, những ngời
theo chủ nghĩa duy tâm đã lợi dụng tình hình đó chống lại triết học duy vật, làm đảo
lộn căn bản những quan niệm cũ về thế giới và cấu tạo thế giới.
Đồng thời, ở nớc Nga sau thất bại của cuộc cách mạng (1905 1907),
những ngời theo chủ nghĩa Makhơ cũng tăng cờng hoạt động lí luận. Họ viện cớ
Bảo vệ chủ nghĩa Mác, nhng thực chất là đã xuyên tạc triết học Mác xít. Những
1
quan điểm của chủ nghĩa duy tâm hay chủ nghĩa duy vật siêu hình lúc này vẫn
Chơng 5: Cuộc cách mạng mới nhất trong khoa học tự nhiên và chủ nghĩa
duy tâm thần học.
Lênin phân tích cuộc cách mạng trong lĩnh vực khoa học tự nhiên; vạch ra
nguyên nhân của cuộc khủng hoảng vật lí, từ đó vạch ra lối thoát cho cuộc khủng
hoảng này.
Chơng 6: Chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Lênin phê phán chủ nghĩa duy tâm của Makhơ, phát triển quan điểm của Mác
và Ăngghen về chủ nghĩa duy vật lịch sử. Lênin nêu lên tính đảng trong triết học và
phê phán các triết gia t sản muốn đứng lên trên các đảng phái trong triết học.
Kết luận: Lênin đã phê phán tính chất sai lầm phản tiến bộ của chủ nghĩa
Makhơ, chỉ ra mối liên hệ giữa chủ nghĩa Makhơ và chủ nghĩa duy tâm trong khoa
học tự nhiên.
3. Lênin giải quyết vấn đề cơ bản của triết học trên lập trờng duy vật
Mác xít. ý nghĩa thực tiễn.
Tác phẩm: Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán của
Lênin ra đời đã giải đáp đợc những vấn đề quan trọng đang đặt ra đối với triết học
Mác lúc đó, khái quát về mặt triết học những thành tựu của khoa học tự nhiên, bảo
vệ chủ nghĩa duy vật, phát triển lí luận duy vật biện chứng về nhận thức, phê phán
những quan điểm sai lầm về nhận thức thế giới vật chất, đặc biệt là phê phán toàn
diện triết học duy tâm và chủ nghĩa xét lại trong triết học. Tác phẩm không chỉ phê
phán quan điểm duy tâm, siêu hình của những ngời theo chủ nghĩa Makhơ mà còn
bổ sung, phát triển chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử dựa
trên sự phân tích, khái quát tất cả những thành tựu khoa học mới nhất. Trớc hết, là
khoa học tự nhiên thời kì đó, vạch rõ bản chất chủ nghĩa duy tâm chủ quan của
Makhơ, bảo vệ thành công triết học Mác.
Tác phẩm đã bảo vệ và phát triển triết học Mác trên tất cả các lĩnh vực cơ bản
trong đó có việc giải quyết đúng đắn và khoa học vấn đề cơ bản của triết học là một
cống hiến tuyệt vời của Lênin trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng
3
4
học của hai nghìn năm về trớc đều không công khai khai tính đảng; triết học Mác
công khai tính đảng của mình đó là chủ nghĩa duy vật biện chứng và cũng chỉ theo
quan điểm ấy mới có thể giải thích đợc mọi vấn đề mà lịch sử đang đặt ra.
Đối lập với t tởng của chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán cho rằng thế giới là
phức hợp của các yếu tố, Lênin nhắc lại một lần nữa quan điểm của Ăngghen đã
từng nêu trong tác phẩm Chống đuy rinh (1878) rằng: Chỉ có một thế giới duy
nhất đó là thế giới vật chất, thế giới thống nhất ở tính vật chất. Ngời viết: tính
thống nhất thực sự của thế giới là ở tính vật chất của nó1.
Bàn về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, Lênin đã đứng vững trên lập trờng của chủ nghĩa duy vật biện chứng và khẳng định: Vật chất là cái có trớc, mang
tính thứ nhất, cội nguồn quyết định ý thức. ý thức là cái có sau, mang tính thứ hai,
là sản phẩm, là thuộc tính của một dạng vật chất đặc biệt có tổ chức phức tạp, có
trình độ phát triển cao là óc ngời. Lênin nhấn mạnh: Không có vật chất và thậm
chí hình nh không có hệ thần kinh thì không có ý thức; nói cách khác, ý thức, cảm
giác là cái có sau2.
Khi phân tích mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, Lênin đã chỉ ra những sai
lầm, hạn chế của chủ nghĩa duy vật trớc Mác là đã đồng nhất vật chất với các dạng
vật thể cụ thể, đặc biệt là thuyết nguyên tử của Đêmôcrit cho rằng thế giới đợc
cấu tạo bởi các nguyên tử, nguyên tử là phân tử nhỏ bé nhất không thể phân chia đ ợc, không biến đổi về chất lợng Khi Tômxơn phát hiện ra địên tử và chứng minh
rằng nguyên tử không phải là phân tử nhỏ bé nhất thì quan niệm về thế giới của
Đêmôcrít bị sụp đổ. Lợi dụng tình hình này, chủ nghĩa duy tâm đã rêu rao rằng
nguyên tử đã bị phá vỡ. Vì vậy, vật chất đã tiêu tan, họ ra sức giải thích thế giới
bằng những quan niệm mới với những trào lu tìm thần và tạo thần để giải thích
các hiện tợng trong khoa học tự nhiên theo t tởng của thuyết bất khả tri. Phê phán
những luận điệu trên, Lênin đã khẳng định rằng: vật chất không tiêu tan
1: Lênin toàn tập, Nxb.Tiến bộ, Matxcơva, 1980, t. 18, tr . 206.
2: Lênin toàn tập, Nxb.Tiến bộ, Matxcơva, 1980, t. 18, tr. 104
Trong khi chỉ ra mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, Lênin cũng đã chỉ ra:
không nên cờng điệu, khuyếch đại quá đáng sự đối lập giữa vật chất với ý thức, vì
1; Lênin toàn tập, Nxb.Tiến bộ, Matxcơva, 1980, t. 18, tr. 151
6
sự đối lập giữa vật chất với ý thức vừa có tính tuyệt đối vừa có tính tơng đối. Tính
tuyệt đối của sự đối lập thể hiện ở chỗ vật chất là cái có trớc, cái sinh ra ý thức, còn
ý thức là cái có sau, do vật chất quy định. Đó là nguyên tắc tuyệt đối của thế giới
quan duy vật. Ngoài giới hạn đó, sự đối lập còn mang tính tơng đối. Bởi vì, ý thức
bắt nguồn từ vật chất, là một thuộc tính của vật chất, là sự phản ánh của vật chất.
Lênin viết: đơng nhiên sự đối lập giữa vật chất và ý thức chỉ có ý nghĩa tuyệt đối
trong những phạm vi hết sức hạn chế: trong trờng hợp này, chỉ giới hạn trong vấn đề
nhận thức luận cơ bản, là thừa nhận cái gì là cái có trớc và cái gì là cái có sau?
Ngoài giới hạn đó, thì không còn nghi ngờ gì nữa rằng sự đối lập đó là tơng đối.1
Giải quyết mặt thứ nhất của vấn đề cơ bản của triết học Lênin không những
chỉ ra mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, cái nào có trớc, cái nào có sau, mà còn
chỉ ra cả thuộc tính, hình thức và phơng thức tồn tại của vật chất cũng nh nguồn gốc
và bản chất của ý thức.
Khi bàn về bản chất của vật chất, Lênin đã chỉ rõ thuộc tính cố hữu của vật
chất là tồn tại khách quan là cơ sở để phân biệt đâu là vật chất, đâu là ý thức, hơn
nữa Ngời còn chỉ ra mối quan hệ giữa vật chất và vận động, giữa vật chất với không
gian và thời gian. Theo Lênin thì vận động là một thuộc tính cố hữu của mọi vật
chất, vật chất vận động là tuyệt đối, không có vật chất không vận động, cũng nh
không có vận động nào lại không phải là vận động của vật chất. Vận động chính là
phơng thức tồn tại của vật chất, còn hình thức vật chất vận động là vận động trong
không gian và thời gian, Lênin khẳng định: Trong thế giới không có gì ngoài vật
chất đang vận động và vật chất vận động không thể vận động ở đâu ngoài không
gian và thời gian2.
các hiện tợng của đời sống xã hội.
Trong khi đấu tranh chống lại những t tởng phản động của Makhơ, Lênin đã
khẳng định lại lời nói của Phoiơbắc và quan điểm của chủ nghĩa Mác về bản chất
của nhận thức con ngời rằng: bản chất nhận thức là hình ảnh chủ quan của thế giới
khách quan. Sau này, Lênin đã hoàn thiện lí luận nhận thức trong tác phẩm Bút kí
triết học và chỉ ra rằng con đờng biện chứng của quá trình nhận thức là đi từ trực
1. Sđd, tr. 117.
8
quan sinh động đến t duy trừu tợng, từ t duy trừu tợng trở về thực tiễn, quá trình
nhận thức là quá trình chuyển giới tự nhiên vào trong óc ngời và cải biến trong đó.
Vì vậy, bản chất của nhận thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, nhng
nội dung của nó là mang tính khách quan, phụ thuộc vào khách quan. Ngoài ra,
Lênin còn khẳng định quá trình nhận thức diễn ra từ thấp đến cao, từ biết ít đến biết
nhiều, từ biết cha sâu đến biết ngày càng sâu sắc hơn.
Bàn về khả năng nhận thức của con ngời, Lênin đã có cống hiến đặc sắc trong
quá trình bảo vệ và phát triển triết học Mác khi ông phân tích và khái quát lên
những đặc tính cơ bản của chân lí. Theo Lênin, chân lí có bốn đặc tính căn bản: tính
khách quan, tính tơng đối, tính tuyệt đối và tính cụ thể. Lênin đã làm rõ đặc điểm,
tính chất của từng thuộc tính chân lí và chỉ rõ mối quan hệ giữa chúng. Trong đó,
Lênin đặc biệt phân tích kĩ mối quan hệ giữa chân lí tơng đối và chân lí tuyệt đối.
Theo Ngời, chân lí tuyệt đối là tổng số những chân lí tơng đối và chân lí tơng đối là
những hạt của chân lí tuyệt đối, mỗi chân lí khoa học dù chỉ có tính tơng đối song
vẫn chứa đựng một yếu tố của chân lí tuyệt đối. Việc đối lập chân lí tơng đối và
chân lí tuyệt đối cũng chỉ mang tính tơng đối và khó chính xác. Vì vậy, Lênin đã
chỉ rõ: Nó vừa đủ không xác định để ngăn ngừa khoa học trở thành một giáo
điều theo nghĩa xấu của từ đó, nh ng đồng thời nó lại vừa đủ xác định để phân
rõ ranh giới dứt khoát và kiên quyết với chủ nghĩa tín ngỡng và thuyết bất khả tri,
tạo hiện thực khách quan. Điều ấy có nghĩa là sự tác động của ý thức đối với vật
chất phải thông qua hoạt động của con ngời đợc bắt đầu từ khâu nhận thức cho đợc
quy luật khách quan, biết vận dụng đúng đắn quy luật khách quan, phải có ý chí, có
phớng pháp để tổ chức hành động. Vai trò của ý thức là ở chỗ trang bị cho con ngời
những tri thức về bản chất quy luật khách quan của đối tợng, trên cơ sở ấy, con ngời
xác định đúng đắn mục tiêu và đề ra phơng hớng hoạt động phù hợp. Đồng thời, với
ý thức của mình con ngời cần xác định các biện pháp để tổ chức các hoạt động thực
tiễn, bằng sự nỗ lực và bằng ý chí mạnh mẽ của mình, con ngời có thể thực hiện đợc
mục tiêu đề ra. ở đây ý thức, t tởng có thể quyết định làm cho con ngời hoạt động
đúng và thành công khi phản ánh đúng đắn sâu sắc thế giới khách quan, vì đó là cơ
sở quan trọng cho việc xác định mục tiêu, phơng hớng và biện pháp chính xác. Ngợc lại, ý thức cũng có thể làm cho con ngời hoạt động sai và thất bại khi ý thức con
ngời phản ánh sai thế giới khách quan. Vì vậy, phải phát huy tính năng động, sáng
10
tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố con ngời để tác động cảo tạo thế giới khách
quan; đồng thời khắc phục bệnh bảo thủ trì trệ, thái độ tiêu cực, thụ động, ỷ lại,
ngồi chờ và chủ quan, nôn nóng, duy ý chí trong quá trình đổi mới.
Trong quá trình nhận thức và hành động chúng ta phải đảm bảo tính khách
quan, hoạt động thực tiễn phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, phải tôn trọng sự thật,
tôn trọng lịch sử và phải xuất phát từ bản thân sự vật hiện tợng thực tế khách quan,
chứ không phải là sự sáng tạo thuần tuý của ý thức, không đợc xuất phát từ ý muốn
chủ quan, không lấy ý muốn chủ quan của mình để làm cơ sở định ra chính sách,
không lấy ý chí để áp đặt cho thực tế mà phải luôn luôn tôn trọng sự thật, dựa vào
những gì đang có trong hiện thực, tránh nóng vội, định kiến, không trung thực; tôn
trọng quy luật khách quan và hành động theo quy luật khách quan. Quá trình đề ra
chủ trơng, biện pháp cải tạo hiện thực xã hội phải là quá trình tìm tòi, tập hợp, vận
dụng những điều kiện, những quan hệ vật chất cụ thể. Đồng thời, cũng phải chú ý
phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố con ngời,
kiên quyết đấu tranh khắc phục và ngăn ngừa bệnh chủ quan duy ý chí, thái độ thụ
nghèo nàn lạc hậu, vv trong những điều kiện và đặc điểm của thời đại ngày nay,
nhanh chóng tiến kịp các nớc trong khu vực và trên thế giới.
Ngày nay, đứng trớc tình hình phát triển nh vũ bão của cuộc cách mạng khoa
học kĩ thuật, các ngành khoa học đã và đang đề xuất những khái niệm, những
phạm trù, những t tởng, những phơng pháp nghiên cứu hết sức mới mẻ và có tính
chất cách mạng thật sự. Mặt khác, cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật cũng đang đặt
ra hàng loạt vấn đề phong thái t duy khoa học, về những bớc phát triển mới của
nhận thức, về vấn đề quan hệ giữa khoa học kĩ thuật con ngời, cũng nh hàng
loạt vấn đề khác có ảnh hởng đến các mặt hoạt động khác nhau của đời sống xã hội,
xung quanh những vấn đề ấy đang diễn ra một cuộc đấu tranh gay gắt
1: Đảng cộng sản Việt Nam: Cơng lĩnh xây dựng đất nớc trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nxb. Sự thật, Hà
nội, 1991, tr. 15.
2: Đảng cộng sản Việt Nam: Cơng lĩnh xây dựng đất nớc trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nxb, Chính trị
quốc gia, Hà nội, 1991, tr.51.
3: Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà nội, 1996,
tr. 85
12
giữa hệ t tởng vô sản với các hệ t tởng t sản và tiểu t sản, giữa triết học Mác xít và
các trào lu triết học phơng Tây đủ mọi loại nhng vấn đề cơ bản của triết vẫn cha đợc
giải quyết triệt để, cuộc đấu tranh giữa hai trờng phái của triết học là chủ nghĩa duy
vật và chủ nghĩa duy tâm vẫn đang diễn ra dới nhiều hình thức gay go, quyết liệt.
Đặc biệt, lợi dụng sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu
cùng với những tác động tiêu cực từ mặt trái của nền kinh tế thị trờng, các thế lực
thù địch đang ráo riết tấn công quyết liệt và điên cuồng vào Đảng ta và chế độ xã
hội chủ nghĩa ở nớc ta, lợi dụng chiêu bài dân chủ, nhân quyền, dân tộc và tôn
giáo; sử dụng các phơng tiện thông tin đại chúng, mạng Internet, các sách, báo, tạp
chí để công kích, xuyên tạc, bôi nhọ chủ nghĩa Mác Lênin, t tởng Hồ chí Minh,
vệ và phát triển chủ nghĩa Mác Lênin, t tởng Hồ Chí Minh, không ngừng làm
giàu trí tuệ, bản lĩnh chính trị và năng lực công tác của mình để có đủ sức giải quyết
các vấn đề do thực tiễn cách mạng đặt ra.
Kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện sai trái, bảo thủ; đấu tranh với
những quan điểm, t tởng phản động, thù địch, chống lại chủ nghĩa Mác Lênin, t
tởng Hồ Chí Minh, chống lại quan điểm, đờng lối, chính sách của Đảng, phủ định
những giá trị, những thành tựu của chủ nghĩa xã hội.
Với vai trò là ngời cán bộ, đảng viên, ngời cán bộ chính trị trong quân đội,
hơn lúc nào hết chúng ta phải không ngừng học tập lí luận, nâng cao hiểu biết về
kiến thức và năng lực thực tế, trong công tác phải luôn luôn tích cực, chủ động
tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác Lênin, t tởng Hồ Chí Minh, đờng lối,
chính sách của Đảng và Nhà nớc cho cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị và quần chúng
nhân dân, giữ vững niềm tin, quyết tâm vợt qua mọi khó khăn, thử thách, kiên quyết
đấu tranh với những luận điệu sai trái, bảo thủ, kinh viện, giáo điều, máy móc, ,
đập tan mọi âm mu chống phá của các thế lực thù địch, phấn đấu vì mục tiêu, lí tởng xã hội chủ nghĩa.
Trong thực hiện nhiệm vụ phải xuất phát từ thực tế khách quan, từ yêu cầu
thực tiễn nhiệm vụ đòi hỏi, tuyệt đối không giáo điều, dập khuôn máy móc, theo ý
muốn chủ quan của cá nhân. Phải đứng trên quan điểm, lập trờng duy vật biện
chứng của chủ nghĩa Mác Lênin, t tởng Hồ Chí Minh, đờng lối, quan điểm của
Đảng để xem xét, giải quyết các vấn đề do thực tiễn đặt ra.
14
Mặc dù, tác phẩm đợc ra đời cách đây gần 100 năm nhng cho đến nay vẫn
còn nguyên giá trị cả về lí luận và thực tiễn, là cơ sở lí luận và phơng pháp luận
khoa học của giai cấp công nhân và nhân dân lao động thế giới trong quá trình nhận
thức, xem xét và cải tạo thế giới khách quan, cũng nh trong sự nghiệp xây dựng chủ
nghĩa xã hội hiện nay.
15