MỤC LỤC
MỤC LỤC........................................................................................................1
PHẦN MỞ ĐẦU..............................................................................................1
1.Lý do chọn đề tài....................................................................................................................1
2.Tổng quan tình hình nghiên cứu............................................................................................2
3.Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:.............................................................................................3
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu:......................................................................3
5.Nhiệm vụ nghiên cứu.............................................................................................................3
6.Phương pháp nghiên cứu.......................................................................................................4
7.Đóng góp của đề tài...............................................................................................................4
8.Nguồn tài liệu tham khảo.......................................................................................................5
9.Cấu trúc dự kiến của đề tài ....................................................................................................5
PHẦN NỘI DUNG..........................................................................................5
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ THÔNG TIN, THU THẬP VÀ XỬ LÝ
THÔNG TIN....................................................................................................6
1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN...............................................................................................6
1.1.1. Thông tin..........................................................................................................................6
1.1.2. Thu thập thông tin...........................................................................................................8
1.1.3. Xử lý thông tin...............................................................................................................10
1.2. Mối quan hệ giữa thu thập và xử lý thông tin...................................................................11
1.3. Tầm quan trọng của thu thập và xử lý thông tin đối với học tập của sinh viên.................12
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC THU THẬP, XỬ LÝ THÔNG TIN
CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI......................14
2.1. Tổng quan về Trường Đại học Nội vụ Hà Nội ...................................................................14
2.1.1. Chức năng, nhiệm vụ của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội..............................................14
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội........................................................16
2.2. Nhu cầu thu thập, xử lý thông tin phục vụ học tập của sinh viên Trường Đại học Nội vụ
Hà Nội......................................................................................................................................17
2.2.1. Nhu cầu thu thập thông tin............................................................................................17
KẾT LUẬN....................................................................................................56
LỜI CẢM ƠN................................................................................................57
Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, chúng tôi xin gửi tới toàn thể quý Thầy cô
trong Trường cũng như quý Thầy cô trong khoa Văn thư - Lưu trữ,
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội đã tạo điều kiện cho chúng tôi được tham
gia nghiên cứu khoa học, được đi sâu tìm hiểu với thực tế công việc hơn,
hiểu rõ hơn nữa về những vấn đề lý luận chung cũng như những công
việc cụ thể trong thực tế nghề nghiệp tương lai, giúp chúng tôi có điều
kiện tiếp cận với cách thức làm việc khoa học và cách tư duy logic hơn. 57
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thông tin là một nhu cầu và thuộc tính của loài người và là động lực để
thúc đẩy mọi sự phát triển. Có thể nói, thông tin gắn bó hữu cơ với sự tồn tại
và phát triển của xã hội loài người, góp phần quan trọng cho sự tiến hóa của
nhân loại. Việc chuyển tải và tiếp nhận thông tin một cách nhanh chóng đã
thúc đẩy tiến trình phát triển các hoạt động kinh tế - xã hội. Trong cuộc sống
thường nhật, mọi hoạt động đều không thể thiếu vai trò của thông tin, đây là
điều kiện quan trọng để thực hiện hay quyết định một công việc cụ thể. Thực
tế này cũng đã đòi hỏi hệ thống lý luận liên quan đến thông tin như “thông tin
học”, “công nghệ thông tin”, “hệ thống thông tin”… ngày càng được quan
tâm nghiên cứu.
Mặt khác, thông tin còn có những vai trò quan trọng mang tính khu
biệt đối với từng lĩnh vực, từng mặt hoạt động trong đời sống xã hội và lĩnh
vực giáo dục cũng không là một ngoại lệ. Sự phát triển của “xã hội thông tin”
và “nền kinh tế tri thức” đòi hỏi người lao động phải có năng lực tư duy, kỹ
năng giải quyết vấn đề một cách sáng tạo và khả năng học tập suốt đời để
thời gian và tâm huyết để có được những sản phẩm khoa học sau:
+ Võ Thị Mỹ Hương, Kỹ năng thu thập; xử lý thông tin và trích dẫn
tài liệu tham khảo trong quá trình thực hiện niên luận, Chuyên đề giảng
dạy dành cho sinh viên, Khoa Luật, Trường Đại học Huế;
+ Nguyễn Thị Nhã, Tra tìm thông tin trên mạng phục vụ việc học tập
của sinh viên hiện nay, Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên, trường Đại học
Khoa học xã hội và Nhân văn, 2010;
+ Nguyễn Thị Bích Hà, Công tác thu thập xử lý và cung cấp thông tin
phục vụ cho hoạt động quản lý tại BQL các khu công nghiệp Bắc Ninh, Đề tài
nghiên cứu khoa học sinh viên, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn,
2011;
...
2
Tuy nhiên, “Nghiên cứu xây dựng một số phương pháp thu thập, xử
lý thông tin phục vụ học tập của sinh viên Trường Đại học Nội vụ Hà Nội”
là đề tài hoàn toàn mới và chưa từng được thực hiện ở bất kỳ công trình
nghiên cứu nào.
3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Thực hiện đề tài “Nghiên cứu xây dựng một số phương pháp thu thập,
xử lý thông tin phục vụ học tập của sinh viên Trường Đại học Nội vụ Hà
Nội”, chúng tôi hướng tới các mục tiêu chính là:
- Tìm hiểu và nghiên cứu hệ thống lý luận về thông tin, thu thập và xử
lý thông tin;
- Đánh giá thực trạng thu thập, xử lý thông tin trong quá trình học tập
của sinh viên Trường Đại học Nội vụ Hà Nội;
- Nghiên cứu xây dựng một số phương pháp nhằm giúp cho sinh viên
biết cách thu thập, xử lý và vận dụng hệ thống kiến thức phục vụ cho học tập
các ngành, các bậc, hệ của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội;
- Phương pháp phỏng vấn đối tượng: Được áp dụng để phỏng vấn một
số giảng viên về phương pháp và hiệu quả thu thập và xử lý thông tin của sinh
viên;
- Phương pháp nghiên cứu và phân tích tư liệu: được áp dụng để nghiên
cứu và phân tích các tư liệu để có thể đưa ra những lập luận mang tính khoa
học cao, từ đó xây dựng các phương pháp thu thập, xử lý thông tin phù hợp,
khách quan và hiệu quả nhất;
- Phương pháp so sánh: được áp dụng để tìm ra những điểm tương đồng
và khác biệt trong kỹ năng thu thập, xử lý thông tin giữa sinh viên các ngành
học mang tính đặc thù.
7. Đóng góp của đề tài
- Đóng góp một số phương pháp thu thập và xử lý thông tin phục vụ
học tập của sinh viên Trường Đại học Nội vụ Hà Nội;
- Là tư liệu tham khảo dành cho sinh viên trong quá trình học tập;
- Là tư liệu tham khảo dành cho cố vấn học tập và giảng viên bộ môn
để tư vấn phương pháp học cho sinh viên, đặc biệt trong lộ trình chuyển đổi
hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ.
4
8. Nguồn tài liệu tham khảo
Để thực hiện đề tài, chúng tôi đã lựa chọn và sử dụng các nguồn tài liệu
tham khảo phong phú về nội dung và đa dạng về thể loại. Các nguồn tài liệu
này bao gồm:
- Nhóm các giáo trình, tập bài giảng;
- Các công trình nghiên cứu đã công bố;
- Nhóm các bài viết được đăng tải trên báo, tạp chí;
- Nhóm các tham luận Hội thảo khoa học;
- Nhóm tài liệu đăng tải trên mạng Internet;
(forme). Hai là, tuỳ theo tình huống, thông tin có nghĩa là sự truyền đạt một ý
tưởng, một khái niệm hay một biểu tượng. Tuy nhiên cùng với sự phát triển
của xã hội, khái niệm thông tin cũng phát triển theo.
Theo nghĩa thông thường, thông tin được hiểu là tất cả các sự việc, sự
kiện, ý tưởng, phán đoán làm tăng thêm sự hiểu biết của con người. Thông tin
hình thành trong quá trình giao tiếp, một người có thể nhận thông tin trực tiếp
từ người khác thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, từ các ngân
hàng dữ liệu, hoặc từ tất cả các hiện tượng quan sát được trong môi trường
xung quanh. Có thể nói, định nghĩa này chỉ đề cập đến nguồn gốc hình thành
của thông tin là chủ yếu mà con người tiếp nhận được thông qua các nguồn
tin khác nhau.
Trên quan điểm Triết học: “Thông tin là sự phản ánh của tự nhiên và xã
hội (thế giới vật chất) bằng ngôn từ, ký hiệu, hình ảnh v.v...hay nói rộng hơn
6
bằng tất cả các phương tiện tác động lên giác quan của con người”. [15;19]
Từ điển Oxford - một ấn phẩm được coi là từ điển tiếng Anh đầu tiên
đưa ra định nghĩa: “Thông tin là điều mà người ta đánh giá hoặc nói đến; là tri
thức, tin tức”. Mặc dù, định nghĩa thông tin được đưa ra rất ngắn gọn chỉ 16
từ tưởng chừng rất đơn giản nhưng nó đã bao quát được khái niệm thông tin.
Đồng thời khi đọc, chúng ta hình dung rất nhanh được thông tin là gì? [15;18]
Các từ điển khác đơn giản đồng nhất thông tin với kiến thức: “thông tin
là điều mà người ta biết” hoặc “thông tin là sự chuyển giao tri thức làm tăng
thêm sự hiểu biết của con người”.
Trong khi đó, tác giả Nguyễn Hữu Tân - Trường Đại học Đà Lạt cho
rằng: Thông tin là những gì con người ta thu nhận được từ dữ liệu và xử lý dữ
liệu nhằm tạo ra sự hiểu biết, tạo ra các tri thức và những nhận thức tốt hơn về
tự nhiên và xã hội. Nói cách khác, thông tin dữ liệu đã qua xử lý, đối chiếu và
trở nên có ý nghĩa đối với người dùng. Trong đó, tin tức là sự hiểu biết, quan
nhằm tạo ra sự hiểu biết, tạo ra các tri thức và những nhận thức tốt hơn về tự
nhiên và xã hội. Nói cách khác, thông tin dữ liệu đã qua xử lý, đối chiếu và
trở nên có ý nghĩa đối với người dùng”.
1.1.2. Thu thập thông tin
Trong quá trình tiếp thu tri thức, chúng ta không thể bỏ qua khâu thu
thập thông tin. Số lượng thông tin liên quan đến nhau khá nhiều nên việc thu
thập thông tin được coi là quan trọng. Một câu hỏi đặt ra: “Vậy thu thập thông
tin là gì?”
Thu thập thông tin là việc tìm kiếm và thu gom dữ liệu từ nhiều nguồn
phát sinh khác nhau để tạo lập hoặc bổ sung các cơ sở dữ liệu. Bên cạnh đó
ThS. Võ Thị Mỹ Hương – Trường Đại học Huế cho rằng: “Thu thập thông
tin là quá trình tập hợp tài liệu của người cần thông tin những tiêu chí cụ thể
nhằm làm rõ những vấn đề/nội dung liên quan đến lĩnh vực/đề tài
nghiên cứu”.
Thông tin có tầm quan trọng đặc biệt trong việc giải quyết mọi vấn đề
8
trong cuộc sống. Để soạn thảo và ban hành một quyết định đúng, chúng ta cần
thu thập được những thông tin chính xác và đa chiều. Chỉ khi có đầy đủ thông
tin chính xác, khách quan cần thiết, công việc mới có thể được giải quyết hợp
tình, hợp lý và hữu hiệu. Thông tin giúp con người học hỏi được những kinh
nghiệm thành công cũng như thất bại của người khác, nâng cao hiểu biết,
năng lực giải quyết vấn đề, tránh mất thời gian công sức lặp lại những điều
người khác đã làm, đã khám phá. Ngược lại thông tin không đầy đủ, phiến diện
hoặc sai lệch sẽ làm ảnh hưởng tới kết quả giải quyết công việc. Đối với những
thông tin được truyền lại từ người khác, chúng ta phải hết sức cảnh giác, bởi
chúng phụ thuộc vào sự trung thực và quan điểm của người phản ánh.
Thu thập thông tin là một trong những bước đi cơ bản để mở rộng tầm
nhìn khi giải quyết vấn đề. Thông tin có thể thu thập được từ nhiều nguồn
bởi một dãy các thao tác của con người, của máy tính theo quy định của một
phương pháp, trình tự, chương trình, nhằm xuất phát từ các dữ liệu ban đầu
(thông tin vào) tìm ra kết quả (thông tin ra)”. Hay Giáo trình của Trường Đại
học Công nghệ - Đại học Quốc gia Hà Nội lại đưa ra định nghĩa: “Xử lý
thông tin là tìm ra những dạng thể hiện mới của thông tin phù hợp với mục
đích sử dụng. Xử lý thông tin không làm tăng lượng tin mà chỉ hướng hiểu
biết vào các khía cạnh có lợi trong hoạt động thực tiễn. Mục đích xử lý thông
tin là để tìm ra tri thức”. Ngày nay khi nói đến xử lý thông tin người ta vẫn
thường hiểu đó là việc xử lý thông tin diễn ra trên máy tính điện tử bằng cách
xử lý các dữ liệu, xử lý các phép toán logic hay những việc đơn giản cũng
như phức tạp theo một chu trình, một trình tự nhất định nào đó để công việc
đó tiến hành như đúng mong muốn.
Nguồn tin liên quan trực tiếp và gián tiếp đến những vấn đề lớn, phức
tạp vô cùng phong phú, nên phải được xử lý, kiểm tra, sắp xếp thành hệ thống
để làm bộc lộ ra các mối liên hệ và xu thế của sự vật. Để phân tích và hệ
thống hoá các số liệu có thể biểu hiện dưới nhiều dạng như: biểu đồ, đồ thị,
bảng thống kê…
10
Xử lý thông tin là một việc làm quan trọng và cần thiết. Tuy nhiên,
công việc này được đánh giá là một công việc rất khó khăn. Bởi lẽ, khi xử lý
thông tin cần phải áp dụng các phương pháp xử lý. Để cụ thể hơn đó là những
phương pháp nào, nhóm nghiên cứu xin được giới thiệu chi tiết hơn ở
Chương 3.
1.2. Mối quan hệ giữa thu thập và xử lý thông tin.
Thu thập và xử lý thông tin là hai phạm trù có mối quan hệ biện chứng
với nhau, chúng không thể tách rời. Hai kỹ năng này đều cần được thực hiện
nhằm đưa ra thông tin “đúng” và “trúng” với mục đích đã được đặt ra của
người dùng tin.
trọng chủ chốt quyết định thành bại của các hoạt động kinh tế, chính trị, xã
hội. Nắm bắt và xử lý thông tin chính xác, kịp thời cũng chính là thể hiện
trình độ, bản lĩnh của con người trên con đường chinh phục và hướng tới
thành công. Giáo dục đại học cũng không nằm ngoài các lĩnh vực của đời
sống xã hội, và để phát triển thì cần có sự đóng góp lớn từ hệ thống thông tin
khổng lồ và ngày một biến đổi. Hệ thống thông tin phản hồi với tầm ảnh
hưởng của mình đã trở thành nguồn tài nguyên, công cụ đắc lực trong việc
xây dựng chất lượng đào tạo của các trường Đại học trên thế giới, đặc biệt là
sinh viên – đội ngũ tri thức, những chủ nhân tương lai của đất nước. Đó cũng
là lý do mà nhóm nghiên cứu sẽ đi sâu phân tích tầm quan trọng của việc thu
thập và xử lý thông tin đối với sinh viên nói chung.
Thứ nhất, thu thập là bước đầu tiên phải tiến hành sau khi xác định
được vấn đề hoặc yêu cầu cụ thể. Sinh viên cần định hình được những công
việc cần làm như Thu thập ở đâu? Thu thập những gì? Và Thu thập như thế
nào?… Nếu không có sự cân nhắc đó, sinh viên sẽ rất dễ bị “chìm” trong khối
thông tin khổng lồ và vô tận trên rất nhiều nguồn khác nhau. Hiện nay có rất
nhiều nguồn giúp cho sinh viên trong việc thu thập thông tin một cách dễ
dàng như thư viện, từ sách, báo và đặc biệt Internet cũng là một nguồn khá
phong phú được sinh viên sử dụng để thu thập thông tin phục vụ học tập của
12
mình. Đây được coi là một bước phát triển vô cùng mạnh mẽ trong việc ứng
dụng khoa học công nghệ phục vụ học tập của sinh viên Việt Nam hiện nay,
giúp cho việc tiếp cận mọi nguồn thông tin trong nước và trên thế giới một
cách nhanh chóng và thuận tiện.
Thứ hai, sau khi thu thập được những thông tin có liên quan đến vấn đề
cần tìm hiểu, một câu hỏi đặt ra là “Vậy những thông tin nào mới thật sự cần
thiết, là trọng tâm của vấn đề đó?”. Hay nói cách khác, sinh viên phải xử lý,
chọn lọc để giảm bớt sự cồng kềnh của khối thông tin đồ sộ đã thu thập được.
và tài khoản riêng tại kho bạc Nhà nước và Ngân hàng.
- Trường chịu sự lãnh đạo, quản lý toàn diện và trực tiếp của Bộ Nội
vụ, sự quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo;
chịu sự quản lý hành chính theo lãnh thổ của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương nơi Trường đặt trụ sở, Văn phòng và Cơ sở đào tạo,
được hưởng các chính sách, chế độ của Nhà nước áp dụng cho hệ thống các
trường đại học, cao đẳng công lập.
2.1.1.2. Nhiệm vụ
- Xác định tầm nhìn, xây dựng chiến lược, kế hoạch tổng thể phát triển
Trường qua từng giai đoạn, kế hoạch hoạt động hàng năm.
- Tổ chức đào tạo nguồn nhân lực có trình độ đại học, sau đại học và
thấp hơn các ngành, lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Nội vụ và các ngành
nghề khác theo nhu cầu xã hội khi được các cơ quan có thẩm quyền cho phép.
- Xây dựng và triển khai các chương trình bồi dưỡng chuyên môn,
nghiệp vụ đáp ứng nhu cầu xã hội và hội nhập quốc tế.
- Cấp, xác nhận văn bằng, chứng chỉ theo thẩm quyền.
- Tuyển dụng, quản lý công chức, viên chức; xây dựng đội ngũ giảng
viên của Trường đủ về số lượng, cân đối về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành
nghề, cơ cấu độ tuổi và giới, đạt chuẩn về trình độ được đào tạo; tham gia vào
14
quá trình điều động của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền đối với nhà
giáo, cán bộ, nhân viên.
- Tuyển sinh và quản lý người học.
- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực theo quy định của pháp
luật; sử dụng nguồn thu từ hoạt động kinh tế để đầu tư xây dựng cơ sở vật
chất của Trường, mở rộng sản xuất, kinh doanh và chi cho các hoạt động giáo
dục theo quy định của pháp luật.
- Xây dựng hệ thống giáo trình, tài liệu, trang thiết bị dạy - học phục
và người học của trường.
- Thực hiện liên kết đào tạo sau đại học, đại học và thấp hơn theo quy
định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và các quy định hiện hành khác.
- Được Nhà nước giao hoặc cho thuê đất, giao hoặc cho thuê cơ sở vật
chất; được miễn, giảm thuế, vay tín dụng theo quy định của pháp luật.
- Chấp hành pháp luật về giáo dục; thực hiện xã hội hóa giáo dục; Giữ
gìn, phát triển di sản và bản sắc văn hóa dân tộc.
- Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật và quy chế
làm việc của Bộ Nội vụ; Thực hiện chế độ báo cáo Bộ Nội vụ và các cơ quan
quản lý Nhà nước về hoạt động của Trường theo quy định của pháp luật.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Cơ cấu tổ chức của Trường gồm có:
a) Ban Giám hiệu, gồm: Hiệu trưởng và các Phó Hiệu trưởng
b) Hội đồng khoa học và đào tạo, các Hội đồng tư vấn khác
c) Các Phòng chức năng:
- Phòng Quản lý đào tạo
- Phòng Tổ chức cán bộ
- Phòng Hành chính – Tổng hợp
- Phòng Kế hoạch – Tài chính
- Phòng Quản trị - Thiết bị
- Phòng Khảo thí và bảo đảm chất lượng
- Phòng Quản lý khoa học và sau đại học
- Phòng Hợp tác quốc tế
- Phòng Công tác sinh viên
d) Các Khoa:
16
- Khoa Tổ chức xây dựng chính quyền
sinh viên nói chung. Ở các trường học, dù là Giáo dục phổ thông, giáo dục đại
học chuyên nghiệp, giáo dục sau đại học, kể cả quá trình tự học,...thì học sinh,
sinh viên đều có nhu cầu thu thập, tìm kiếm thông tin nhằm thỏa mãn học tập
hay cuộc sống của mình. Đó là nhiệm vụ cơ bản, nếu không muốn nói là quan
trọng nhất của bất cứ quá trình học tập nào. Và quá trình học tập của sinh viên
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội cũng không là ngoại lệ. Nhu cầu thu thập
thông tin của sinh viên mỗi ngành học, mỗi bậc trung học, cao đẳng, đại học
đều có sự khác biệt, nhưng vẫn có những vấn đề chung chi phối mọi loại nhu
cầu thu thập thông tin trong học tập.
Dễ nhận thấy rằng, nhu cầu thông tin của sinh viên có thể được chia
thành 3 nhóm lớn bao gồm: Nhóm thông tin đào tạo liên quan đến khóa học,
ngành học; nhóm thông tin/kiến thức, kỹ năng ngành học và nhóm thông tin
thực tế liên quan đến đời sống xã hội…
Thứ nhất, xét ở góc độ nhu cầu thông tin về ngành học, về chương
trình đào tạo thì hiện nay Trường Đại học Nội vụ Hà Nội đang thực hiện song
song hai chương trình đào tạo: Đào tạo theo niên chế và đào tạo theo tín chỉ.
Với mỗi loại hình đào tạo, sinh viên cần phải chủ động thông tin trong học tập
của mình, đặc biệt là đào tạo theo học chế tín chỉ – loại hình đào tạo yêu cầu
sinh viên phải chủ động nghiên cứu kỹ, nắm chắc các tài liệu của nhà trường,
nắm vững chương trình đào tạo, các học phần phải học trước, các học phần
học song hành, phần kiến thức giáo dục đại cương, phần kiến thức giáo dục
chuyên nghiệp,… đó là nhu cầu thông tin cực kỳ quan trọng ảnh hưởng trực
tiếp học tập của sinh viên. Tuy nhiên, thực tế khảo sát của nhóm nghiên cứu
lại cho thấy một điều khá thất vọng của thực trạng sinh viên học tập tại
Trường hiện nay. Hầu hết sinh viên chưa chủ động trong việc tìm hiểu và nắm
bắt các thông tin liên quan đến khóa học, quy chế đào tạo, lịch học, phương
thức đánh giá của mỗi học phần. Trong khi đó, đây là điều đặc biệt cần thiết
đối với khối sinh viên đang được đào tạo theo học chế tín chỉ.
18
biệt quan trọng đối với việc học tập. Có kỹ năng thu thập thông tin về quản lý
Nhà nước sẽ là một trong những điều kiện tiên quyết cho các bạn sinh viên
đạt được thành công trong học tập và tương lai.
Ngành Quản trị Văn phòng là ngành được xây dựng dựa trên nhu cầu
của xã hội về nguồn nhân lực có chuyên môn, trình độ về Quản trị văn phòng.
Do đó, sinh viên ngành học này rất cần nguồn thông tin đảm bảo cho học tập
và công việc sau này. Qua khảo sát thực tế sinh viên ngành học có tới 100%
các bạn cho rằng thông tin cần cho học tập của mình, và rất cần có phương
pháp để thu thập thông tin cho hiệu quả. Những thông tin này cần phải phù
hợp với mục tiêu đào tạo ngành Quản trị văn phòng hướng đến là đào tạo sinh
viên có khả năng giúp lãnh đạo cơ quan quản lý, triển khai, hướng dẫn thực
hiện các nghiệp vụ văn phòng tại các đơn vị, bộ phận văn phòng của cơ quan,
tổ chức; đào tạo sinh viên có khả năng thực hiện thành thạo các kỹ năng,
nghiệp vụ văn phòng như: tham mưu, tổng hợp và cung cấp thông tin phục vụ
cho hoạt động quản lý; soạn thảo văn bản; tổ chức quản lý và giải quyết văn
bản; kỹ năng giao tiếp; phương pháp tổ chức các hoạt động, bố trí sắp xếp các
công việc và cải tiến lề lối làm việc trong văn phòng; phương pháp kiểm tra,
đánh giá, điều hành…
Ngành Khoa học thư viện là ngành gắn liền với thông tin nhiều nhất so
với các ngành học khác. Ngành học yêu cầu sinh viên cần nắm được những
thông tin, kiến thức cơ bản về Khoa học thư viện, đáp ứng nhu cầu hoạt động
trong lĩnh vực thư viện và thông tin; nắm vững kiến thức, tổ chức các hoạt
động nghiệp vụ cơ bản của khoa học thư viện như lựa chọn, thu thập, bổ sung
nguồn tin, tổ chức xử lý, lưu giữ, phân tích, tổng hợp, tạo dựng các sản phẩm,
dịch vụ và phân phối thông tin theo phương pháp truyền thống và hiện đại; có
kiến thức và khả năng ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động thư viện,
am hiểu các loại hình thư viện…Có kỹ năng thực hành thành thạo các hoạt
động nghiệp vụ thư viện - thông tin: chọn lọc, bổ sung, xử lý tài liệu; tổ chức
các thông tin lại theo mối quan hệ về bản chất vốn có, đúc rút ra những thông
21
tin thật sự có giá trị, phục vụ cho việc học tập, lao động và nghiên cứu là vô
cùng cần thiết và quan trọng. Bản chất của xử lý thông tin không làm tăng
lượng tin mà chỉ hướng đối tượng dùng tin vào việc làm sao để thông tin gọn
nhẹ nhất, dễ dàng sử dụng và đem lại hiệu quả tối ưu nhất, bởi vì mục đích
của quá trình xử lý thông tin là tri thức. Trên thực tế, mặc dù xử lý thông tin
có vai trò quan trọng như vậy nhưng không phải 100% sinh viên Trường Đại
học Nội vụ Hà Nội đều có nhu cầu xử lý thông tin.
Trước hết, đối với đại bộ phận sinh viên có nhu cầu xử lý thông tin: Do
khối lượng thông tin được thu thập từ các nguồn khá đa dạng và phong phú,
nên thực tế này đặt ra yêu cầu phải xử lý thông tin. Nhu cầu xử lý thông tin
xuất phát từ chính bản thân người học, nhằm phục vụ việc học tập cũng như
phục vụ cho đời sống sinh hoạt hàng ngày. Điều này có nghĩa, các nguồn
thông tin được thu thập sẽ phải trải qua quá trình “chế biến” bằng các phương
pháp cụ thể như phân loại thông tin, phân tích thông tin, xác định mức độ tin
cậy của nguồn tin và lựa chọn thông tin. Qua khảo sát thực tế, chúng tôi nhận
thấy rằng, có đến 87% sinh viên có nhu cầu xử lý thông tin sau khi tiến hành
công đoạn thu thập. Nguyên nhân chính được xác định chính là sự phát triển
của khoa học công nghệ, truyền thông. Cụ thể là, khi nghiên cứu hoặc tìm hiểu
về một vấn đề nào đó, sự phát triển của khoa học công nghệ và truyền thông
hiện nay có thể cung cấp cho sinh viên vô số các nguồn tin. Nhiệm vụ của sinh
viên lúc này là phải phân loại, phân tích, lựa chọn, tổng hợp những thông tin đó
để có được thông tin có giá trị nhất phục vụ việc học tập và nghiên cứu của
mình.
Đối với số lượng nhỏ sinh viên không có nhu cầu xử lý thông tin: Sinh
viên thuộc nhóm này chỉ chiếm 13% tổng số sinh viên của Trường. Thay vì
thực hiện các phương pháp xử lý thông tin sau khi thu thập được thì sinh viên