TÀI LIỆU HỘI THẢO
THAM VẤN QUỐC GIA VỀ
CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA
ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG
Các cơ quan tổ chức và tài trợ:
Bộ Tài nguyên và Môi trường (MONRE)
Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP)
TP. Hồ Chí Minh, ngày 26 tháng 6 năm 2008
Hội thảo tham vấn quốc gia về CTMTQG ứng phó với BĐKH và nước biển dâng
MỤC LỤC
PHẦN I: BÁO CÁO KHOA HỌC............................................................................ 3
THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG................... 4
Trần Thục, Lê Nguyên Tường, Nguyễn Văn Thắng, Trần Hồng Thái
BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TOÀN CẦU VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG................................... 13
GS.TSKH. Nguyễn Đức Ngữ, TS. Nguyễn Văn Thắng
TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TỚI TỰ NHIÊN VÀ ĐỜI SỐNG XÃ
HỘI............................................................................................................................. 22
GS.TSKH. Trương Quang Học, TS. Trần Hồng Thái
PHẦN II: DỰ THẢO CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA ỨNG PHÓ
VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG............................................. 39
PHẦN III: DANH SÁCH ĐẠI BIỂU THAM DỰ HỘI THẢO.............................. 124
2
tác động bất lợi của khí hậu đến sức khoẻ và đời sống và sử dụng những cơ hội
thuận lợi mà môi trường khí hậu mang lại.
Thuật ngữ thích ứng có nghĩa là điều chỉnh, hoặc thụ động, hoặc phản ứng
tích cực, hoặc có phòng bị trước, được đưa ra với ý nghĩa là giảm thiểu và cải thiện
những hậu quả có hại của BĐKH.
Khả năng thích ứng đề cập đến mức độ điều chỉnh có thể trong hành động,
xử lý, cấu trúc của hệ thống đối với những biến đổi dự kiến có thể xảy ra hay thực
sự đã và đang xảy ra của khí hậu. Sự thích ứng có thể là tự phát hay được chuẩn bị
trước, và có thể được thực hiện để đối phó với những biến đổi trong nhiều điều kiện
khác nhau.
Sự thích ứng còn có nghĩa là tất cả những phản ứng đối với BĐKH nhằm
làm giảm tính dễ bị tổn thương. Sự thích ứng cũng còn có nghĩa là các hành động
tận dụng những cơ hội thuận lợi mới nảy sinh do BĐKH. Trong việc đánh giá
những tác động của BĐKH, nhất thiết phải kể đến sự thích ứng. Cây cối, động vật,
và con người không thể tiếp tục tồn tại một cách đơn giản như trước khi có BĐKH
nhưng hoàn toàn có thể thay đổi các hành vi của mình. Cây cối, động vật, và các hệ
sinh thái có thể di cư sang một khu vực mới. Con người cũng có thể thay đổi hành
vi để đối phó với những điều kiện khí hậu khác nhau, nếu như cần thiết thì cũng có
thể di cư. Để giải thích đầy đủ về tính dễ bị tổn thương do BĐKH, sự đánh giá tác
động cần phải tính đến quá trình tất yếu sẽ xảy ra: sự thích ứng của các đối tượng
tác động. Không có đánh giá về những quá trình thích ứng, nghiên cứu tác động sẽ
không thể đánh giá chính xác và đầy đủ những ảnh hưởng tiêu cực của BĐKH. Một
lý do nữa cho đánh giá thích ứng là giúp cho những nhà lập chính sách biết có thể
làm gì để giảm thiểu các rủi ro của BĐKH.
4
Hội thảo tham vấn quốc gia về CTMTQG ứng phó với BĐKH và nước biển dâng
Để thích ứng với BĐKH cần hiểu rõ khái niệm thích ứng, đánh giá các công
Ngăn ngừa các tác động. Là một hệ thống các phương pháp thường dùng để
thích ứng từng bước và ngăn chặn các tác động của biến đổi và bất ổn của khí hậu.
Ví dụ trong lĩnh vực nông nghiệp, thay đổi trong quản lý mùa vụ như tăng tưới tiêu,
chăm bón thêm, kiểm soát côn trùng và sâu bệnh gây hại.
Thay đổi cách sử dụng. Khi những rủi ro của BĐKH làm cho không thể tiếp
tục các hoạt động kinh tế hoặc rất mạo hiểm, người ta có thể thay đổi cách sử dụng.
Ví dụ, người nông dân có thể thay thế sang những cây chịu hạn tốt hoặc chuyển
sang các giống chịu được độ ẩm thấp hơn. Tương tự, đất trồng trọt có thể trở thành
đồng cỏ hay rừng, hoặc có những cách sử dụng khác như làm khu giải trí, làm nơi
trú ẩn của động vật hoang dã, hay công viên quốc gia.
Thay đổi/chuyển địa điểm. Một sự đối phó mạnh mẽ hơn là thay đổi/chuyển
địa điểm của các hoạt động kinh tế. Có thể tính toán thiệt hơn, ví dụ di chuyển các
5
Hội thảo tham vấn quốc gia về CTMTQG ứng phó với BĐKH và nước biển dâng
cây trồng chủ chốt và vùng canh tác ra khỏi khu vực khô hạn đến một khu vực mát
mẻ thuận lợi hơn và thích hợp hơn cho các cây trồng trong tương lai.
Nghiên cứu. Quá trình thích ứng có thể được phát triển bằng cách nghiên cứu
trong lĩnh vực công nghệ mới và phương pháp mới về thích ứng.
Giáo dục, thông tin và khuyến khích thay đổi hành vi. Một kiểu hoạt động
thích ứng khác là sự phổ biến kiến thức thông qua các chiến dịch thông tin công
cộng và giáo dục, dẫn đến việc thay đổi hành vi. Những hoạt động đó trước đây ít
được để ý đến và ít được ưu tiên, nhưng tầm quan trọng của chúng tăng lên do cần
có sự hợp tác của nhiều cộng đồng, lĩnh vực, khu vực trong việc thích ứng với
BĐKH.
Hiểu biết về thích ứng với BĐKH có thể được nâng cao bằng cách nghiên
cứu kỹ sự thích ứng với khí hậu hiện tại cũng như với khí hậu trong tương lai. Thích
ứng với khí hậu hiện tại không giống như thích ứng với khí hậu trong tương lai, và
đoán kèm với những kịch bản kinh tế - xã hội, mặc dù biết rằng điều đó sẽ làm tăng
6
Hội thảo tham vấn quốc gia về CTMTQG ứng phó với BĐKH và nước biển dâng
đáng kể sự thiếu chính xác của dự đoán. Về lý thuyết, mọi vật và mọi người đều có
khả năng thích ứng.
4. Hoạt động của Việt Nam về ứng phó với biến đổi khí hậu
Chính phủ Việt Nam đã sớm tham gia và phê chuẩn Công ước Khung của
Liên hiệp quốc về BĐKH và Nghị định thư Kyoto. Nhiều bộ, ngành, địa phương đã
triển khai các chương trình, dự án nghiên cứu tình hình diễn biến và tác động của
BĐKH đến tài nguyên, môi trường, sự phát triển kinh tế - xã hội, đề xuất và bước
đầu thực hiện các giải pháp ứng phó.
Văn bản chỉ đạo của Chính phủ Việt Nam về BĐKH
Công văn số 1357/CP-QHQT ngày 13 tháng 11 năm 1998 của Thủ tướng
Chính phủ giao cho Tổng cục KTTV làm cơ quan đầu mối của Chính phủ Việt Nam
tham gia và thực hiện Nghị định thư Kyoto;
Chỉ thị số 35/2005/CT-TTg ngày 17 tháng 12 năm 2005 của Thủ tướng
Chính phủ về việc tổ chức thực hiện Nghị định thư Kyoto thuộc Công ước khung
của Liên hợp quốc về BĐKH tại Việt Nam;
Quyết định số 47/2007/QĐ-TTg ngày 06 tháng 4 năm 2007 của Thủ tướng
Chính phủ về việc phê duyệt Kế hoạch tổ chức thực hiện Nghị định thư Kyoto thuộc
Công ước khung của Liên hợp quốc về BĐKH giai đoạn 2007-2010;
Công văn số 1754/VPCP-NN ngày 03 tháng 4 năm 2007 của Văn phòng
Chính phủ thông báo Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Sinh Hùng
giao Bộ TN&MT chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan theo dõi, cập nhật và
xử lý các thông tin về BĐKH, nước biển dâng; đồng thời tăng cường hợp tác với
các tổ chức thế giới về BĐKH để nghiên cứu xây dựng chương trình hành động
thích ứng với BĐKH và nước biển dâng tại Việt Nam;
nước xây dựng chính sách về BĐKH để thực hiện Công ước khung của LHQ về
BĐKH;
"Ảnh hưởng tiềm tàng về kinh tế-xã hội của BĐKH tại Việt Nam" (1994).
Mục tiêu của dự án là xem xét tác động của các dao động khí hậu hiện tại đối với
môi trường tự nhiên và kinh tế ở Việt Nam, đánh giá các BĐKH do phát thải các
khí nhà kính gây ra;
“Chiến lược giảm nhẹ khí nhà kính với chi phí thấp nhất ở Châu Á”
(ALGAS) (1995-1997), do Viện KTTV thực hiện với sự hỗ trợ của UNDP và ADB.
Việt Nam là trong 12 nước tham gia dự án khu vực này. Mục tiêu của dự án là nâng
cao năng lực quốc gia trong việc kiểm kê lượng phát thải khí nhà kính, đánh giá các
phương pháp giảm nhẹ, và bước đầu xây dựng chiến lược và kế hoạch hành động
giảm khí nhà kính với chi phí thấp nhất;
“Kinh tế trong hạn chế phát thải khí nhà kính, Pha 1: Xây dựng phương pháp
luận cho việc đánh giá giảm nhẹ biến đổi khí hậu”, do Viện KTTV thực hiện với sự
hỗ trợ của UNEP/GEF. Nội dung của dự án là phân tích việc giảm thiểu KNK và
các giải pháp hiệu quả, chú trọng vào các vấn đề chính: Kinh tế vĩ mô liên quan; Sử
dụng đất và lâm nghiệp; và Nông nghiệp và năng lượng;
"Hỗ trợ thực hiện các biện pháp tăng cường năng lực ứng phó với BĐKH ở
những lĩnh vực ưu tiên (Giai đoạn II)", do Vụ Hợp tác quốc tế - Bộ TN&MT chủ trì
điều phối các hoạt động thực hiện dự án. Dự án này là bước tiếp theo dự án xây
dựng TBQG, giúp Việt Nam đẩy mạnh thêm các hoạt động đã được tiến hành trong
9
Hội thảo tham vấn quốc gia về CTMTQG ứng phó với BĐKH và nước biển dâng
giai đoạn chuẩn bị và thực hiện dự án xây dựng TBQG. Mục tiêu chính của dự án là
tăng cường năng lực và duy trì các nỗ lực để tiếp cận và truyền bá thông tin liên
quan đến công nghệ ứng phó với BĐKH;
“Xây dựng năng lực thích ứng với BĐKH ở miền Trung Việt Nam” (2002 2005), do CECI thực hiện. Mục tiêu của dự án là củng cố năng lực để lập, xây dựng
(2008-2009), do Viện KTTVMT thực hiện với sự tài trợ của DANIDA - Đan Mạch.
Mục tiêu của dự án tập trung chủ yếu vào việc giảm thiểu các tác động do nước biển
dâng gây nên bởi BĐKH ở Việt Nam thông qua việc đề xuất các biện pháp thích
ứng. Nâng cao hiểu biết về các phương pháp đối phó với thiên tai do BĐKH và
nước biển dâng ở Việt Nam;
“Tác động của BĐKH đến tài nguyên nước ở Việt Nam và các biện pháp
thích ứng” (2008-2009), do Viện KTTVMT thực hiện với sự tài trợ của DANIDA
Đan Mạch. Mục tiêu của dự án là tăng cường năng lực của các ban ngành, tổ chức
và của người dân Việt Nam trong việc thích nghi với tác động của BĐKH đến tài
10
Hội thảo tham vấn quốc gia về CTMTQG ứng phó với BĐKH và nước biển dâng
nguyên nước, giảm thiểu đến mức thấp nhất các tác động xấu cũng như thiệt hại do
BĐKH gây ra; khôi phục có hiệu quả các tác động này hoặc tận dụng các tác động
tích cực của BĐKH.
5. Thích ứng với biến đổi khí hậu trên nguyên tắc phát triển bền vững
Việt Nam được đánh giá là một trong những nước chịu tác động mạnh mẽ
của BĐKH. Hậu quả tác động của BĐKH đối với kinh tế - xã hội và môi trường
chưa thể lường hết được, song chắc chắn BĐKH là nguy cơ hiện hữu đối với mục
tiêu xóa đói giảm nghèo và là nguy cơ tiềm tàng đối với sự phát triển bền vững và
việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ. Ứng phó với biến đổi khí hậu, vì thế, phải
được tiến hành trên nguyên tắc phát triển bền vững, tổng hợp, ngành/liên ngành,
vùng/liên vùng.
Nhận thức rõ tác động của BĐKH, Chính phủ đã chỉ đạo triển khai nhiều
chương trình, dự án liên quan, trong đó có nhiều chương trình, đề tài nghiên cứu tình
hình diễn biến khí hậu, tác động của chúng, các giải pháp ứng phó, chương trình phòng
chống thiên tai, khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường.
Tuy nhiên, BĐKH là một vấn đề phức tạp, nhận thức của các tầng lớp xã hội còn rất
Hội thảo tham vấn quốc gia về CTMTQG ứng phó với BĐKH và nước biển dâng
“trông và chờ” truyền thống. Trọng tâm nhất của những phương án thích ứng được
nhằm vào những lĩnh vực dễ bị ảnh hưởng nhất của đất nước do BĐKH trong tương
lai, bao gồm cả tài nguyên nước, nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, vùng ven biển,
năng lượng, giao thông vận tải, và y tế.
Những chọn lựa thích ứng cho các khu vực và lĩnh vực dễ bị thiên tai sẽ
được phát triển dựa trên những đánh giá về BĐKH ở Việt Nam và những kế hoạch
phát triển ở cấp tỉnh, cấp quốc gia và ở cấp ngành. Bởi vậy những chọn lựa thích
ứng cụ thể có thể là rất đa dạng ở những lĩnh vực và cấp độ khác nhau và phụ thuộc
rất nhiều vào những chính sách ưu tiên cũng như nguồn tài nguyên thiên nhiên và
nguồn nhân lực hiện có. Nhìn chung, một “chính sách đưa việc thích ứng vào trong
kế hoạch phát triển quốc gia” ở cấp trung ương có thể dẫn đến sự thành công trong
xây dựng những chiến lược thích ứng mức địa phương/khu vực nhằm củng cố khả
năng thích ứng của đất nước trong mối liên kết với những ưu tiên khác.
Do đường bờ biển nước ta dài và tập trung đông dân cư cũng như vai trò
thiết yếu của miền duyên hải trong việc phát triển kinh tế đất nước, những chiến
lược thích ứng cho vùng ven biển vì thế sẽ là một trong những ưu tiên hàng đầu để
giảm những ảnh hưởng tiềm ẩn của BĐKH ở nước ta. Một chương trình mục tiêu
thích ứng với BĐKH là một bước đi quan trọng cho quá trình hoạch định các chính
sách phát triển kinh tế xã hội có tính toán đến tác động của biến dổi khí hậu.
Tài liệu tham khảo
1) Thông báo đầu tiên của Việt Nam cho Công ước Khung của Liên hiệp quốc về
BĐKH, Hà Nội 2003;
2) Adaptation to climate change: Theory and Assessment, Cambridge University
Press;
3) IPCC, “Fourth Assessment Report of the Intergovernmental Panel on Climate
Change”: WGI: "The Physical Science of Climate Change", WGII: "Impacts,
Adaptation & Vulnerability", WGIII: "Mitigation of Climate Change", 2007;
4) Burton I., Smith J. B., and Lenhart S., Adaptation to Climate Change: Theory
phủ các nước rằng "Biến đổi khí hậu cũng khiến nhân loại phải đối mặt với những
đe dọa to lớn như chiến tranh", rằng "Biến đổi khí hậu không chỉ là vấn đề môi
trường, mà còn là mối đe dọa toàn diện, ảnh hưởng đến sức khỏe con người, đến
tình trạng cung cấp lương thực toàn cầu, đến vấn đề di dân và đe dọa nền hòa bình
và anh ninh thế giới". Nhiều nước đã thành lập các tổ chức để chỉ đạo và điều phối
các hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu, xây dựng các chương trình, chiến lược
hoặc kế hoạch hành động quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu.
Ở trong nước, gần đây dư luận cũng quan tâm nhiều hơn đến biến đổi khí
hậu, nhất là sau báo cáo của Ngân hàng thế giới, công bố tháng 2 năm 2007 về ảnh
hưởng của mực nước biển dâng do biến đổi khí hậu đối với Việt Nam. Nguyên Chủ
tịch nước Trần Đức Lương có bài đăng trên báo Nhân dân số ra ngày 14 tháng 3
năm 2007 với tiêu đề "Hiểm họa của Biến đổi khí hậu toàn cầu đối với Việt Nam và
nhìn từ Việt Nam". Ngày 03 tháng 12 năm 2007, Chính phủ đã ra Nghị quyết số
60/2007/NQ-CP về việc giao Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với
các Bộ, ngành liên quan xây dựng Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến
đổi khí hậu toàn cầu.
Thực ra, ngay từ đầu những năm 1990, những bằng chứng về sự biến đổi khí
hậu, tiêu biểu là sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng lên đã được Ban Liên
Chính phủ về Biến đổi khí hậu đưa ra tại Hội nghị Khí hậu thế giới lần thứ 2 họp tại
Geneve (Thụy Sĩ) năm 1990 và là cơ sở cho nhiều cuộc hiệp thương liên Chính phủ
để tiến tới Công ước Khung của Liên Hiệp Quốc về Biến đổi khí hậu, được 155
13
Hội thảo tham vấn quốc gia về CTMTQG ứng phó với BĐKH và nước biển dâng
nước và vùng lãnh thổ ký tại Hội nghị thượng đỉnh về Môi trường và Phát triển họp
ở Rio de Janeiro (Braxin) năm 1992.
Tuy nhiên, phải mất 5 năm (1997), Nghị định thư Kyoto thuộc Công ước
Thực trạng biến đổi khí hậu toàn cầu và nước biển dâng.
Ban Liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) đã đưa ra 4 báo cáo đánh
giá tình hình BĐKH toàn cầu:
Báo cáo đánh giá lần thứ nhất (1990) là cơ sở để Liên Hiệp Quốc quyết định
thành lập Ủy ban Hiệp thương liên Chính phủ về một Công ước khí hậu và đã tiến
tới Công ước Khung của Liên Hiệp Quốc về Biến đổi khí hậu được ký kết tháng 6
năm 1992.
Báo cáo đánh giá lần thứ hai (1994) là cơ sở để thảo luận và thông qua Nghị
định thư Kyoto tại Hội nghị lần thứ 3 các Bên Công ước (1997).
14
Hội thảo tham vấn quốc gia về CTMTQG ứng phó với BĐKH và nước biển dâng
Báo cáo đánh giá lần thứ ba (2001), sau 10 năm thông qua Công ước Khung
của Liên Hiệp Quốc về Biến đổi khí hậu.
Báo cáo đánh giá lần thứ tư (2007), sau 10 năm thông qua Nghị định thư
Kyoto và một năm trước khi bước vào thời kỳ cam kết đầu tiên theo Nghị định thư
(2008 - 2012), để chuẩn bị cho việc thương lượng về thời kỳ cam kết tiếp theo.
Mỗi lần đánh giá đều có những tiến bộ mới về nguồn số liệu và phương
pháp, làm giảm đáng kể những điều chưa chắn chắn tồn tại trước đây, do đó, nâng
cao rõ rệt mức độ tin cậy của những kết luận về biến đổi khí hậu trong quá khứ
cũng như trong tương lai.
Sau đây là những kết luận chính trong báo cáo đánh giá lần thứ tư của IPCC
được công bố tháng 2 năm 2007.
1.
Sự nóng lên toàn cầu của hệ thống khí hậu hiện nay là chưa từng có và
rất rõ ràng từ những quan trắc nhiệt độ và đại dương trung bình toàn cầu, sự
trong thời kỳ 1993 - 2003. Tổng cộng, mực nước biển trung bình toàn cầu đã
tăng lên 0,31m trong 100 năm gần đây.
Chính sự tan băng ở Greenland, Bắc cực và Nam cực đã làm cho mực nước
biển tăng nhanh hơn trong thời kỳ 1993 - 2003. Ngoài ra, nhiệt độ trung bình
của đại dương toàn cầu tăng lên (ít nhất là tới độ sâu 3000m) cũng góp phần
vào sự tăng lên của mực nước biển.
3.
Số liệu vệ tinh cho thấy, diện tích biển băng trung bình năm ở Bắc Cực
đã thu hẹp 2,7%/thập kỷ. Riêng mùa hè giảm 7,4%/thập kỷ. Diện tích cực đại
của lớp phủ băng theo mùa ở Bắc bán cầu đã giảm 7% kể từ năm 1990, riêng
trong mùa xuân giảm tới 15%.
Mới đây, tại Hội nghị quốc tế về biến đổi khí hậu họp ở Bruxen (Bỉ), các báo
cáo khoa học cho biết, ở Bắc cực, khối băng dày 2 dặm (khoảng trên 3km) đang
mỏng dần và đã mỏng đi 66cm. Ở Nam Cực, băng cũng đang tan với tốc độ chậm
hơn và những núi băng ở Tây Nam cực đổ sụp. Những lớp băng vĩnh cửu ở
15
Hội thảo tham vấn quốc gia về CTMTQG ứng phó với BĐKH và nước biển dâng
Greenland tan chảy. Ở Alaska (Bắc Mỹ, trong những năm gần đây nhiệt độ đã tăng
1,50C so với trung bình nhiều năm, làm tan băng và lớp băng vĩnh cửu đã giảm
40%, những lớp băng hàng năm dày khoảng 1,2m đã giảm 4 lần, chỉ còn 0,3m. Báo
cáo cũng cho biết, các núi băng trên cao nguyên Thanh Hải (Trung Quốc) ở độ cao
5000m mỗi năm giảm trung bình 7% khối lượng và 50 - 60m độ cao, uy hiếp nguồn
nước của các sông lớn ở Trung Quốc. Trong 30 năm qua, trung bình mỗi năm, diện
tích lớp băng trên cao nguyên Tây Tạng bị tan chảy khoảng 131km 2, chu vi vùng
làm cho mùa màng thất bát, dẫn đến nạn đói, nhiều gia đình phải di cư đi nơi khác.
Những biến đổi khí hậu xảy ra trong thời kỳ địa chất đều do các nguyên nhân
tự nhiên, trong đó chủ yếu là sự chuyển động của trái đất, các vụ phun trào của núi
lửa và hoạt động của mặt trời.
2.
Nguyên nhân của biến đổi khí hậu trong thời kỳ hiện đại.
Nguyên nhân của sự biến đổi khí hậu hiện nay, tiêu biểu là sự nóng lên toàn
cầu đã được khẳng định là do hoạt động của con người. Kể từ thời kỳ tiền công
nghiệp (khoảng từ năm 1750), con người đã sử dụng ngày càng nhiều năng lượng,
chủ yếu từ các nguồn nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí đốt), qua đó đã thải vào
khí quyển ngày càng tăng các chất khí gây hiệu ứng nhà kính, làm tăng hiệu ứng
nhà kính của khí quyển, dẫn đến tăng nhiệt độ của trái đất.
16
Hội thảo tham vấn quốc gia về CTMTQG ứng phó với BĐKH và nước biển dâng
Những số liệu về hàm lượng khí CO2 trong khí quyển được xác định từ các
lõi băng được khoan ở Greenland và Nam cực cho thấy, trong suốt chu kỳ băng hà
và gian băng (khoảng 18 nghìn năm trước), hàm lượng khí CO 2 trong khí quyển chỉ
khoảng 180 - 200ppm (phần triệu), nghĩa là chỉ bằng khoảng 70% so với thời kỳ
tiền công nghiệp (280ppm). Từ khoảng năm 1800, hàm lượng khí CO 2 bắt đầu tăng
lên, vượt con số 300ppm và đạt 379ppm vào năm 2005, nghĩa là tăng khoảng 31%
so với thời kỳ tiền công nghiệp, vượt xa mức khí CO 2 tự nhiên trong khoảng 650
nghìn năm qua.
Hàm lượng các khí nhà kính khác như khí mêtan (CH 4), ôxit nitơ (N2O) cũng
tăng lần lượt từ 715ppb (phần tỷ) và 270ppb trong thời kỳ tiền công nghiệp lên
1774ppb (151%) và 319ppb (17%) vào năm 2005. Riêng các chất khí chlorofluoro
cacbon (CFCs) vừa là khí nhà kính với tiềm năng làm nóng lên toàn cầu lớn gấp
mức trung bình toàn cầu (4,5 tấn/người/năm)
1
() Nguồn: UNDP - Báo cáo phát triển con người năm 2007/2008
2
17
Hội thảo tham vấn quốc gia về CTMTQG ứng phó với BĐKH và nước biển dâng
nhiều nước trong khu vực. Dự tính tổng lượng phát thải các khí nhà kính của nước
ta sẽ đạt 233,3 triệu tấn CO2 tương đương vào năm 2020, tăng 93% so với năm
1998(3)
Tuy nhiên, điều đáng lưu ý là trong khi các nước giàu chỉ chiếm 15% dân số
thế giới, nhưng tổng lượng phát thải của họ chiếm tới 45% tổng lượng phát thải toàn
cầu; các nước Châu Phi và cận Sahara với 11% dân số thế giới chỉ phát thải 2%, và
các nước kém phát triển với 1/3 dân số thế giới chỉ phát thải 7% tổng lượng phát
thải toàn cầu.
Đó là điều mà các nước đang phát triển nêu ra về bình đẳng và nhân quyền
tại các cuộc thương lượng về Công ước khí hậu và Nghị định thư Kyoto.
Chính vì thế, một nguyên tắc cơ bản, đầu tiên được ghi trong Công ước
Khung của Liên Hiệp Quốc về Biến đổi khí hậu là "Các Bên phải bảo vệ hệ thống
khí hậu vì lợi ích của các thế hệ hiện nay và mai sau của nhân loại, trên cơ sở công
bằng, phù hợp với những trách nhiệm chung nhưng có phân biệt và Bên các nước
phát triển phải đi đầu trong việc đấu tranh chống Biến đổi khí hậu và những ảnh
hưởng có hại của chúng"
Trong Nghị định thư Kyoto (Điều 10) còn ghi "Tất cả các Bên, có xem xét
những trách nhiệm chung nhưng có phân biệt và các tình huống, mục tiêu và những
thể cao hơn hoặc thấp hơn so với trung bình toàn cầu vì có sự khác nhau về nhiệt độ
của đại dương và các yếu tố khác. Mực nước biển có đo được thông qua hệ thống
thiết bị đo triều ký đặt tại các trạm Hải văn hoặc các máy đo độ cao từ vệ tinh.
Theo Báo cáo đánh giá lần thứ 4 của Ban Liên Chính phủ về Biến đổi khí
hậu (IPCC), “sự nóng lên của hệ thống khí hậu đã rõ ràng được minh chứng thông
qua số liệu quan trắc ghi nhận sự tăng lên của nhiệt độ không khí và nhiệt độ nước
biển trung bình toàn cầu, sự tan chảy nhanh của lớp tuyết phủ và băng, làm tăng
mực nước biển trung bình toàn cầu”.
Mực nước biển tăng phù hợp với xu thế nóng lên do có sự đóng góp của các
thành phần chứa nước trên toàn cầu được ước tính gồm: Giản nở nhiệt của các đại
dương, các sông băng trên núi, băng Greenland, băng Nam cực và các nguồn chứa
nước trên đất liền.
IV.
Xu thế biến đổi khí hậu và nước biển dâng trên thế giới trong thế kỷ
21.
Theo Báo cáo đánh giá lần thứ 4 của Ban Liên Chính phủ về Biến đổi khí
hậu, đến cuối thế kỷ 21, hàm lượng khí CO2 trong khí quyển sẽ đạt 540 - 970ppm
theo các kịch bản khác nhau về phát thải khí nhà kính, nghĩa là tăng ít nhất gấp đôi
so với thời kỳ tiền công nghiệp, và như vậy, nhiệt độ trung bình toàn cầu sẽ tăng lên
tương ứng là 2,0 - 4,50C (1,1 – 6,4oC), mực nước biển trung bình toàn cầu sẽ tăng
lên từ 0,18 đến 0,59m so với cuối thế kỷ 20.
19
Hội thảo tham vấn quốc gia về CTMTQG ứng phó với BĐKH và nước biển dâng
Tuy kịch bản mực nước biển dâng còn chưa chắc chắn, vì có nhiều điều
không biết rõ về sự đóng góp của băng Greenland và Nam cực. Nhưng thực tế, các
trong những năm gần đây;
-
Số ngày mưa phùn ở miền Bắc giảm một nửa, từ trung bình 30 ngày mỗi năm
trong thập kỷ 1961 - 1970 xuống còn 15 ngày mỗi năm trong thập kỷ 1991 2000;
-
Lượng mưa biến đổi không nhất quán giữa các vùng. Riêng trong hai thập kỷ
gần đây, lượng mưa năm ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh có xu hướng giảm đi,
trong khi ở Đà Nẵng có xu hướng tăng lên;
-
Hạn hán có xu hướng mở rộng ở hầu hết các vùng, đặc biệt là cực Nam Trung
Bộ, dẫn đến gia tăng hiện tượng hoang mạc hóa;
-
Mực nước biển trung bình đã tăng 25 - 30cm trong khoảng 50 năm qua;
-
Hiện tượng El Nino và La Nina ảnh hưởng đến nước ta mạnh mẽ hơn trong vài
thập kỷ gần đây, gây ra nhiều kỷ lục có tính dị thường về thời tiết như nhiệt độ
cực đại, nắng nóng và hạn hán gay gắt trên diện rộng, cháy rừng khi có El
Nino, điển hình là năm 1997 - 1998; mưa lớn, lũ lụt và rét hại khi có La Nina
như năm 2007.
tăng làm mở rộng các vùng biển có điều kiện nhiệt độ thích hợp cho việc hình thành
bão và áp thấp nhiệt đới, trong đó có khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương và Biển
Đông, có thể dẫn đến tăng tần số và cường độ của bão ảnh hưởng đến nước ta.
Hiện tượng El Nino có thể xảy ra thương xuyên hơn, với cường độ mạnh hơn
và thời gian kéo dài hơn. Như vậy, ngoài biến đổi khí hậu với sự tăng lên của nhiệt
độ và mực nước biển trung bình diễn ra một cách từ từ, có tác động lâu dài, tính cực
đoan và dị thường của thời tiết, khí hậu, đặc biệt là thiên tai cũng trở nên lớn hơn,
có thể gây ra những tổn thất lớn về người và tài sản và làm cho công tác dự báo,
phòng tránh trở nên khó khăn hơn.
Tài liệu tham khảo
1. Biến đổi khí hậu. Chủ biên: GS. TSKH. Nguyễn Đức Ngữ, NXB KHKT, Hà
Nội, tháng 5/2008. Kết quả dự án “Nâng cao nhận thức và tăng cường năng
lực cho địa phương trong việc thích ứng và giảm nhẹ biến đổi khí hậu, góp
phần thực hiện Công ước Khung của Liên Hiệp Quốc và Nghị định thư
Kyoto về biến đổi khí hậu”. Mã số: VN/05/009.
2. Thông báo đầu tiên của Việt Nam cho Công ước Khung của Liên hiệp quốc
về BĐKH, Hà Nội 2003.
3. IPCC, “Fourth Assessment Report of the Intergovernmental Panel on
Climate Change”: WGI: "The Physical Science of Climate Change", WGII:
"Impacts, Adaptation & Vulnerability", WGIII: "Mitigation of Climate
Change", 2007.
4. Nerem, R. Steven. New developments in Presen-day Sea Level Change,
Unviversity of Colorado at Boulder, USA.
21
Hội thảo tham vấn quốc gia về CTMTQG ứng phó với BĐKH và nước biển dâng
TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TỚI TỰ NHIÊN VÀ
trong khi quyển, ứng phó với BĐKH trên phạm vi toàn cầu.
Theo đó, nhiều nước đã xây dựng Kế hoạch hành động Quốc gia thích ứng
với biến đổi khí hậu – NAPA: Bangladesh (2005), Bhutan (2007), Burundi (2007),
Cambodia (2006), Comoros (2006), Djibouti (2006), Eritrea (2007), Guinée
(2007), Haiti (2006), Kiribati (2007), Lesotho (2007), Madagascar (2006), Malawi
(2006), Mauritania (2004), Mali (2007), Niger (2006), Congo (2006), Rwanda
(2006), Samoa (2005), Sénégal (2006), Sudan (2007), Tomé E Príncipe (2006),
Tuvalu (2007), Tanzania (2007), Zambia (2007) và Trung Quốc (Chương trình
Quốc gia về Biến đổi khí hậu, 2007).
22
Hội thảo tham vấn quốc gia về CTMTQG ứng phó với BĐKH và nước biển dâng
Việt Nam đã ký Công ước khung của Liên hợp quốc về BĐKH (UNFCCC)
(1992), Nghị định thư Kyoto (KP) (1998) và Tham gia Hội nghị Bali (2007). Bộ Tài
nguyên và Môi trường (TN&MT) được giao làm Cơ quan đầu mối của Chính phủ
Việt Nam tham gia và thực hiện UNFCCC, KP. Chính phủ đã ban hành các Chỉ thị,
Quyết định, Nghị quyết giao Bộ TN&MT và các bộ, ngành, địa phương có liên
quan triển khai thực hiện các cam kết này.
Trong thời gian qua, Việt Nam đã tham gia nhiều hoạt động của khu vực và
toàn cầu về BĐKH và có quan hệ hợp tác thường xuyên với Ban Thư ký UNFCCC,
Ban Chấp hành Quốc tế về Cơ chế phát triển sạch (CDM, KP), Ban liên Chính phủ
về BĐKH, với các nước và các tổ chức quốc tế về các vấn đề có liên quan. Việt
Nam cũng đã triển khai một số chương trình nghiên cứu, dự án về BĐKH, CDM có
kết quả.
Hiện nay, theo tinh thần của Nghị quyết số 60/2007/NQ-CP ngày 03 tháng
12 năm 2007 của Chính phủ, Bộ TN&MT đã xây dựng và đang trình Chính phủ phê
duyệt Chương trình Mục tiêu Quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu (CTMTQG).
Hội thảo tham vấn quốc gia về CTMTQG ứng phó với BĐKH và nước biển dâng
Một cách khái quát, BĐKH được thể hiện ở ba đặc trưng chủ yếu như sau:
a. Nhiệt độ trung bình, tính biến động và dị thường của thời tiết và khí hậu
tăng lên;
b. Mực nước biển dâng lên do sự tan băng ở các Cực và các đỉnh núi cao;
c. Các thiên tai và hiện tượng thời tiết cực đoan (nắng nóng, giá rét, bão, lũ
lụt, hạn hán...) xẩy ra với tần xuất, độ bất thường và có thể cả cường độ tăng lên.
2. TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
BĐKH tác động lên tất cả các lĩnh vực: tài nguyên, môi trường, kinh tế -xã
hội và sức khoẻ con người trên phạm vi toàn cầu. Tuy nhiên, mức độ tác động của
BĐKH có khác nhau tuỳ thuộc vào những đặc trưng về điều kiện đia lý, trình độ
phát triển và các hành động ứng phó của từng vùng, miền, từng quốc gia cụ thể.
2.1. Bức tranh chung toàn cầu
Theo dự đoán, nhiều thành phố của các quốc gia ven biển đang đứng trước
nguy cơ bị nước biển nhấn chìm do mực nước biển dâng - hậu quả trực tiếp của sự
tan băng ở Bắc và Nam Cực. Trong số 33 thành phố có qui mô dân số 8 triệu người
vào năm 2015, ít nhất 21 thành phố có nguy cơ cao bị nước biển nhấn chìm toàn bộ
hoặc một phần và khoảng 332 triệu người sống ở vùng ven biển và đất trũng sẽ bị
mất nhà cửa vì ngập lụt.
Mức độ rủi ro cao về lãnh thổ bị thu hẹp do nước biển dâng theo thứ tự là
Trung Quốc, Ấn Độ, Bangladesh, Việt Nam, Indonesia, Nhật Bản, Aicập, Hoa Kỳ,
Thái Lan và Philippines.
Nước biến dâng lên còn kèm theo hiện tượng xâm nhập mặn vào sâu hơn
trong nội địa và sự nhiễm mặn của nước ngầm, tác động xấu tới sản xuất nông
nghiệp và tài nguyên nước ngọt.
Tài nguyên nước và sản xuất nông nghiệp cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Theo dự đoán, đến năm 2080, sẽ có thêm khoảng 1,8 tỷ người phải đối mặt với sự
khan hiếm nước, khoảng 600 triệu người sẽ phải đối mặt với nạn suy dinh dưỡng do
Một yếu tố quan trọng trong đánh giá hậu quả của BĐKH là độ trơ của hệ
thống khí hậu: sự thay đổi của khí hậu xảy ra từ từ và khi sự thay đổi đáng kể xảy ra
thì khó đạt lại trạng thái ban đầu. Do đó, thậm chí khi nồng độ các chất gây ra hiệu
ứng nhà kính đã được ổn định thì sự ấm lên của trái đất vẫn tiếp tục xảy ra trong vài
thập kỷ và mực nước vẫn tiếp tục tăng lên trong hàng thế kỷ tiếp sau (theo Võ Quý,
2005).
Hậu quả của BĐKH gây ra không đồng đều trên thế giới: nghiêm trọng ở các
vùng có vĩ độ cao và ít hơn tại các vùng khác, sẽ lớn hơn ở các nước nhiệt đới, nhất
là các nước đang phát triển công nghiệp nhanh ở châu Á. Trong đó, những người
nghèo, những người it góp phần gây ra BĐKH nhất thì lại phải chịu những thiệt hại
sớm nhất và nghiêm trọng nhất về phát triển con người do BĐKH gây ra (Crutzen,
2005).
Tác động tích cực của biến đổi khí hậu
BĐKH, ở những mức độ nhất định và những khu vực nhất định cũng có
những tác động tích cực:
-
Là một cơ hội để thúc đẩy các nước đổi mới công nghệ, phát triển
các công nghệ sạch, công nghệ thân thiện với môi trường và các họat
động R&D nói chung có liên quan;
-
Phát triển trồng rừng để hấp thu CO2 / giảm phát thải khí nhà kính,
v.v...
-
Ở một số nước ôn đới, khi nhiệt độ tăng lên sẽ thuận lợi hơn để phát
triển nông nghiệp; Năng lượng để sưới ấm cũng được tiết kiệm hơn...