luận văn thạc sĩ Xác định sản phẩm chủ lực và phát triển sản phẩm chủ lực Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020 - Pdf 37



PHẦN MỞ ĐẦU 



triển; làm cách nào để cho  sản phẩm chủ lực ĐBSCL có thể cạnh tranh ngang ngửa với 
hàng hóa, dịch vụ cùng loại trong cả nước và trên thế giới; và làm cách nào để sản phẩm 

1. Lý do chọn đề tài 
Là một trong những đồng bằng rộng lớn và phì nhiêu bậc nhất Đông Nam Á và thế 
giới, ĐBSCL đã trở thành vùng sản xuất, xuất khẩu lương thực, thủy hải sản và cây ăn trái 
nhiệt đới lớn nhất Việt Nam. Hơn thế, nó còn là vùng kinh tế trọng điểm cả nước, có vị trí 
quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, hợp tác đầu tư và giao thương với các nước 
trong khu vực và thế giới. Quá trình cải cách kinh tế trong nước và hội nhập kinh tế quốc 
tế  mà  thời  gian  qua  đã  giúp  cho  các  lĩnh  vực  công  nghiệp,  dịch  vụ  và  đặc  biệt  là  nông 
nghiệp ở  ĐBSCL đạt được những  thành tựu to lớn. Tốc độ  tăng trưởng GDP  lập nên  kỷ 
lục mới, xuất nhập khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài không ngừng gia tăng; cơ cấu kinh 

chủ lực ĐBSCL không ngừng phát triển và phát triển một cách bền vững trong môi trường 
hội nhập và cạnh tranh quốc tế… 
Từ sự phân tích trên đây cho thấy, việc nhanh chóng nghiên cứu để tìm ra những 
sản phẩm chủ lực, giữ vai trò chủ đạo đồng thời tạo ra cú đột phá mạnh mẽ cho phát triển 
kinh tế ĐBSCL trong tương lai gần cũng như lâu dài là yêu cầu khách quan và bức thiết ở 
thời điểm hiện nay.  Và,  đây cũng  chính  là  lý  do mà  tác  giả  chọn  đề  tài: “Xác định  sản 
phẩm  chủ  lực  và  phát  triển  sản  phẩm  chủ  lực  Đồng  bằng  sông  Cửu  Long  đến  năm 
2020” làm đề tài nghiên cứu cho Luận án tiến sĩ của bản thân. 

2.  Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên nghiên cứu của luận án 

tế chuyển dịch dần từ nông nghiệp truyền thống sang công nghiệp, thương mại dịch vụ và 

Để đạt được các mục tiêu nêu trên, luận án  sẽ tập trung thực hiện xuyên suốt các 
nhiệm vụ trọng tâm như sau: 
1) Nghiên cứu hệ thống hóa lý thuyết về sản phẩm chủ lực và vận dụng nó để làm 
sáng tỏ những vấn đề có tính lý luận cũng như thực tiễn trong việc đánh giá, xét chọn  và 
phát triển sản phẩm chủ lực của ĐBSCL từ nay đến năm 2020. 
2) Phân tích, đánh giá nhu cầu thị trường, tiềm năng và lợi thế phát triển sản phẩm 
chủ lực cũng như năng lực cạnh tranh của sản phẩm chủ lực ĐBSCL để từ đó xây dựng Hệ 
thống tiêu chí đánh giá, xét chọn sản phẩm chủ lực vùng từ nay đến năm 2020. 
3) Trên cơ sở Hệ thống tiêu chí, tiến hành phân tích, đánh giá nhằm tìm ra những 
hàng hóa hội đủ điều kiện hoặc có triển vọng để hình thành Bảng danh mục sản phẩm chủ 
lực ĐBSCL từ nay đến năm 2020.






4) Phân tích, đánh giá những thành tựu cũng như tồn tại, hạn chế trong thực tế xét 

độc đáo. Nhiều quốc gia trên thế giới đã thành công khi vận dụng tư tưởng này của Porter 

chọn và phát triển sản phẩm chủ lực ĐBSCL thời gian qua để từ đó đề xuất các giải pháp 

và  các lý  thuyết  cạnh  tranh khác  vào  việc  xác  định  lợi thế  cạnh  tranh để phát triển  cụm 

khắc phục nhằm phát triển hơn nửa sản phẩm chủ lực của vùng trong tương lai lâu dài . 

chuyên môn hóa và sản phẩm chủ lực [20], [21]. 

3.  Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 


phát triển để tham gia thị trường và giữ vai trò chủ lực trong chiến lược phát triển kinh tế 

dụng  thành  công  lý  thuyết  này  vào  lựa  chọn  và  phát  triển  ngành/sản  phẩm  chủ  lực  tập 

vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020 

trung theo không gian địa lý (Porter 1990) hoặc [48]. 

Đối với địa bàn nghiên cứu: Ngoài các tỉnh, thành thuộc khu vực đồng bằng sông 

3) Sự phát triển của khái niệm cụm ­ Kinh nghiệm hiện tại và triển vọng, Christian 

Cửu  Long, khi nghiên  cứu nhu  cầu thị  trường  thì phạm  vi nghiên cứu  được mở rộng  ra 

H. M. Ketels (2003). Ketels đã trình bày khung khái niệm về cụm (cluster) của Michael 

nhiều tỉnh, thành phố lớn trong cả nước. 

M. Porter, các loại hình cụm, sự tiến hóa cuả cụm và cụm với hiệu quả kinh tế. Ngoài ra, 

4.  Tổng quan tài liệu nghiên cứu 

Ketels cũng nói đến những phát hiện trong thực nghiệm đối với cụm, cụm dựa trên chính 

Phát triển  cụm  công nghiệp gắn với phát triển vùng  lãnh thổ và địa phương, hoặc 

sách phát triển kinh tế và xem đây như là mô hình phát triển kinh tế mới. Thông qua công 

phát triển ngành hoặc sản phẩm công nghiệp chủ lực của địa phương, từ lâu đã có nhiều 


trường ngoài ngưỡng giới hạn không có lợi trong việc cung cấp hàng hoá của trung tâm. 

Tức,  lợi  thế  của  một  quốc  gia  trong  thương  mại  quốc  tế  được  xác  định  bởi  các  yếu  tố 

Lý thuyết này được Alosh (Đức) bổ sung. Điểm đáng chú ý của lý thuyết điểm trung tâm 

nguồn lực như đất đai, tài nguyên thiên nhiên, lao động và qui mô dân số địa phương vì 

là xác định được quy luật phân bố không gian tương ứng giữa các điểm dân cư, từ đó có 

chúng  tạo  ra  chi phí  thấp.  Tuy  nhiên,  theo Porter  thì  "sự  thịnh  vượng của quốc gia được 

thể áp dụng quy hoạch các điểm dân cư trên lãnh thổ mới khai thác [45]. 

tạo ra chứ không phải được thừa kế", nên cần có sự tập trung đầu tư mạnh mẽ để nâng cao 

5) Một nghiên cứu về các chỉ số năng lực cạnh tranh, G. Arzu INAL (2003). Trong 

hiệu quả thông qua cải thiện năng suất lao động hoặc sáng tạo ra các sản phẩm với giá trị

bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gia tăng và sự quan tâm ngày càng sâu sắc của các






giới, đặc biệt các nhà sản xuất kinh doanh đến chiến lược cạnh tranh hiệu quả, nhiều nhà 


được  tác  giả  tham  khảo  như:  “Regional  innovation  systems  (RIS)  in  China  của  Jon 

xuất khẩu theo hướng nâng cao tỷ trọng các sản phẩm chế biến, sản phẩm có hàm lượng 

Sigurdson”  đăng  trên  Working  Paper  No  195,  July  2004  [49];  “Sustaining  the  Green 

công nghệ cao cũng như thúc đẩy xuất khẩu dịch vụ.  Nội dung chủ yếu của Chương trình 

Revolution in India” của S. Nagarajan [50]; “Economic contributios of Thailand’s creative 

là nghiên cứu đề xuất các giải pháp phát triển công nghệ về giống cây trồng và vật nuôi có 

industries”, đăng trên tạp chí Fiscal Policy Institute 2009 [47]; “Koji – The key product in 

năng  suất, chất  lượng  cao,  chống  chịu  sâu bệnh…;  xây  dựng  các mô hình  thâm  canh  và 

Japanese  alcoholic  beverages  and  fermented  foods,  Tokyo  University  of  Agriculture 

sản  xuất  công nghiệp  trong nuôi trồng nông, lâm,  thủy  hải  sản  theo hướng bền  vững  và 

Sedagaya­ku,  Tokyo,  Japan  [54];  “Identifying  and  assessing  the  factors  that  influence 

bảo vệ môi trường sinh thái...[1] 

cluster’s  competitiveness  in  Oregon, and  some  initial  suggestions”,  Luận  án  Tiến  sĩ  của 

4) “Quy chế đánh giá, xét chọn và hỗ trợ phát triển sản phẩm công nghiệp chủ lực 

Sam  Gi  Hong  (2007) [52]....Nhìn  chung  các  tài liệu này  đều nhấn mạnh đến  vai  trò  của 


các tỉnh Bắc Trung bộ. Trên cơ sở xử lý các số liệu thu thập từ báo cáo thống kê và khảo 

sản phẩm chủ lực...[17]. 

sát thực tế; rút kinh nghiệm  phát triển ngành công nghiệp chế biến ở một số nước Đông 

5) Chương trình phát triển các sản phẩm công nghiệp chủ lực của thành phố Hồ Chí 

Nam  Á  và  dựa  trên  tiềm  năng,  lợi  thế  của  vùng,  Luận  án  đã  xác  định  các  ngành  công 

Minh  giai  đoạn  2002  –  2005”.  Theo  Chương  trình  này,  Hệ  thống  tiêu  chí  lựa  chọn  sản 

nghiệp chế biến nông, lâm sản chủ lực để phát triển trên địa bàn Bắc Trung bộ [9]. 

phẩm chủ lực và xây dựng bảng tự đánh giá năng lực cạnh tranh của mỗi sản phẩm đăng 

2) Chương trình phát triển sản phẩm quốc gia dến năm 2020 của Chính phủ. Theo 

ký tham gia chương trình đã ra đời cùng với việc triển khai hỗ trợ các doanh nghiệp tham 

Chương  trình,  sẽ  hình  thành  và  phát  triển  hàng  hóa  mang  thương  hiệu  Việt  Nam  bằng 

gia chương trình trên năm lĩnh vực: thiết kế sản phẩm và lựa chọn công nghệ, nâng cao 

công nghệ tiên tiến, có năng lực cạnh tranh cao về tính mới, chất lượng, giá thành dựa trên 

trình độ quản lý của doanh nghiệp, tiếp thị, đào tạo nhân lực, tài chính thông qua các hoạt 

việc khai thác lợi thế so sánh các nguồn lực trong nước. Trong đó, giai đoạn 2010 – 2015 



(Tp  Cần Thơ) giai đoạn 2011  –  2015, tầm nhìn  đến năm 2020” và các bài viết khác của 

6.1 Phương pháp tiếp cận vấn đề 

các tác giả đăng tải trên tạp chí, báo, trang web  trong nước và quốc tế có liên quan. Tuy 

Để tiếp cận vấn đề, tác giả thực hiện thông qua các phương pháp chủ yếu như: 

nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc cả về lý luận cũng 

+  Tiếp  cận hệ  thống:  Trong quá  trình nghiên cứu  xác định  sản phẩm  chủ  lực  của 

như thực tiễn việc xác định và phát triển các sản phẩm công, nông, nghiệp và thủy sản chủ 

Đồng bằng sông Cửu Long, những loại hàng hóa, dịch vụ không có tính đặc thù hoặc tính 

lực thuộc vùng ĐBSCL. Với Luận án này, tác giả sẽ đi sâu nghiên cứu  và giải quyết vấn 

đặt thù không cao, tác giả đặt chúng trong mối quan hệ hỗ tương với hàng hóa, dịch vụ 

đề bức xúc đó nhằm góp phần phát triển nền kinh tế ĐBSCL một cách bền vững. 

cùng  loại  trong  cả  nước.  Nghĩa  là  xem  hàng  hóa,  dịch  vụ  đó  của  Đồng  bằng  sông  Cửu 

5. Tính mới của Luận án 
So với các công trình nghiên cứu cũng như  chương trình phát triển sản phẩm chủ 
lực của các địa phương đã nêu trên, Luận án này có những điểm mới cơ bản sau: 
1) Hoàn thiện hơn về mặt cơ sở lý luận đối với sản phẩm chủ lực cũng như phương 
pháp  xác  định  sản phẩm  chủ  lực  để  vận dụng  vào  giải quyết  các  vấn  đề  có  tính  lý luận 


được sử dụng phổ biến trong giai đoạn này là: Khảo sát thực tế tại các địa phương, thảo 

đó, Luận án cũng chứng minh tính chủ lực không thể chối cải của các sản phẩm này bằng 

luận nhóm; Thảo luận tay đôi; Quan sát  ... 

một số chỉ tiêu định lượng quan trọng. 

6.3 Phương pháp nghiên cứu định lượng 

4) Dựa trên Bộ tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực đã xây dựng, Luận án thực hiện 

Các chỉ tiêu định lượng để đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm chủ lực như: 

việc xem xét, tính toán và cân nhắc đối với từng loại sản phẩm hàng hóa, dịch vụ có triển 

Hệ số lợi thế hiển thị ngành (RCA); Hệ số thương mại ròng (NTR); Hệ số địa phương hóa 

vọng  trong  vùng  để  từ  đó  lập  ra  bảng  Danh mục  những  sản  phẩm  chủ  lực  ĐBSCL  đến 

(LQ); Hệ số bảo hộ hiệu dụng (EPR); Hệ số chi phí nguồn lực trong nước (DRC)...

năm 2020.




10 


chủ  lực  trong  phát  triển  kinh  tế  vùng,  địa  phương;  các  lý  thuyết  có  liên  quan  và  kinh 
nghiêm phát triển sản phẩm chủ lực ở một số quốc gia và địa phương trong nước. 
Chương  2:  Thực  trạng  xác  định  và  phát  triển  sản  phẩm  chủ  lực  Đồng  bằng 
sông Cửu Long thời gian qua 
Chương  này  chủ  yếu  thực  hiện  việc  phân  tích,  đánh  giá  thực  trạng  xác  định  sản 

Chương 2. THỰC TRẠNG  XÁC ĐỊNH SẢN PHẨM CHỦ LỰC VÀ 
PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM CHỦ LỰC ĐBSCL THỜI GIAN QUA 

phẩm và phát triển sản phẩm chủ lực ở ĐBSCL thời gian qua. Đưa ra nhận xét ưu, nhược 
điểm trong việc xác định  sản phẩm chủ lực của các địa phương trong vùng để làm cơ sở 
cho việc tiến hành xác định sản phẩm chủ lực cấp vùng đến năm 2020. 

Đánh  giá  tiềm  năng 
phát  triển  sản  phẩm 
chủ lực ĐBSCL 
­ Vận dụng mô hình 
kim cương (M.Porter) 
và các lý thuyết đã 
khác trình bày 

Thực  trạng  phát  triển 
sản phẩm chủ lực 
­ Lĩnh vực nông nghiệp 
và thủy sản 
­ Lĩnh vực công nghiệp 
­ Lĩnh vực thương mại 
và dịch vụ 

Thực  trạng  xác  định 

ĐBSCL 2006­2010 
­  Sản phẩm chủ lực 
ĐBSCL đến năm 2020 

Giải  pháp  triển  sản 
phẩm chủ lực  ĐBSCL 
­ Giải pháp phát triển 
sản phẩm chủ lực 
ĐBSCL đến 2020

CHỦ LỰC VÀ PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM CHỦ LỰC 
1.1. Tổng quan về sản phẩm chủ lực và phát triển sản phẩm chủ lực 
1.1.1. Định nghĩa về sản phẩm chủ lực 
1.1.1.1. Một số quan điểm khác nhau về sản phẩm vụ chủ lực


11 

Quá trình phát triển kinh tế của các nước trên thế giới luôn gắn liền với sự trỗi dậy 
của những ngành hàng hoặc sản phẩm có lợi thế cạnh tranh. Những ngành hoặc sản phẩm 

12 

số: 21/2001/QĐ­bKHcnmt về việc “Ứng dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất các sản 
phẩm xuất khẩu và sẩn phẩm chủ lực”) [1]. 

này đã trở thành yếu tố dẫn đạo tăng tưởng và phát triển kinh tế của quốc gia hoặc vùng 

+ Kế đến là Chương trình "Phát triển các sản phẩm công nghiệp chủ lực của Tp Hồ 


mạnh, chiếm tỷ trọng kim ngạch cao hoặc có vị trí chiến lược trong phát triển kinh tế của 

ở  mức  cao  và  thuộc nhóm sản  phẩm  xuất  khẩu  chủ  lực  với  tỷ  trọng  đóng góp vào  tổng 

đất nước. Gần đây, khái niệm này được sử dụng khá phổ biến và đã trở thành thuật ngữ 

GDP công nghiệp lớn (Quyết định số 03/2006/QĐ­UB) [17]. 

kinh tế quen thuộc không những với các nhà quản lý mà còn với cả các doanh nghiệp và 

+  Cùng  một  quan  niệm  với  Tp  Hồ  Chí  Minh  và  Tp  Hà  Nội,  tỉnh  Đồng  Nai  với 

nhà nghiên cứu. Tuy nhiên, cách hiểu về sản phẩm chủ lực của mỗi người, mỗi địa phương 

“Chương trình phát triển các sản phẩm công nghiệp chủ lực của tỉnh Đồng Nai giai đoạn 

lại có những điểm khác nhau khá rõ rệt. Dưới đây là những điểm khác nhau điển hình khi 

2006­2010” cũng tập trung giới hạn ở “Sản phẩm công nghiệp chủ lực” và cho rằng, sản 

nói về sản phẩm chủ lực. 

phẩm công nghiệp chủ lực phải là sản phẩm đóng vai trò then chốt, quyết định đối với việc 

v  Thể hiện trong các chủ trương, chính sách nhà nước 

thực  hiện các mục  tiêu, nhiệm  vụ đặt  ra  trong  một  thời kỳ  nhất định.  Đây  là  những  sản 

+ Trước hết là khái niệm “sản phẩm chủ lực” của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi 


quyết  định  đến  phạm  vi  toàn  cục.  Đặc  trưng  của  chủ  lực  là  tập  trung  với  số  lượng  lớn, 

+ Với GS.TS Võ Thanh Thu, Giảng viên trường Đại học Kinh tế Tp Hồ Chí Minh, 

được huấn luyện chính qui, chuyên nghiệp, trang bị hiện đại và có khả năng cơ động tác 

Chuyên  gia  nghiên  cứu  khu  công  nghiệp,  trong  một  bài  viết  của  mình  cũng  đã  sử  dụng 

chiến trên diện rộng. 

khái niệm “sản phẩm chủ lực” và cho rằng nó phải có các đặc trưng như: Phải có tương lai 

Vậy sản phẩm chủ lực là gì? Có thể nói, sản phẩm trong Luận án này là khái niệm 

phát  triển  mạnh  về  công  nghệ,  có  khả  năng  cạnh  tranh  trên  thị  trường  quốc  tế  và  trong 

dùng để chỉ sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ được thương mại hóa, tức  là sản phẩm hữu 

nước; Phải khai thác được lợi thế của địa phương , là đặc trưng cho địa phương; Phải có 

hình hoặc vô hình được sản xuất và cung ứng nhằm mục đích thương mại. Khái niệm sản 

tính lan tỏa, kích thích các ngành khác, sản phẩm khác phát triển; Phải là những mặt hàng 

phẩm ở đây còn được mở rộng đến ngành hàng hay một nhóm các sản phẩm có cùng tính 

mang hàm lượng chất xám cao, cũng như có khả năng xuất khẩu cao; Có thể là hữu hình 

năng, mục đích sử dụng hay qui trình công nghệ sản xuất. Ví dụ, ngành hàng thực phẩm 


products của Seaprodex gồm: Fresh (cá tươi), Frozen (đông lạnh), Processed (chiến biến), 

Như vậy, trong thực tế nghiên cứu cho thấy, ở mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ và mỗi 

Canned (đóng hộp)... 

thời  kỳ khác  nhau  việc nhận  thức  về  sản  phẩm  chủ  lực  có  khác nhau.  Chính  từ  sự nhận 

­ Key products: Sản phẩm chủ yếu của công ty. Ví dụ sản phẩm chủ  yếu của Công 

thức khác nhau như vậy mà việc lựa chọn sản phẩm chủ lực và chính sách hỗ trợ phát triển 

ty TNHH điện tử Nam Phương gồm có: Design and install all of Distributor Board (Thiết 

sản phẩm chủ lực ở mỗi địa phương thời gian qua cũng có khác nhau. Tuy nhiên, có một 

kế và cài  đặt tất  cả  các bảng  phân  phối  điện),  Control  Board  (Bảng  kiểm  soát  điện), 

vấn đề mà mọi quốc gia, vùng lãnh thổ và mọi thời đại đều thống nhất với nhau chính là 

Electric  Box  (Hộp  điện), Capacitor  Bank  medium  and  low  Voltage  (Tụ  bù  trung  áp  và 

lợi ích của việc xét chọn sản phẩm chủ lực, đồng thời xem việc tìm ra sản phẩm chủ lực để 

thấp áp)…. 

tập  trung  đầu  tư  phát  triển  là  nhiệm  vụ  có  tính  chiến  lược  đối  với  mỗi  quốc  gia,  địa 

­ Major Products: Sản phẩm chính của công ty, doanh nghiệp hay quốc gia. Ví dụ 


­ Key sectors: Ngành hàng hoặc lĩnh vực sản xuất quan trọng, chủ yếu của một địa 

đội”  chủ lực...Lực lượng  này  được  sử  dụng  khi  cần  giải  quyết  các mục  tiêu  chiến lược,

phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia. Ví dụ, để qui hoạch phát triển Ấn Độ đã xác định có


15 

16 

các key sectors như: Agriculture (Nông nghiệp); Commerce & Industries (Công nghiệp và 

Có thể nói, sản phẩm chủ lực là những sản phẩm có sự liên hệ mật thiết với nhiều 

thương mại); Finance (Tài chính); Communication & IT (Công nghệ thông tin và truyền 

ngành hàng hay sản phẩm khác, ảnh hưởng trực tiếp lên các sản phẩm, ngành hàng khác 

thông); Education (Giáo dục); Health & Family welfare (Y tế và phúc lợi gia đình).... 

và lôi kéo chúng cùng phát triển theo. Mặt khác, quá trình phát triển của sản phẩm chủ lực 

Từ những  kết  quả phân tích đã  trình bày ở phần  trên,  có  thể nhận diện  sản phẩm 

cũng thường xuyên chịu sự tác động bởi các ngành hàng hoặc sản phẩm khác. Sự liên hệ 

chủ  lực  thông qua định  nghĩa như  sau:  “Sản  phẩm  chủ  lực  là  sản  phẩm hàng hóa  hoặc 

này được thể hiện thông qua các mối liên hệ chuỗi giá trị (sự kết nối liên tiếp về mặt công 


cạnh tranh khó lòng bắt chước vì thiếu những điều kiện mang tính  lợi thế cạnh tranh của 

để trao đổi mua bán với khối lượng lớn và đạt được độ đồng nhất cao. Nói cách khác, hàng 

quốc  gia hay  vùng  lãnh  thổ  (vị  trí địa  lý,  tài nguyên  thiên nhiên,  lao động…).  Ngoài  ra, 

hóa chủ lực phải được sản xuất theo qui mô tập trung, công nghiệp với công nghệ tiên tiến 

nhiều  sản phẩm chủ lực còn là  biểu tượng văn hóa của quốc gia  hay vùng lãnh thổ, góp 

nên có thể đảm bảo được khối lượng cung ứng lớn cho thị trường đồng thời chất lượng, 

phần tạo nên thương hiệu quốc gia trên thị trường quốc tế. 

mẫu mã  kiểu dáng  và  các tính năng  khác phải  giống nhau  giữa  các  cá  thể.  Rõ  ràng,  sản 

5) Sản phẩm có tính an toàn và thân thiện với môi trường 

phẩm không thể trở thành chủ lực nếu chỉ sản xuất nhỏ lẻ, manh mún với phương pháp thủ 

Sản phẩm chủ lực nhất thiết phải là sản phẩm mà trong quá trình khai thác nguyên 

công, mang tính cá biệt cao. Bởi, nếu như vậy không thể có được thị trường rộng lớn, mãi 

liệu, sản xuất, tồn tại, sử dụng và sau khi thải bỏ  không gây hại hoặc ít gây hại hơn cho 

lực yếu, sức cạnh tranh không cao. 

môi trường so với sản phẩm cùng loại và được các cơ quan chức năng của nhà nước hoặc 

cạnh tranh tốt trên phạm vi quốc tế để có thể tồn tại và phát triển một cách bền vững. 

Bảng 1.1. Điểm khác nhau giữa Luận án với các tài liệu về sản phẩm chủ lực 

3) Sản phẩm có sức lan tỏa mạnh 


Khái niệm trong Luận án 
Tác giả tổng hợp và chọn lọc từ các định nghĩa trong nhiều tài liệu đã có

Các khái niệm trước đây


17 

Nêu  bật  mục  đích  chính  của  sản  phẩm  Chỉ  cho  biết  sản  phẩm  nói  chung  chứ  chưa 
được  tạo  ra  là  để  trao  đổi  mua  bán,  đặc  thể hiện rõ mục đích tạo ra là để trao đổi mua 
biệt là mua bán quốc tế. 

bán, nhất là mua bán quốc tế. 

18 

2) Xác định đúng sản phẩm chủ lực cũng có nghĩa xác định đúng trung tâm lan tỏa, 
nguồn phát tác hấp lực từ tập trung chuyên môn hóa – hiện đại hóa sản xuất và cung ứng, 
có tác động lôi  kéo các ngành nghề liên quan, dịch vụ bổ trợ phát triển. 
Xác định đúng sản phẩm chủ lực nghĩa là đã xem xét một cách đầy đủ  các ngành 

Xác định rõ sản phẩm của vùng, miền dựa  Xác định sản phẩm của địa phương, dựa vào 
trên  tiềm  năng,  lợi  thế  chung  của  vùng,  điều kiện sản xuất đặc thù của địa phương và 

thổ có ý nghĩa rất quan trọng. Cụ thể: 
1)  Xác định  đúng  sản phẩm chủ  lực đồng nghĩa  với  việc  xác  định  được  năng  lực 
cạnh  tranh  cốt  lõi  của  quốc  gia,  vùng  lãnh  thổ…,  để  từ  đó  có  chính  sách  đầu  tư  đúng 
hướng, tập trung và có chiều sâu. 
Xác định đúng sản phẩm chủ lực là cơ sở để tập trung nguồn lực, ưu tiên hỗ trợ đầu 
tư  phát  triển  một  cách  có  trọng  tâm,  trọng  điểm  và  theo  chiều  sâu  trên  cơ  sở  lợi  thế  so 
sánh, không dàn trải làm lãng phí vốn đầu tư. Qua đó, tạo ra sự chuyển biến rõ rệt về năng 
suất, chất lượng, hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh cho từng loại sản phẩm và qua 
đó  tạo môi trường  thuận lợi cho sản xuất phát triển, đảm bảo cho những sản phẩm được 
chọn có điều kiện phát triển bền vững, đóng góp tích cực vào quá trình phát triển kinh tế ­ 
xã hội của địa phương và hội nhập kinh tế quốc tế.

3) Xác định đúng sản phẩm chủ lực cũng đồng nghĩa với việc định vị đúng nền kinh 
tế trong chiến lược cạnh tranh toàn cầu. 
Sản phẩm chủ lực của quốc gia, vùng lãnh thổ hay địa phương thể hiện đẳng cấp, 
thực trạng và tương lai phát triển kinh tế của quốc gia, vùng lãnh thổ và địa phương đó. 
Căn cứ vào định vị này, các quốc gia, vùng lãnh thổ và địa phương đẩy mạnh chuyển dịch 
cơ cấu kinh tế theo hướng phù hợp và hiệu quả nhất, nhằm góp phần giải quyết các bất ổn 
kinh tế vĩ mô và đảm bảo tăng trưởng một cách bền vững. 
4)  Xác  định  đúng  sản  phẩm  chủ  lực  cũng  có  nghĩa  là  xác  định  đúng  đối  tượng 
khách hàng và  thị  trường  tiêu  thụ để  tăng  cường áp  dụng  các hệ  thống quản  lý  và thực 
hành chất lượng phù hợp. 
Để đối mặt với sự cạnh tranh mang tính quốc tế, các doanh nghiệp phải tạo ra được 
những sản phẩm bảo đảm chất lượng, thương hiệu và uy tín, được khách hàng ưa chuộng. 
Muốn vậy, các nhà sản xuất phải đầu tư đổi mới máy móc, thiết bị và công nghệ sản xuất 
tiên tiến, hiện đại cũng như áp dụng các phương pháp quản lý chất lượng một cách toàn 
diện theo chuẩn quốc tế, đáp ứng với những đòi hỏi ngày càng cao của người tiêu dùng. 
1.1.3. Một số lý thuyết liên quan đến xác định và phát triển sản phẩm chủ lực 
1.1.3.1. Thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith (1723­1790) 
Adam  Smith được  coi  là  cha đẻ  của kinh  tế học hiện đại.  Tác phẩm  lớn nhất  của 

Nói một cách khác, các nước phát triển có lợi thế so sánh về giá thuê tư bản còn các nước 
đang phát triển có lợi thế so sánh về giá thuê nhân công. 

phí cao hơn (do hạn chế về nguồn lực) có thể nhập sản phẩm đó từ nước khác có chi phí 

Quốc gia nào sản xuất hàng hóa có hàm lượng nhân tố đầu vào mà mình có lợi thế 

sản xuất thấp hơn (do có ưu thế về nguồn lực). Lợi thế này được xem xét từ hai phía, đối 

so sánh cao một cách  tương đối thì sẽ sản xuất được hàng hóa rẻ hơn tương đối và sẽ có 

với nước sản xuất sản phẩm có chi phí sản xuất thấp sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn khi 

lợi  thế  so  sánh  về  những hàng  hóa này.  Điều  này  lý  giải  vì  sao Việt  Nam lại xuất 

bán trên thị trường quốc tế. Còn đối với nước sản xuất sản phẩm với chi phí sản xuất cao 

khẩu nhiều  sản  phẩm  thô  hoặc  sơ  chế  như  dầu  thô, than  đá,  thủy  sản  đông  lạnh...  hoặc 

sẽ có được sản phẩm mà trong nước không có khả năng sản xuất hoặc sản xuất không đem 

hàng hóa có hàm lượng nhân công cao như dệt may, giày dép... còn nhập khẩu máy móc, 

lại hiệu quả. Điều này gọi là bù đắp sự yếu kém về khả năng sản xuất trong nước. 

thiết bị từ các nước phát triển [3]. 

Ngày  nay,  đối  với  các  nước  đang  phát  triển  như  Việt  Nam  việc  khai  thác  lợi  thế 

1.1.3.3. Thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia của Micheal E. Porter (1772­1823) 


thì không một quốc gia nào có được khả năng cạnh tranh ở tất cả các ngành hoặc ở hầu hết 

1.1.3.2. Thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo (1772­1823) 

các ngành mà chỉ có thể thành công trên thương trường kinh doanh quốc tế khi họ có lợi 

Học thuyết lợi thế so sánh của D. Ricardo nghiên cứu sự trao đổi hàng hóa giữa các 

thế cạnh tranh bền vững trong một số ngành nào đó. Theo ông, khả năng cạnh tranh của 

quốc gia dựa trên nền tảng học thuyết về giá trị lao động. Theo học thuyết này thì ngoại 

một quốc gia ngày nay lại phụ thuộc vào khả năng sáng tạo và sự năng động của ngành 

thương  có  lợi  cho  mọi  quốc  gia  miễn  là  xác  định  đúng  lợi  thế  so  sánh.  Nghĩa  là  việc 

của  quốc  gia  đó. Khi nền  tảng  của  cạnh  tranh  càng  chuyển  dịch sang  sự  sáng  tạo  và  tri 

chuyên môn hóa của mỗi nước phải dựa trên lợi thế khi đối chiếu so sánh hao phí lao động 

thức mới  thì vai  trò  của quốc  gia càng  tăng lên. M.  Porter  cho  rằng  các nền  kinh  tế đều 

cho mỗi đơn vị sản phẩm giữa các quốc gia. Muốn xác định lợi thế so sánh ta phải xác lập 

phải trải qua 3 giai đoạn phát triển cạnh tranh, đó là: cạnh tranh dựa vào yếu tố sản xuất, 

lợi thế tuyệt đối. Toàn bộ phân tích của D. Ricardo về lợi thế so sánh thực chất dựa trên sự 

cạnh  tranh dựa vào đầu tư, cạnh tranh dựa vào đổi mới và sáng tạo. Các giai đoạn cạnh 

sử dụng hiệu quả nguồn lực, nâng cao năng suất và vị thế cạnh tranh. 

Michael E. Porter, 2008) [21]. 

Hình 1.1 Các giai đoạn phát triển cạnh tranh của Porter 
Nền kinh tế định 
hướng yếu tố 

Nền kinh tế định 
hướng đầu tư 

Nền kinh tế định 
hướng sáng tạo 

Hiệu quả nhờ 
chi phí đầu vào 

Hiệu quả nhờ 
đầu tư mạnh 

Hiệu quả nhờ 
đổi mới

Hình 1.2  Mô hình Kim cương trong năng lực cạnh tranh của M. Porter 
SỰ 
NGẪU 
NHIÊN 

CHIẾN LƯỢC 
CÔNG TY, CẤU 

số ưu thế vượt trội về sản phẩm so với các đối thủ cạnh tranh. Lợi thế cạnh tranh quốc tế 
giúp  cho  các  doanh  nghiệp  có  được  “Quyền  lực  thị  trường”  để  thành  công  trong  kinh 
doanh  quốc tế.  Theo  Michael.E Porter,  lợi  thế  cạnh  tranh  của quốc  gia,  địa phương hay 
vùng lãnh thổ có ảnh hưởng quyết định đến năng lực cạnh tranh của ngành và sản phẩm. 
Một quốc gia, vùng lãnh thổ có lợi thế cạnh tranh  tốt sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh cho các 
ngành và doanh nghiệp thông qua việc sản xuất và cung ứng những sản phẩm ưu việt hơn 
so với các quốc gia và vùng lãnh thổ khác. Ông cho rằng, bí quyết mà một quốc gia gặt hái 
được sự thành công quốc tế trong một ngành nhất định nằm trong bốn thuộc tính lớn của 
một  quốc  gia.  Bốn  thuộc  tính  này  định  hình  nên  môi  trường  cạnh  tranh  của  các  doanh 
nghiệp trong nước, thúc đẩy hay kìm hãm việc tạo lập lợi thế cạnh tranh và được coi là các 
yếu tố quyết định của mô hình, là các điều kiện về các yếu tố sản xuất, điều kiện về cầu, 

Nguồn: Lợi thế cạng tranh quốc gia của Michael M. Porter 
Qua mô hình  kim  cương,  Michael  M. Porter đưa ra 4  yếu  tố  quyết  định  năng  lực 
cạnh tranh và 2 yếu tố chi phối các yếu tố quyết định của một ngành bao gồm: 
v  Các yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của ngành: 
+  Chiến  lược  công  ty,  cấu  trúc  và  cạnh  tranh  nội  địa.  Những  điều  kiện  kinh  tế, 
chính trị xã hội của một quốc gia ảnh hưởng quan trọng đến việc tổ chức và quản lý doanh 
nghiệp cũng như đặc tính của cạnh tranh trong nước. 
+  Các  điều kiện  về  phía  cầu.  Thị  trường  trong  nước  với  số  cầu  lớn và  có những 
khách hàng đòi hỏi cao và những cạnh tranh trong ngành khốc liệt hơn sẽ tạo ra khả năng 
cạnh tranh cao hơn cho doanh nghiệp trên thị trường quốc tế. 
+ Điều kiện về các yếu tố sản xuất. Bao gồm chất lượng lao động, vốn rẻ, cơ sở hạ 
tầng mạnh và công nghệ cao trong khu vực hay quốc gia sẽ ảnh hưởng đến tính cạnh tranh 
của ngành, của khu vực và của cả quốc gia. 
+ Các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan. Năng lực cạnh tranh của một ngành 
phụ thuộc vào các nhà cung cấp các hàng hoá và các dịch vụ hỗ trợ. 


23 


nhưng  sau  đó đã  nhận  ra sự  thích  hợp  cho  các cụm  vùng  kinh  tế  trong nội bộ quốc gia. 

tính chất định hướng nhu cầu như quy định tiêu chuẩn đối với từng mặt hàng trong ngành, 

Một cụm giống như chuỗi giá trị trong sản xuất hàng hoá, dịch vụ, trong đó các ngành sản 

các biện pháp kích thích hoặc kiềm hãm nhu cầu đối với một loại sản phẩm nhất định.

xuất được liên kết với nhau bởi dòng hàng hoá và dịch vụ mạnh hơn dòng liên kết chúng 

·  Đối với cơ cấu và môi trường cạnh tranh, sự tác động của chính phủ thể hiện 
thông qua những quy định về thị trường tín dụng, chính sách thuế và các quy định về cạnh 
tranh trong sản xuất, kinh doanh của ngành hàng cụ thể. 
+ Sự ngẫu nhiên hay vai trò của cơ hội. Cơ hội là những sự kiện xảy ra ít liên quan 
đến tình trạng sản xuất, kinh doanh hiện tại của ngành hàng nào đó tại quốc gia. Những cơ 
hội có thể đến với mặt hàng có thể là: những cuộc khủng hoảng  kinh tế,  thiên tai, chiến 
tranh ở các quốc gia, khu vực trên thế giới; sự tiến bộ về công nghệ sinh học; sự bãi bỏ các 
hàng  rào  thuế  quan  hay  phi  thuế  quan  của  chính  phủ  các  nước  đối  với  mặt  hàng  nào 
đó…làm nhu cầu ở những nơi này tăng lên, đẩy giá cả thế giới lên cao hay ngược lại. 

với phần còn lại của nền kinh tế. Các quan hệ trong cụm được phân thành 3 loại: 
(1)  quan hệ  mua  ­  bán  bởi  sự  tập  trung  và  hội  nhập  dọc  giữa  quá  trình  sản  xuất 
chính với các đầu vào và phân phối hàng hoá và dịch vụ; 
(2) quan hệ giữa các đối thủ cạnh tranh và các đối tác nhằm khai thác thông tin về 
sản phẩm và qui trình, mở rộng sự cải tiến và các liên kết chiến lược; và 
(3) quan hệ giữa thị phần và nguồn tài nguyên bằng sự chia sẻ công nghệ, lực lượng 
lao động và thông tin. 
Việc sử dụng khái niệm cụm như là công cụ để hiểu được quá trình phát triển sản 
phẩm chủ lực ở cấp độ vùng và sự ảnh hưởng của nó đến việc định dạng và chuyển giao 

nhu cầu của các thế hệ tương lai...". Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm hài 

nhập thu nhập giữa thành thị và nông thôn. 

hòa giữa phát triển kinh tế hiệu quả với xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ. Để 
đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế ­ xã hội, nhà quản lý, các tổ chức xã hội... 
phải  bắt  tay  nhau  thực  hiện  nhằm  mục  đích  dung  hòa  3  lĩnh  vực  chính:  kinh  tế ­ xã 
hội và môi trường. 

2)  Liên quan đến yếu tố tài nguyên: Phát triển sản phẩm chủ lực trong giới hạn khả 
năng cho phép của tài nguyên, nguồn lực và hệ sinh thái. 
Phát triển sản phẩm chủ lực phải góp phần giảm sử dụng năng lượng hóa thạch, hạn 
chế sử dụng các hóa chất độc hại, giảm chất thải công nghiệp và làm sạch các khu vực bị ô 

Sản phẩm chủ lực và sự phát triển bền vững 

nhiễm, đồng thời ngăn ngừa việc sử dụng quá mức các nguồn tài nguyên tái tạo và nước; 

Quá trình toàn cầu hóa đi đôi với tự do hóa thương mại phát triển nhanh chóng nhờ 

chặn đứng phá rừng, xói mòn đất, rửa trôi chất màu và phá hủy hệ sinh thái, giảm đốt củi 

sự thúc đẩy bởi các tiến bộ của khoa học và công nghệ, đã làm thay đổi quan trọng diện 
mạo của đời sống kinh tế, chính trị và xã hội ở tất cả các nước. Quá trình này đã mang đến 
nhiều cơ hội cũng như thách thức mới với nguy cơ phát triển thiếu bền vững. Do vậy, việc 

và sử dụng phân gia súc. 
3) Liên quan đến yếu tố lợi nhuận: Phát triển sản phẩm chủ lực phải tạo ra giá trị 
một cách công bằng cho người tiêu dùng và các bên liên quan trong chuỗi giá trị. 



Nguồn: Theo thiết kế sản phẩm 

SẢN 
PHẨM 
CHỦ LỰC 

1)  Liên  quan 
người: Phát triển sản 
đáp  ứng  các  yêu  cầu 

hướng tới phát triển bền vững 

TÀI 
NGUYÊN 

LỢI 
NHUẬN 

về  xã  hội  và 

đến  yếu  tố  Con 
phẩm  chủ  lực  phải 
công bằng. 

Phát triển sản phẩm chủ lực sẽ góp phần tạo thêm việc làm cho người lao động ở

+ Nhóm tiêu chí cần: là những yếu tố nội tại của một sản phẩm cụ thể nào đó mà 
chúng có thể giúp sản phẩm đáp ứng được những đòi hỏi của xã hội, đặc biệt là đáp ứng 
được các mục tiêu của nhà quản lý như: có quy mô lớn, chiếm tỷ trọng cao, nộp ngân sách 

mức tối đa để có thể đưa ra kết quả khách quan, chính xác, nhưng trên thực tế không thể 

biết. Việc xây dựng và công bố này nhất thiết phải được thực hiện ngay từ khi ban hành 

quy tất cả các yếu tố kinh tế và xã hội thành các con số. Đó là chưa kể còn có nhiều biến 

chương trình hay qui định về hỗ trợ phát triển sản phẩm chủ lực của địa phương. [2], [8]... 

số khó lường có thể làm đảo lộn mọi tính toán. Chính vì vậy, cần thiết phải xây dựng cả 

1.2.1.3. Ý nghĩa của việc xây dựng tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực 

hai loại tiêu chí định tính và định lượng. Tiêu chí định lượng dựa trên các số liệu thống kê, 

Việc xây dựng tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực có ý nghĩa rất quan trọng cả về 

phân tích bằng các thuật toán, còn tiêu chí định tính  chủ  yếu dựa trên các yếu tố kinh tế, 
chính trị, xã hội được xác định bằng kiến thức, kinh nghiệm của các chuyên gia [37]. 

mặt giá trị vật chất lẫn giá trị tinh thần. Cụ thể: 
+ Tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực là thước đo giá trị nội tại và khách quan của 

Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cũng cần phải vận dụng linh hoạt, không cứng 

hàng hóa. Nó phản ảnh trung thực về khả năng đáp ứng những đòi hỏi của thị trường, của 

nhắc khi sử dụng các tiêu chí. Chẳng hạn, có tiêu chí về lý thuyết có thể định lượng như 

xã hội cũng như của nhà quản lý. Thông qua các tiêu chí đánh giá, người ta có thể nhận 


thể xây dựng dưới dạng định tính hoặc định lượng. Tuy nhiên, để bảo đảm rõ ràng, minh 

trị pháp lý, chi phối mọi hoạt động của các nhà sản xuất kinh doanh, nhà hoạch định chính 

bạch thì các tiêu chí cần được lượng hóa. Những tiêu chí không thể lượng hóa được như 

sách  và  nhà  quản  lý.  Để  phát  triển  sản  phẩm  chủ  lực,  các  nhà  sản  xuất  phải  điều  chỉnh 

chỉ  tiêu  đánh giá độ mạnh của  thương hiệu, biểu  trưng  văn hóa địa phương…thì cần  có 

công nghệ, tổ chức lại sản xuất và áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng hợp chuẩn. Sẽ 

tiêu chí trung gian khác làm cơ sở đánh giá. 

không  còn  tùy  tiện,  chủ quan xem  thường qui  chuẩn  thường  thấy  ở  đối  tượng này.  Nhà 

+ Tiêu chí phải bảo đảm tính khách quan, khoa học. Tiêu chí xác định sản  phẩm 
chủ lực được xây dựng dựa trên các số liệu, dữ kiện khách quan, không áp đặt theo cảm 
tính hay ý chí chủ quan của bất kỳ ai. Đồng thời nó còn phù hợp với qui luật vận động của 
các yếu tố kinh tế, xã hội – văn hóa.

hoạch định chính sách và nhà quản lý sẽ lấy đó làm mục tiêu để định ra các biện pháp tổ 
chức thực hiện thích hợp. 
+  Tiêu  chí  xác  định  sản  phẩm  chủ  lực  là  một  bản  tuyên  ngôn  về  chất  lượng  của 
hàng hóa,  thể  hiện  sự  cam  kết  về  trách  nhiệm  của doanh nghiệp, nhà  sản  xuất với  cộng


29 

30 


cả  các  lĩnh  vực  của nền  kinh  tế của  một quốc  gia).  Thông qua hệ số này,  người  ta thấy 

và tầm nhìn của doanh nghiệp [2], [8], [16], [17], [37].... 

được mức độ tập trung chuyên môn hóa của một ngành hay sản phẩm nào đó tại một vùng, 

1.2.1.4. Nội dung các tiêu chí 

miền hay địa phương so với mức độ tập trung chuyên môn hóa ngành, sản phẩm đó của 

Xuất phát từ các vấn đề đã bàn luận trên đây, có thể thấy việc xác định sản phẩm 

vùng lớn hơn hay trên cả nước ((Maggioni và Riggi năm 2008). 

chủ lực của quốc gia, địa phương hay vùng lãnh thổ  cần dựa trên các tiêu chí định lượng 

Hệ số địa phương hóa được thể hiện theo công thức: 

và định tính sau đây: 

LQ ir  = 

v  Nhóm tiêu chí định lượng: 
Có  tác  dụng đánh  giá  khả  năng  sản  xuất,  mức  đóng  góp  vào  tăng  trưởng  kinh  tế 

X ir  / X Ir 
X iR  / X IR 

(1.2)


Solvell  et  al,  2009).  Tiêu  chí  này  còn  phản  ảnh  tầm  quan  trọng  của  sản  phẩm  chủ  lực 

vùng, miền hay địa phương đang xét có tiềm năng đặc biệt phát triển sản phẩm i để cạnh 

thông qua sự đóng góp giá trị của nó vào thành tích chung của cả vùng, miền, địa phương. 

tranh toàn cầu (Florida State University, 2010). 

Tỷ trọng này được tính theo công thức : 

R OV

OV P 

x 100 
OV R 

Trong đó :
·  OVP : Giá trị sản lượng của sản phẩm chủ lực
·  OVR : Tổng giá trị sản lượng của toàn vùng 

(3) Tốc độ tăng trưởng của sản phẩm trong vùng (Grw). 
(1.1)

Tiêu chí này cho biết mức độ tăng trưởng về sản lượng, giá trị sản lượng hoặc giá 
trị gia tăng của sản phẩm chủ lực. Nó phản ảnh khả năng và triển vọng phát triển của hàng 
hóa chủ lực trong tương lai. 
Tốc độ tăng trưởng của sản phẩm có thể nhận được từ số báo cáo hàng năm của địa 
hoặc tính theo công thức : 


Trong đó :
·  EXP : Giá trị xuất khẩu của sản phẩm chủ lực
·  EXR : Tổng giá trị xuất khẩu của toàn vùng 
Nếu tỷ trọng này càng cao chứng tỏ tính chủ lực của sản phẩm đang xét càng mạnh 
vì nó ảnh hưởng lớn đến thành tích xuất khẩu chung của toàn vùng. 

(4) Hệ số vượt trội của sản phẩm (C Grw ). 

(6) Hệ số lợi thế so sánh hiện hữu nội địa (RCA D ) 

Tiêu chí này phản ảnh khả năng vượt trội của hàng hóa chủ lực đối với toàn ngành 

Là  chỉ  tiêu  phản  ảnh  khả  năng  cạnh  tranh  trong  xuất  khẩu  của  vùng  về  một  sản 

kinh tế. Nếu hệ số này càng cao chứng tỏ hàng hóa chủ lực đang xét giữ vai trò quyết định 

phẩm cụ thể trong mối tương quan với mức xuất khẩu của cả nước về sản phẩm đó. Nếu tỷ 

trong việc hình thành mức tăng trưởng chung cho toàn ngành. 

trọng  xuất  khẩu  của  vùng  về  sản phẩm  chủ  lực lớn hơn  tỷ trọng  sản phẩm cùng  loại đó 

Công thức xác định hệ số vượt trội có dạng : 

CGrw  = 

G RWi 
G RWs 


Trong đó: 
EX ir : Giá trị xuất khẩu sản phẩm i của vùng, địa phương r 
EXr: Tổng giá trị xuất khẩu của vùng, địa phương r 
EX iN : Giá trị xuất khẩu sản phẩm i của cả nước 
EXN: Tổng giá giá trị xuất khẩu của cả nước 
Nếu hệ số RCA D  lớn hơn 1 thì vùng hay địa phương đang xem xét được coi là có 
lợi thế  so  sánh  nội  địa  về sản phẩm  i.  Hệ  số này  càng  cao  thì lợi  thế  so  sánh càng  cao. 
Ngược lại, nếu RCAD  nhỏ hơn 1 thì vùng hay địa phương đang xem xét được coi là không 
có lợi thế so sánh nội địa về sản phẩm i. 
(7) Hệ số lợi thế so sánh hiện hữu thế giới của sản phẩm (RCAW) 
Là chỉ tiêu phản ảnh khả năng cạnh tranh trong xuất khẩu của quốc gia về hàng hóa 
chủ lực trong mối tương quan với mức xuất khẩu của cả thế giới về hàng hóa đó. Nếu tỷ 
trọng xuất khẩu của quốc gia về hàng hóa chủ lực lớn hơn tỷ trọng hàng hóa đó trong tổng 
xuất khẩu của cả thế giới thì quốc gia đó được coi là có lợi thế so sánh về hàng hóa đó. 


33 

34 

Công thức tính hệ số này như sau: 

RCA W  = 

Mức bảo hộ hiệu dụng làm tăng giá trị gia tăng trong nước và được tính toán bằng 

EX iN  / EX N 
EX iw  / X W 

công thức: 


quốc  tế  về  sản phẩm  i.  Hệ số  này  càng  cao  thì  lợi thế  so  sánh  càng  cao.  Ngược  lại, nếu 

bởi vì khi đó thuế nhập khẩu đối với ngành đó bằng 0, trong khi đó đầu vào sản xuất lại 

RCA W  nhỏ hơn 1 thì quốc gia đang xem xét được coi là không có lợi thế so sánh quốc tế 

phải chịu thuế nhập khẩu. Việc tính toán AVPD  và AVPW  cần dựa vào bảng cân đối liên 

về sản phẩm i. 

ngành  I/0. 

8) Hệ số thương mại ròng của sản phẩm (NTR) 

10) Hệ số chi phí nguồn lực trong nước (DRC) 

Là chỉ  tiêu phản  ảnh mối  tương  quan  giữa  xuất  và  nhập khẩu  của hàng hóa cùng 
loại với hàng hóa chủ lực. 

DRC là chỉ số thường được dùng để đánh giá lợi thế so sánh của ngành hàng thông 
qua  xem  xét  tính  hiệu  quả  của  nguồn  lực  trong  nước  được  sử  dụng  để  sản  xuất  ra  sản 

Công thức tính hệ số thương mại ròng: 

EX  - IM i 
NTR =  i 
EX i  + IM i 

phẩm. DRC biểu thị tổng chi phí của các nguồn lực trong nước được sử dụng tương ứng 

DIV i : Giá trị đầu vào nội địa trong một đơn vị sản phẩm i 

Hệ số bảo hộ hiệu dụng của một sản phẩm là chênh lệch giữa giá trị gia tăng tính 

FIVi: Giá trị đầu vào nhập khẩu trong một đơn vị sản phẩm i 

(1.10 
)

theo  giá  trong  nước  của ngành  sản phẩm đó và  giá trị gia  tăng  tính theo  giá  thế  giới  rồi 

P i : Giá nhập khẩu của một đơn vị sản phẩm i (tính theo giá nội địa) 

chia cho giá trị gia tăng tính theo giá thế giới. ERP Là chỉ tiêu phản ảnh mức độ bảo hộ 

Hệ số DRC>1 có nghĩa là phải tốn hơn 1 đồng chi phí nguồn lực trong nước để tạo 

trong nước đối với hàng hóa chủ lực hoặc nguyên liệu đầu vào sản xuất hàng hóa chủ lực 
thông qua thuế quan. 

ra 1 đồng giá trị gia tăng theo giá thế giới, nên không hiệu quả. [10], [43], [46] 
v  Nhóm tiêu chí định tính: 


35 

Là các tiêu chí khó lượng hóa mà chỉ có thể dễ dàng thu thập thông tin thông qua 
các phương pháp định tính như phỏng vấn, khảo sát.... 
Nhóm này có 5 tiêu chí gồm: 



với  quá  trình  sản  xuất  và  cung  ứng hàng hóa  chủ  lực.  Ngành công nghiệp  hoặc dịch  vụ 

tiêu chí cụ thể; là cơ sở xem xét mức độ đạt được về mặt định lượng của một yếu tố nào 

phụ trợ càng đa dạng và phát triển thì hàng hóa chủ lực càng có điều kiện phát triển tốt. 

đó. Do mỗi tiêu chí có mức độ quan trọng khác nhau nên khi xây dựng thang điểm chuẩn 

(3) Mức độ lan tỏa đến các lĩnh vực, ngành nghề khác 

cho mỗi tiêu chí, cần tiến hành theo phương pháp chuyên gia thông qua phỏng vấn bằng 

Chỉ  tiêu này lại  cho biết  sự  phát  triển  của hàng  hóa  chủ  lực  sẽ  có  lợi  cho  những 

bảng câu hỏi để thu thập thông tin, xử lý và tìm ra trọng số cho mỗi tiêu chí. 

ngành nghề nào trong nền kinh tế. Mức độ lan tỏa càng lớn chứng tỏ vai trò của hàng hóa 

Nếu gọi i (i=1,2,3,4,5...n), là các phương án trả lời cho mỗi câu hỏi trong thang đo 

chủ  lực  càng  quan  trọng  bởi  sự  tồn  tại  và phát  triển  của  hàng  hóa  chủ  lực đã  góp  phần 

và cũng là trọng số của phương án lựa chọn; tỷ lệ người chọn trả lời phương án là r (r=% 

quan trọng cho sự phát triển của nền kinh tế trong vùng. 

của số người tham gia trả lời); vậy, trọng số của một tiêu chí cụ thể nào đó chính là ∑ir. 

(4) An toàn và thân thiện với môi trường 

t =1  i =1 

1.2.2. Qui trình xác định sản phẩm chủ lực 

1.2.1.5 Xây dựng khung thang điểm và xác định điểm chuẩn tối đa cho tiêu chí 

Như phân tích ở phần trên, đánh giá và xét chọn sản phẩm chủ lực là một việc làm 

Xây dựng hệ thống các tiêu chí để xác định sản phẩm chủ lực là việc làm cần thiết, 

cực  kỳ  trọng đối  với mỗi địa phương, doanh nghiệp.  Nó  góp  phần nâng  cao  vị  thế  cạnh 

có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và là cơ sở để xem xét các yếu tố lợi thế cạnh tranh, tiềm 

tranh và bảo đảm sự tồn tại, phát triển một cách bền vững của mỗi địa phương cũng như 

năng, nguồn lực cũng như các yếu tố liên quan đến điều kiện và môi trường kinh doanh 

doanh  nghiệp.  Chính  vì  vậy  mà  việc  đánh  giá,  lựa  chọn  sản  phẩm  chủ  lực  đòi  hỏi phải 

khác. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở đó thì chưa đủ, vì chưa có cơ sở định lượng để xác

được tiến hành một cách nghiêm túc, khách quan và khoa học. 


37 

38 

Qua nghiên cứu qui trình đánh giá, xét chọn sản phẩm của các địa phương tác giả 

Thiếu chuẩn 

khẩu…phối hợp thực hiện. 
+ Xây dựng các chính sách hỗ trợ phát triển sản phẩm chủ lực của vùng. Một sản 

Không đủ chuẩn 

LOẠI 
BỎ 

phẩm  có thể chưa trở thành chủ lực của vùng do còn thiếu các điều kiện hỗ trợ cần thiết 
như đầu tư, xây dựng và quảng bá thương hiệu…Do đó, các địa phương cần thống nhất 
xây dựng chính sách ưu tiên, hỗ trợ chung để sản phẩm đó trở thành chủ lực của vùng. 

HOÀN THIỆN 

Để đảm bảo tính hiệu lực khi thực thi, việc hoạch định chính sách phải được các cơ 
Đủ chuẩn 
GIAI ĐOẠN CÔNG 
NHẬN TÔN VINH

quan chức năng có thẩm quyền trong lĩnh vực tài chính, kế hoạch đầu tư, quản lý nhà nước 
về sản xuất kinh doanh phối hợp với bộ phận chỉ đạo chung xây dựng. 
+ Thiết kế các thủ tục đăng ký, mẫu biểu giấy tờ cần thiết. Cần hoàn thiện các qui 

Nguồn: Tác giả tổng hợp và xây dựng 
1) Giai đoạn chuẩn bị 
Trong giai đoạn này, các địa phương thực hiện bước 1 của qui trình với công việc 
chủ yếu là chuẩn bị về thủ tục mang tính pháp lý trên cơ sở phân tích điều kiện thực tế của 
vùng cũng như của từng địa phương như: 

4) Giai đoạn công nhận và tôn vinh sản phẩm chủ lực 

tham  gia  Chương  trình,  bộ  phận  chỉ  đạo  có  trách  nhiệm  tổng  hợp,  phân  loại  theo  từng 

Với bước cuối cúng này, Ban  chỉ đạo căn cứ đề nghị của Hội đồng chuyên ngành 

nhóm ngành kinh tế ­ kỹ thuật và lên kế hoạch kiểm tra, khảo sát thực tế tại doanh nghiệp, 

sẽ,  xem  xét  ra  quyết  nghị  công  nhận  sản phẩm  chủ  lực  của  vùng.  Quyết  nghị  này phải 

sau đó lên “Danh sách sản phẩm có triển vọng” để tiếp tục xem xét, hỗ trợ.

được UBND các địa phương phê duyệt và thông qua. Đây là căn cứ pháp lý để các doanh 

·  Sàng lọc doanh nghiệp có năng lực. Cũng trên cơ sở Phiếu đăng ký tham gia 

nghiệp và nhà sản xuất hưởng hỗ trợ theo các cơ chế đặc thù của địa phương mình. Bên 

của các doanh nghiệp, đồng thời căn cứ vào các điều kiện qui định ban đầu để tiến hành 

cạnh đó, các sản phẩm chủ lực còn được tôn vinh và công bố, giới thiệu rộng rãi trên các 

sàng lọc, chọn ra các doanh nghiệp có năng lực tham gia chương trình 

phương tiện thông tin đại chúng của Trung ương cũng như địa phương [2], [8], [16], [17].. 

Danh  sách  các  doanh  nghiệp  có  năng  lực  và  Danh  mục  sản  phẩm  có  triển  vọng 
tham gia chương trình nhất thiết phải được các địa phương thông qua và phê duyệt. 
3) Giai đoạn tổ chức đánh giá, xét chọn 


sang  giai đoạn  4  (Bước 5.  công nhận  và  tôn vinh  sản phẩm  chủ  lực  của  vùng  và đầu  tư 

hết là phải có những chính sách tác động mạnh mẽ vào công nghiệp chế biến nông, lâm 

phát triển bền vững). 

sản. Chính phủ cũng đã tiến hành cải tổ lại khu vực kinh tế đồn điền nhằm mục đích tư 

Phương án 2: Sản phẩm chủ lực không đạt yêu cầu theo điểm chuẩn quy định  (cả 
điều kiện cần và điều kiện đủ) thì bị loại ra khỏi Danh sách các sản phẩm có triển vọng. 

nhân hóa một bộ phận quan trọng đồn điền của Nhà nước, thu hút đầu tư của tư bản nước 
ngoài để mở rộng diện tích trồng cây công nghiệp cung cấp nguyên liệu cho chế biến xuất 

Phương án 3: Sản phẩm chưa đủ điểm chuẩn theo qui định nhưng đã đảm bảo được 

khẩu… Chính phủ khuyến khích tư bản tư nhân trong nước tham gia kinh doanh đồn điền 

các điều kiện cần thì chuyển sang bước 4 (đầu tư hỗ trợ để bổ sung điều kiện đủ), sau đó 

trên  cơ  sở  Nhà  nước  cho  vay  vốn  với  lãi  suất  thấp,  miễn  giảm  thuế  kinh  doanh  và  cho 

sẽ xem xét đánh giá lại để quyết định chuyển sang giai đoạn 4 để công nhận, tôn vinh hoặc 

phép  phối  hợp  với  Nhà  nước  để  thực  hiện  hợp  đồng  xuất  khẩu.  Từ  năm  1968, khuyến 

loại bỏ ra khỏi Danh sách sản phẩm có triển vọng. 

nông  được Indonesia  xác  định  là  nhiệm  vụ quan  trọng  hàng  đầu. Trong  đó,  việc  cung 



Trong thời kỳ 1985­1996, Indonesia tập trung phát triển sản xuất và xuất khẩu dầu cọ, cao 

chức thành  các đồn rộng lớn.  Ngay  từ  thập kỷ  60,  Philippines  đã  tiến hành  cuộc  cách 

su, sắn, hoa, trái cây, cơm dừa và dầu dừa, gỗ. 

mạng  xanh  nhằm  tăng  năng  suất  cây  trồng  bằng  cách  áp  dụng  tiến  bộ  khoa  học  kỹ 

Những năm cuối thế kỷ XX do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế, nền kinh 

thuật  như  lai  tạo  ra  các  giống  lúa  cao  sản,  phân  bón  hóa  học,  thuốc  trừ  sâu  và  xây 

tế  Indonesia  bị  thiệt  hại  nặng  nề.  Tình  hình  chính  trị  bất  ổn  và  hạn  hán  xảy  ra  nghiêm 

dựng hệ thống thủy nông.  Đã từ lâu,  Philippines là quê hương của  giống lúa cao sản 

trọng đã  làm  cho  nông nghiệp nước này  không phát  triển được.  Sau  khi  Chính  phủ mới 

tại  châu  Á;  ở  đây  có  Viện  Nghiên  cứu  Lúa  Quốc  tế  (IRRI)  và  là  nước  đi  đầu  trong 

được thành lập (6/1999) kinh tế Indonesia nói chung và nông nghiệp nói riêng đã có dấu 

việc  áp dụng những giống lúa do IRRI tạo ra. Sản xuất lúa, dừa, mía là những ngành 

hiệu phục hồi: chiến lược phát triển nông nghiệp mới của Indonesia thể hiện một cuộc cải 

nghề  có  qui  mô  lớn  và  mang  tính  truyền  thống.  Trung  tâm  sản  xuất  lương  thực  của 

tổ sâu sắc, đặc biệt là trong lĩnh vực lưu thông nông sản như: xóa bỏ độc quyền của Bulog 


dùng trước đây. Trong vụ thu hoạch  khi giá xuống quá thấp Chính phủ sẽ mua vào bằng 

Vì  là  một  nước  nông  nghiệp,  nên  Philippines  đã  chọn  phát  triển  ngành  công 

giá sàn để hỗ trợ cho nông dân; loại bỏ độc quyền phân phối phân bón và các vật tư thiết 

nghiệp  chế  biến  nông  sản.  Chính phủ  Philippines  đề  ra  ba  mục  tiêu  của  ngành công 

bị nông nghiệp và tiêu thụ sản phẩm của các hợp tác xã ­ chuyển đổi hệ thống hợp tác xã 

nghiệp  chế  biến  nông  sản  là  bảo  đảm  xuất  khẩu các  mặt  hàng  truyền  thống,  tìm  các 

thành các tổ chức kinh doanh hiện đại, hoạt động trên nguyên tắc cạnh tranh; Tăng cường 

nguồn  hàng  nông  nghiệp  mới  để  xuất  khẩu  và  tự  sản  xuất  để  thay  thế  nhập  khẩu. 

cho vay tín dụng đối với nông dân từ 1,4 triệu Rupi/ha lên hai triệu Rupi/ha, tổng lượng 

Philippines  quyết  định  thay  đổi  chính  sách  nông  nghiệp  từ  bảo  trợ  sang  tăng  cường 

tín  dụng  cho  vay  tăng  từ  1,9  nghìn  tỷ  lên  3,4  nghìn  tỷ;  đẩy  mạnh  công  tác  nghiên  cứu 

cạnh tranh. Một loạt các chính sách phát triển nông nghiệp ra đời như: 

giống, chấm dứt sự độc quyền của các công ty giống quốc doanh, khuyến khích các thành 

­ Luật “hiện đại hóa nông, ngư nghiệp" (AFMA­1998),  cung cấp các chính sách 

phần  kinh  tế  tham  gia  thị  trường  này;  nâng  cao  hiệu  quả  của  công  tác  quản  lý  thủy  lợi 


trong nước như gạo và ngô, và cây  trồng để xuất khẩu như dừa, mía và  chuối. Trước đây, 

­ Chương trình nghị sự của Bộ nông nghiệp (2001) bao gồm 11 mục: (1) thúc đẩy 

sản xuất nông nghiệp thường được tiến hành theo quy mô nhỏ, nhưng hiện nay nó được tổ

việc thực hiện các quy định chủ yếu của đạo luật Hiện đại hóa nông nghiệp thủy sản năm


43 

44 

1997,  (2)  tăng  cường  các  biện pháp  chống  buôn  lậu  và  cải  thiện môi  trường đầu  tư,  (3) 

chức nông dân và thiết lập mạng lưới phát triển nông nghiệp thích nghi với kiến thức 

triệt để triển khai thực hiện Luật Thuỷ sản, (4) sắp xếp các cơ sở hạ tầng, bao gồm cả các 

và  văn  hóa  truyền  thống  của  địa phương;  (4)  Cải  thiện  hệ  thống quản  lý  trong nông 

cơ  sở  thủy  lợi  và  đường  giao  thông,  (5)  thiết  lập  một hệ  thống  tài  trợ  cho  nông  dân  và 

nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản và sử dụng tài nguyên theo cách bền vững. Để đạt các 

những người tương tự, (6) thảo luận về tài nguyên nước trong nông nghiệp, (7) xem xét 

mục tiêu  này, đầu năm 2002 Chính phủ Thái Lan đã dành ra 124 tỷ Bath (3 tỷ USD) 


1.3.3 Kinh nghiệm của Thái Lan 

gạo,  kho  dự  trữ,  các  xí  nghiệp  sản  xuất  bao  bì  đóng  gói  ở  khắp  các  thị  trấn,  thành 

Thái Lan là một nước nông nghiệp rất đặc trưng ở Đông Nam Á. Có thể nói, từ 

phố,  bến  cảng.  Mặt  hàng  gạo  sấy  của  Thái  Lan  đang  "một  mình,  một  chợ"  và  Thái 

thời cổ đại, cơ sở của nền kinh tế Thái Lan là nông nghiệp và đang phát triển với nền 

Lan  đang  đẩy  mạnh  sản  xuất  mặt  hàng  này  lên  tới  30%  khối  lượng  gạo  xuất  khẩu. 

tảng là nông nghiệp. Từ cuối những năm 1980, cả Thái Lan đã được công nghiệp  hóa 

Công nghiệp mía đường, công nghiệp chế biến sắn của Thái Lan cũng khá phát triển 

một cách nhanh chóng thể hiện ở giáo dục chất lượng cao và sự thịnh vượng của Thái 

với sản lượng khoảng gần 4 triệu tấn sắn khô/năm. Đặc biệt, công nghệ chế biến trái 

Lan.  Chuyển  dịch  cơ  cấu  kinh tế  theo  hướng  giảm  dần  tỷ  trọng  GDP  cũng  như  xuất 

cây  và  rau  xuất  khẩu của  Thái  Lan  phát  triển  khá  nhanh  với  rất  nhiều chủng  loại  từ 

khẩu trong nông nghiệp.  Tuy nhiên, nông nghiệp vẫn là một trong những ngành  kinh 

dứa,  xoài, dừa,  chuối, bưởi, măng cụt,  rau  thơm  và  đặc biệt  là  đồ  gia  vị...  Hiện  nay, 

tế chủ lực làm nền tảng cho phát triển kinh tế của quốc gia này. Sản xuất nông nghiệp 


trong nông nghiệp theo từng thời kỳ 5 năm. Theo khuôn khổ này, các chính sách khác 

và giao cho tập đoàn hoặc hợp tác xã tự quản lý). Hiện nay,  Thái Lan là quốc gia có 

nhau  ở các cấp được triển khai thực hiện. Điển hình là trong Kế hoạch lần thứ 9 phát 

nền công nghiệp chế biến cao su đạt trình độ cao và một trong những nước xuất khẩu 

triển nông nghiệp Thái Lan (2002 – 2006) đưa ra 4 mục tiêu chủ yếu là: (1) nâng cao 

cao su hàng đầu thế giới. 

năng  lực  cạnh  tranh  của hàng hóa nông  nghiệp,  lâm  nghiệp  và thủy sản;  (2)  ổn  định 

Tuy nhiên, trước áp lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế trong xu thế toàn cầu 

nền kinh tế xã hội và cải thiện chất lượng cuộc sống cho nông dân; (3) Tăng cường tổ

hóa,  tự  do  hóa  thương  mại,  nông  nghiệp  Thái  Lan  cũng  phải  đối  mặt  với  nhiều  khó


45 

46 

khăn: chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp diễn ra chậm, năng suất thấp, chi phí sản xuất 

ra bài học kinh nghiệm từ sự thành công của một số quốc gia trong khu vực qua các 

cao,  giá  nhân  công  tăng;  cơ  sở  hạ  tầng  và  trang  thiết  bị  sản  xuất  kém, nhất  là  vùng 

Để  giúp  ngành  công  nghiệp  chế  biến  cạnh  tranh  trên  thị  trường quốc  tế,  Thái 
Lan định hướng mạnh mẽ vào việc tăng chất lượng nông sản phẩm. Các nhà đầu tư đã 
chấp  nhận  áp  dụng  hệ  thống  tiêu  chuẩn  chất  lượng  "Hệ  thống  quản  lý  môi  trường" 
(EMS) cho các sản phẩm chế biến. Cố gắng này giúp sản phẩm của Thái Lan đạt tiêu 

Bốn là, chú trọng phát huy các lợi thế so sánh  hiện có  để thực hiện chiến lược 
phát triển  sản phẩm  chủ lực, tạo vùng và qui hoạch đầu tư đồng bộ cho các vùng sản 
xuất chuyên canh tập trung sản xuất hàng hóa. 
Năm  là, chú trọng đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng  sản xuất nông, lâm thủy sản. 
Đổi mới công nghệ chế biến, nâng cao chất lượng sản phẩm và hạ giá thành. 

chuẩn quốc tế như ISO/14000 và vượt qua các rào cản về kỹ  thuật để vào thị trường 

Sáu là, tăng cường đổi mới hệ thống tiếp thị, phát triển các kênh sản xuất ­ tiêu 

quốc  tế.  Nhờ  nổi  tiếng  về  chất  lượng,  nông  sản  chế  biến  của  Thái  Lan  đang  cạnh 

thụ  ­ xuất khẩu, phản ứng nhanh trước sự thay đổi nhu cầu và  thị hiếu của thị trường 

tranh  quyết  liệt  chiếm  dần  thị  phần  của  Indonesia  và  Malaysia.  Bên  cạnh  đó,  Chính 

về  hình  thức,  chất  lượng  của  hàng  hóa  nhằm  nâng  cao  lợi  thế  cạnh  tranh,  coi  trọng 

phủ  Thái  Lan  tập  trung  khai  thác  thị  trường  các  nước  đạo  Hồi  với  chủ  trương  xây 

chữ tín để mở rộng và tạo lập thị trường mới. 

dựng tỉnh Pattani (giáp biên giới  Malaysia) thành trung tâm sản xuất thực phẩm cho 

1.4. Kết luận chương 1 


phẩm có đủ điều kiện trở thành sản phẩm chủ lực để tập trung đầu tư phát triển, tránh tình 

trợ như  chế biến nông sản, lâm  sản và thủy sản  đã cho thấy sự  cần thiết của việc xác 

trạng phân tán làm suy  yếu nguồn lực kinh tế dẫn đến suy giảm sức cạnh tranh của quốc 

định  đúng  đắn  ngành  hàng,  sản  phẩm  chủ  lực  trên  cơ  sở  tiềm  năng,  lợi  thế  của  mỗi 

gia. Muốn vậy, trước tiên cần có phương pháp phù hợp cho việc xác định sản phẩm chủ 

quốc gia để có  chính sách  hỗ trợ phù hợp từ phía chính phủ nhằm tạo ra những động 

lực với qui trình và tiêu chí đánh giá, xét chọn chính xác, đảm bảo tính khách quan, khoa 

lực và xung lực cho sự phát triển bền vững của ngành và sản phẩm chủ lực. Có thể rút

học, thể hiện đúng tiềm năng, lợi thế và đặc trưng văn hóa của mỗi địa phương, vùng kinh


47 

48 

tế. Vấn đề còn lại là chính sách hỗ trợ phát triển sản phẩm chủ lực của các ngành, các cấp 

đa số với hơn 90%, số còn lại là khme chiếm 6,4%, dân tộc Hoa, Chăm và dân tộc khác có 

và hiệu quả điều hành kinh tế vĩ mô của Nhà nước. 


kinh nghiệm trong phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản  của một số nước trong 

nước (263 người/km 2 ). Dân số nông thôn ĐBSCL có 13,272 triệu người (chiếm 76,84%), 

khối ASEAN có nét tương đồng về điều kiện tự nhiên, văn hóa xã hội để rút ra bài học cho 

cao hơn rất nhiều so với cả nước (69,83%). Số người trong độ tuổi lao động của toàn vùng 

Việt Nam nói chung, ĐBSCL nói riêng. 

có  khoảng  10,129  triệu  người,  chiếm  58,64%  dân  số,  trong  đó  số  lao  động  có  việc  làm 
chiếm tới 76,2%. 

Chương 2 

Bảng 2.1. Dân số và lao động ĐBSCL so với cả nước giai đoạn 2006 – 2010 
2008 

Đơn vị tính: 1000 người 
2009 
2010 

THỰC TRẠNG XÁC ĐỊNH VÀ PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM 
CHỦ LỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG THỜI GIAN QUA 

Dân số và lao đông 

2006 

2007 

47.160,3 

48.209,6 

49.322,0  50.392,9 

51,9 

53,7 

54,6 

Km 2  (chiếm 12% diện tích tự nhiên cả nước), là vùng đất trù phú nhất Việt Nam và cũng 

Lao động có việc làm 

là  một  trong  13  đồng  bằng  châu  thổ  lớn  hàng  đầu  thế  giới.  Nằm  trong  tiểu  vùng  sông 
Mekong, ĐBSCL có 3 mặt tiếp giáp biển; phía Đông Bắc giáp Thành phố Hồ Chí Minh và 

Tổng dân số 

vùng kinh tế trọng điểm  Đông Nam Bộ, Tây và Tây Nam giáp Campuchia và Vịnh Thái 

Dân số nông thôn 

Lan; Đông và Đông Nam giáp Biển Đông. Nếu đối chiếu khoảng cách sang các nước xung 

Dân số trong tuổi lao động 

quanh thì ĐBSCL chiếm vị trí trung tâm của Đông Nam Á, rất thuận lợi cho các hoạt động 

9.895,2 

10.046,2  10.128,7 
56,2 

56,7 

trong khu vực. Địa giới hành chính của ĐBSCL được xác định bởi 12 tỉnh và 1 thành phố 

Theo  số  liệu  trong  bảng 2.1,  dân  số  ĐBSCL  đã  tăng  từ 16946,9  ngàn người năm 

thực thuộc Trung ương, gồm: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà 

2006 lên 17272,2 ngàn người năm 2010, tăng 1,92% cả giai đoạn  (thấp hơn tốc độ trung 

Vinh, An Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang và Tp. Cần Thơ. 

bình cả nước ­ tăng 4,34% cả giai đoạn). Trong đó, dân số nông thôn có chiều hướng giảm 

Theo  số  liệu  thống  kê  chính  thức  từ  Tổng  cục  thống  kê,  dân  số  ĐBSCL  năm  2010  có 

và người trong độ tuổi lao động có việc làm cũng tăng và luôn cao hơn trung bình chung 

khoảng 17,272 triệu người chiếm 19,87% dân số cả nước. Trong đó, người kinh chiếm đại

của cả nước (từ 52,8% năm 2006 lên 56,7% năm 2010). Tuy nhiên, lực lượng lao động đã


49 


12,5 

13,6 

14,3 

14,8 

14,6 

Trung du và miền núi phía Bắc 

16,3 

17,8 

18,1 

20,9 

20,7 

Đồng bằng sông Hồng 

10,1 

11,0 

12,2 


19,6 

21,4 

22,5 

19,6 

19,5 

7,2 

7,9 

7,8 

7,9 

7,9 

Đồng bằng sông Cửu Long 

Bảng 2.3. Diện tích lúa theo các vùng trên cả nước giai đoạn 2006 – 2010 

1.171,2 

TD & 
MNPB 
661,0 


3.870,0 

1.155,5 

670,4 

1221,0 

520,3 

7.513,7 

3.970,5 

1.150,1 

664,2 

1214,6 

514,3 

Năm 

Cả nước 

ĐBSCL 

ĐBSH 



(chiếm đến 52% của cả nước; gấp 3,3 lần đồng bằng sông Hồng và Bắc trung bộ ­ duyên 

2.1.1.2 Điều kiện về tài nguyên thiên nhiên 

hải Miền Trung). Đất chuyên canh các loại cây màu và cây công nghiệp ngắn ngày khoảng 

1) Tài nguyên đất 

150.000 ha, đất cây lâu năm chiếm trên 320.000 ha, chiếm khoảng 8,2% diện tích tự nhiên 

Tổng diện tích ĐBSCL có khoảng 4,0 triệu ha, trong đó khoảng 2,60 triệu ha được 

của toàn vùng.. 

sử dụng để phát triển nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản, chiếm 65,6%; khoảng 0,5 triệu 

Bảng 2.4  Diện tích một số cây trồng quan trọng giai đoạn 2006 – 2010 

ha  đất  lâm  nghiệp,  trong  đó  đất  có  rừng  chiếm  khoảng  43%  và  tỷ  lệ  che  phủ  rừng  chỉ 
chiếm 5%. Ngoài ra, ĐBSCL còn có vùng bãi triều đứng đầu cả nước với diện tích khoảng 
480.000 ha, trong đó gần 300.000 ha có khả năng nuôi trồng thuỷ sản nước mặn và nước 
lợ. Theo các nhà khoa học đất thì ĐBSCL có 4 nhóm đất chính: nhóm đất phù sa sông vời 

Loại cây trồng 
1. Cây ăn quả 
các loại 

khoảng  1,2  triệu  ha,  tập  trung  chủ  yếu  ở  vùng  trung  tâm  ĐBSCL;  nhóm  đất  phèn  với 
khoảng 1,6 triệu ha, bao gồm cả các loại đất phèn nhiễm mặn nặng và trung bình, trong đó 


258.918 

Tỷ trọng (%) 

2006 

36,18 

35,98 

32,99 

33,35 

Cả nước (ha)  288.100 

36,22 

293.400 

270.700 

265.600 

266.300 

66.792 

64.032 


144.900 

147.000 

ĐBSCL (ha)  107.896 

109.269 

112.760 

115.941 

117.544 

thống  sông  ngòi  nên  chỉ  trồng  được  lúa  vào  mùa  mưa,  còn  mùa  khô  nhiều  nơi  được 
chuyển sang nuôi tôm nước mặn và lợ; và các loại đất khác chỉ với khoảng 0,35 triệu ha,

2. Cây dừa 

Tỷ trọng (%)  80,00 
79,99 
79,97 
80,00 
79,96 
Nguồn: Tổng Cục Thống Kê và Thống kê kinh tế xã hội các tỉnh, thành ĐBSCL 2010



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status