1
PHẦN MỞ ĐẦU
2
triển; làm cách nào để cho sản phẩm chủ lực ĐBSCL có thể cạnh tranh ngang ngửa với
hàng hóa, dịch vụ cùng loại trong cả nước và trên thế giới; và làm cách nào để sản phẩm
1. Lý do chọn đề tài
Là một trong những đồng bằng rộng lớn và phì nhiêu bậc nhất Đông Nam Á và thế
giới, ĐBSCL đã trở thành vùng sản xuất, xuất khẩu lương thực, thủy hải sản và cây ăn trái
nhiệt đới lớn nhất Việt Nam. Hơn thế, nó còn là vùng kinh tế trọng điểm cả nước, có vị trí
quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, hợp tác đầu tư và giao thương với các nước
trong khu vực và thế giới. Quá trình cải cách kinh tế trong nước và hội nhập kinh tế quốc
tế mà thời gian qua đã giúp cho các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ và đặc biệt là nông
nghiệp ở ĐBSCL đạt được những thành tựu to lớn. Tốc độ tăng trưởng GDP lập nên kỷ
lục mới, xuất nhập khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài không ngừng gia tăng; cơ cấu kinh
chủ lực ĐBSCL không ngừng phát triển và phát triển một cách bền vững trong môi trường
hội nhập và cạnh tranh quốc tế…
Từ sự phân tích trên đây cho thấy, việc nhanh chóng nghiên cứu để tìm ra những
sản phẩm chủ lực, giữ vai trò chủ đạo đồng thời tạo ra cú đột phá mạnh mẽ cho phát triển
kinh tế ĐBSCL trong tương lai gần cũng như lâu dài là yêu cầu khách quan và bức thiết ở
thời điểm hiện nay. Và, đây cũng chính là lý do mà tác giả chọn đề tài: “Xác định sản
phẩm chủ lực và phát triển sản phẩm chủ lực Đồng bằng sông Cửu Long đến năm
2020” làm đề tài nghiên cứu cho Luận án tiến sĩ của bản thân.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên nghiên cứu của luận án
tế chuyển dịch dần từ nông nghiệp truyền thống sang công nghiệp, thương mại dịch vụ và
Để đạt được các mục tiêu nêu trên, luận án sẽ tập trung thực hiện xuyên suốt các
nhiệm vụ trọng tâm như sau:
1) Nghiên cứu hệ thống hóa lý thuyết về sản phẩm chủ lực và vận dụng nó để làm
sáng tỏ những vấn đề có tính lý luận cũng như thực tiễn trong việc đánh giá, xét chọn và
phát triển sản phẩm chủ lực của ĐBSCL từ nay đến năm 2020.
2) Phân tích, đánh giá nhu cầu thị trường, tiềm năng và lợi thế phát triển sản phẩm
chủ lực cũng như năng lực cạnh tranh của sản phẩm chủ lực ĐBSCL để từ đó xây dựng Hệ
thống tiêu chí đánh giá, xét chọn sản phẩm chủ lực vùng từ nay đến năm 2020.
3) Trên cơ sở Hệ thống tiêu chí, tiến hành phân tích, đánh giá nhằm tìm ra những
hàng hóa hội đủ điều kiện hoặc có triển vọng để hình thành Bảng danh mục sản phẩm chủ
lực ĐBSCL từ nay đến năm 2020.
3
4
4) Phân tích, đánh giá những thành tựu cũng như tồn tại, hạn chế trong thực tế xét
độc đáo. Nhiều quốc gia trên thế giới đã thành công khi vận dụng tư tưởng này của Porter
chọn và phát triển sản phẩm chủ lực ĐBSCL thời gian qua để từ đó đề xuất các giải pháp
và các lý thuyết cạnh tranh khác vào việc xác định lợi thế cạnh tranh để phát triển cụm
khắc phục nhằm phát triển hơn nửa sản phẩm chủ lực của vùng trong tương lai lâu dài .
chuyên môn hóa và sản phẩm chủ lực [20], [21].
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
phát triển để tham gia thị trường và giữ vai trò chủ lực trong chiến lược phát triển kinh tế
dụng thành công lý thuyết này vào lựa chọn và phát triển ngành/sản phẩm chủ lực tập
vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020
trung theo không gian địa lý (Porter 1990) hoặc [48].
Đối với địa bàn nghiên cứu: Ngoài các tỉnh, thành thuộc khu vực đồng bằng sông
3) Sự phát triển của khái niệm cụm Kinh nghiệm hiện tại và triển vọng, Christian
Cửu Long, khi nghiên cứu nhu cầu thị trường thì phạm vi nghiên cứu được mở rộng ra
H. M. Ketels (2003). Ketels đã trình bày khung khái niệm về cụm (cluster) của Michael
nhiều tỉnh, thành phố lớn trong cả nước.
M. Porter, các loại hình cụm, sự tiến hóa cuả cụm và cụm với hiệu quả kinh tế. Ngoài ra,
4. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Ketels cũng nói đến những phát hiện trong thực nghiệm đối với cụm, cụm dựa trên chính
Phát triển cụm công nghiệp gắn với phát triển vùng lãnh thổ và địa phương, hoặc
sách phát triển kinh tế và xem đây như là mô hình phát triển kinh tế mới. Thông qua công
phát triển ngành hoặc sản phẩm công nghiệp chủ lực của địa phương, từ lâu đã có nhiều
trường ngoài ngưỡng giới hạn không có lợi trong việc cung cấp hàng hoá của trung tâm.
Tức, lợi thế của một quốc gia trong thương mại quốc tế được xác định bởi các yếu tố
Lý thuyết này được Alosh (Đức) bổ sung. Điểm đáng chú ý của lý thuyết điểm trung tâm
nguồn lực như đất đai, tài nguyên thiên nhiên, lao động và qui mô dân số địa phương vì
là xác định được quy luật phân bố không gian tương ứng giữa các điểm dân cư, từ đó có
chúng tạo ra chi phí thấp. Tuy nhiên, theo Porter thì "sự thịnh vượng của quốc gia được
thể áp dụng quy hoạch các điểm dân cư trên lãnh thổ mới khai thác [45].
tạo ra chứ không phải được thừa kế", nên cần có sự tập trung đầu tư mạnh mẽ để nâng cao
5) Một nghiên cứu về các chỉ số năng lực cạnh tranh, G. Arzu INAL (2003). Trong
hiệu quả thông qua cải thiện năng suất lao động hoặc sáng tạo ra các sản phẩm với giá trị
bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gia tăng và sự quan tâm ngày càng sâu sắc của các
5
6
giới, đặc biệt các nhà sản xuất kinh doanh đến chiến lược cạnh tranh hiệu quả, nhiều nhà
được tác giả tham khảo như: “Regional innovation systems (RIS) in China của Jon
xuất khẩu theo hướng nâng cao tỷ trọng các sản phẩm chế biến, sản phẩm có hàm lượng
Sigurdson” đăng trên Working Paper No 195, July 2004 [49]; “Sustaining the Green
công nghệ cao cũng như thúc đẩy xuất khẩu dịch vụ. Nội dung chủ yếu của Chương trình
Revolution in India” của S. Nagarajan [50]; “Economic contributios of Thailand’s creative
là nghiên cứu đề xuất các giải pháp phát triển công nghệ về giống cây trồng và vật nuôi có
industries”, đăng trên tạp chí Fiscal Policy Institute 2009 [47]; “Koji – The key product in
năng suất, chất lượng cao, chống chịu sâu bệnh…; xây dựng các mô hình thâm canh và
Japanese alcoholic beverages and fermented foods, Tokyo University of Agriculture
sản xuất công nghiệp trong nuôi trồng nông, lâm, thủy hải sản theo hướng bền vững và
Sedagayaku, Tokyo, Japan [54]; “Identifying and assessing the factors that influence
bảo vệ môi trường sinh thái...[1]
cluster’s competitiveness in Oregon, and some initial suggestions”, Luận án Tiến sĩ của
4) “Quy chế đánh giá, xét chọn và hỗ trợ phát triển sản phẩm công nghiệp chủ lực
Sam Gi Hong (2007) [52]....Nhìn chung các tài liệu này đều nhấn mạnh đến vai trò của
các tỉnh Bắc Trung bộ. Trên cơ sở xử lý các số liệu thu thập từ báo cáo thống kê và khảo
sản phẩm chủ lực...[17].
sát thực tế; rút kinh nghiệm phát triển ngành công nghiệp chế biến ở một số nước Đông
5) Chương trình phát triển các sản phẩm công nghiệp chủ lực của thành phố Hồ Chí
Nam Á và dựa trên tiềm năng, lợi thế của vùng, Luận án đã xác định các ngành công
Minh giai đoạn 2002 – 2005”. Theo Chương trình này, Hệ thống tiêu chí lựa chọn sản
nghiệp chế biến nông, lâm sản chủ lực để phát triển trên địa bàn Bắc Trung bộ [9].
phẩm chủ lực và xây dựng bảng tự đánh giá năng lực cạnh tranh của mỗi sản phẩm đăng
2) Chương trình phát triển sản phẩm quốc gia dến năm 2020 của Chính phủ. Theo
ký tham gia chương trình đã ra đời cùng với việc triển khai hỗ trợ các doanh nghiệp tham
Chương trình, sẽ hình thành và phát triển hàng hóa mang thương hiệu Việt Nam bằng
gia chương trình trên năm lĩnh vực: thiết kế sản phẩm và lựa chọn công nghệ, nâng cao
công nghệ tiên tiến, có năng lực cạnh tranh cao về tính mới, chất lượng, giá thành dựa trên
trình độ quản lý của doanh nghiệp, tiếp thị, đào tạo nhân lực, tài chính thông qua các hoạt
việc khai thác lợi thế so sánh các nguồn lực trong nước. Trong đó, giai đoạn 2010 – 2015
(Tp Cần Thơ) giai đoạn 2011 – 2015, tầm nhìn đến năm 2020” và các bài viết khác của
6.1 Phương pháp tiếp cận vấn đề
các tác giả đăng tải trên tạp chí, báo, trang web trong nước và quốc tế có liên quan. Tuy
Để tiếp cận vấn đề, tác giả thực hiện thông qua các phương pháp chủ yếu như:
nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc cả về lý luận cũng
+ Tiếp cận hệ thống: Trong quá trình nghiên cứu xác định sản phẩm chủ lực của
như thực tiễn việc xác định và phát triển các sản phẩm công, nông, nghiệp và thủy sản chủ
Đồng bằng sông Cửu Long, những loại hàng hóa, dịch vụ không có tính đặc thù hoặc tính
lực thuộc vùng ĐBSCL. Với Luận án này, tác giả sẽ đi sâu nghiên cứu và giải quyết vấn
đặt thù không cao, tác giả đặt chúng trong mối quan hệ hỗ tương với hàng hóa, dịch vụ
đề bức xúc đó nhằm góp phần phát triển nền kinh tế ĐBSCL một cách bền vững.
cùng loại trong cả nước. Nghĩa là xem hàng hóa, dịch vụ đó của Đồng bằng sông Cửu
5. Tính mới của Luận án
So với các công trình nghiên cứu cũng như chương trình phát triển sản phẩm chủ
lực của các địa phương đã nêu trên, Luận án này có những điểm mới cơ bản sau:
1) Hoàn thiện hơn về mặt cơ sở lý luận đối với sản phẩm chủ lực cũng như phương
pháp xác định sản phẩm chủ lực để vận dụng vào giải quyết các vấn đề có tính lý luận
được sử dụng phổ biến trong giai đoạn này là: Khảo sát thực tế tại các địa phương, thảo
đó, Luận án cũng chứng minh tính chủ lực không thể chối cải của các sản phẩm này bằng
luận nhóm; Thảo luận tay đôi; Quan sát ...
một số chỉ tiêu định lượng quan trọng.
6.3 Phương pháp nghiên cứu định lượng
4) Dựa trên Bộ tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực đã xây dựng, Luận án thực hiện
Các chỉ tiêu định lượng để đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm chủ lực như:
việc xem xét, tính toán và cân nhắc đối với từng loại sản phẩm hàng hóa, dịch vụ có triển
Hệ số lợi thế hiển thị ngành (RCA); Hệ số thương mại ròng (NTR); Hệ số địa phương hóa
vọng trong vùng để từ đó lập ra bảng Danh mục những sản phẩm chủ lực ĐBSCL đến
(LQ); Hệ số bảo hộ hiệu dụng (EPR); Hệ số chi phí nguồn lực trong nước (DRC)...
năm 2020.
9
10
chủ lực trong phát triển kinh tế vùng, địa phương; các lý thuyết có liên quan và kinh
nghiêm phát triển sản phẩm chủ lực ở một số quốc gia và địa phương trong nước.
Chương 2: Thực trạng xác định và phát triển sản phẩm chủ lực Đồng bằng
sông Cửu Long thời gian qua
Chương này chủ yếu thực hiện việc phân tích, đánh giá thực trạng xác định sản
Chương 2. THỰC TRẠNG XÁC ĐỊNH SẢN PHẨM CHỦ LỰC VÀ
PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM CHỦ LỰC ĐBSCL THỜI GIAN QUA
phẩm và phát triển sản phẩm chủ lực ở ĐBSCL thời gian qua. Đưa ra nhận xét ưu, nhược
điểm trong việc xác định sản phẩm chủ lực của các địa phương trong vùng để làm cơ sở
cho việc tiến hành xác định sản phẩm chủ lực cấp vùng đến năm 2020.
Đánh giá tiềm năng
phát triển sản phẩm
chủ lực ĐBSCL
Vận dụng mô hình
kim cương (M.Porter)
và các lý thuyết đã
khác trình bày
Thực trạng phát triển
sản phẩm chủ lực
Lĩnh vực nông nghiệp
và thủy sản
Lĩnh vực công nghiệp
Lĩnh vực thương mại
và dịch vụ
Thực trạng xác định
ĐBSCL 20062010
Sản phẩm chủ lực
ĐBSCL đến năm 2020
Giải pháp triển sản
phẩm chủ lực ĐBSCL
Giải pháp phát triển
sản phẩm chủ lực
ĐBSCL đến 2020
CHỦ LỰC VÀ PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM CHỦ LỰC
1.1. Tổng quan về sản phẩm chủ lực và phát triển sản phẩm chủ lực
1.1.1. Định nghĩa về sản phẩm chủ lực
1.1.1.1. Một số quan điểm khác nhau về sản phẩm vụ chủ lực
11
Quá trình phát triển kinh tế của các nước trên thế giới luôn gắn liền với sự trỗi dậy
của những ngành hàng hoặc sản phẩm có lợi thế cạnh tranh. Những ngành hoặc sản phẩm
12
số: 21/2001/QĐbKHcnmt về việc “Ứng dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất các sản
phẩm xuất khẩu và sẩn phẩm chủ lực”) [1].
này đã trở thành yếu tố dẫn đạo tăng tưởng và phát triển kinh tế của quốc gia hoặc vùng
+ Kế đến là Chương trình "Phát triển các sản phẩm công nghiệp chủ lực của Tp Hồ
mạnh, chiếm tỷ trọng kim ngạch cao hoặc có vị trí chiến lược trong phát triển kinh tế của
ở mức cao và thuộc nhóm sản phẩm xuất khẩu chủ lực với tỷ trọng đóng góp vào tổng
đất nước. Gần đây, khái niệm này được sử dụng khá phổ biến và đã trở thành thuật ngữ
GDP công nghiệp lớn (Quyết định số 03/2006/QĐUB) [17].
kinh tế quen thuộc không những với các nhà quản lý mà còn với cả các doanh nghiệp và
+ Cùng một quan niệm với Tp Hồ Chí Minh và Tp Hà Nội, tỉnh Đồng Nai với
nhà nghiên cứu. Tuy nhiên, cách hiểu về sản phẩm chủ lực của mỗi người, mỗi địa phương
“Chương trình phát triển các sản phẩm công nghiệp chủ lực của tỉnh Đồng Nai giai đoạn
lại có những điểm khác nhau khá rõ rệt. Dưới đây là những điểm khác nhau điển hình khi
20062010” cũng tập trung giới hạn ở “Sản phẩm công nghiệp chủ lực” và cho rằng, sản
nói về sản phẩm chủ lực.
phẩm công nghiệp chủ lực phải là sản phẩm đóng vai trò then chốt, quyết định đối với việc
v Thể hiện trong các chủ trương, chính sách nhà nước
thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra trong một thời kỳ nhất định. Đây là những sản
+ Trước hết là khái niệm “sản phẩm chủ lực” của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi
quyết định đến phạm vi toàn cục. Đặc trưng của chủ lực là tập trung với số lượng lớn,
+ Với GS.TS Võ Thanh Thu, Giảng viên trường Đại học Kinh tế Tp Hồ Chí Minh,
được huấn luyện chính qui, chuyên nghiệp, trang bị hiện đại và có khả năng cơ động tác
Chuyên gia nghiên cứu khu công nghiệp, trong một bài viết của mình cũng đã sử dụng
chiến trên diện rộng.
khái niệm “sản phẩm chủ lực” và cho rằng nó phải có các đặc trưng như: Phải có tương lai
Vậy sản phẩm chủ lực là gì? Có thể nói, sản phẩm trong Luận án này là khái niệm
phát triển mạnh về công nghệ, có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế và trong
dùng để chỉ sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ được thương mại hóa, tức là sản phẩm hữu
nước; Phải khai thác được lợi thế của địa phương , là đặc trưng cho địa phương; Phải có
hình hoặc vô hình được sản xuất và cung ứng nhằm mục đích thương mại. Khái niệm sản
tính lan tỏa, kích thích các ngành khác, sản phẩm khác phát triển; Phải là những mặt hàng
phẩm ở đây còn được mở rộng đến ngành hàng hay một nhóm các sản phẩm có cùng tính
mang hàm lượng chất xám cao, cũng như có khả năng xuất khẩu cao; Có thể là hữu hình
năng, mục đích sử dụng hay qui trình công nghệ sản xuất. Ví dụ, ngành hàng thực phẩm
products của Seaprodex gồm: Fresh (cá tươi), Frozen (đông lạnh), Processed (chiến biến),
Như vậy, trong thực tế nghiên cứu cho thấy, ở mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ và mỗi
Canned (đóng hộp)...
thời kỳ khác nhau việc nhận thức về sản phẩm chủ lực có khác nhau. Chính từ sự nhận
Key products: Sản phẩm chủ yếu của công ty. Ví dụ sản phẩm chủ yếu của Công
thức khác nhau như vậy mà việc lựa chọn sản phẩm chủ lực và chính sách hỗ trợ phát triển
ty TNHH điện tử Nam Phương gồm có: Design and install all of Distributor Board (Thiết
sản phẩm chủ lực ở mỗi địa phương thời gian qua cũng có khác nhau. Tuy nhiên, có một
kế và cài đặt tất cả các bảng phân phối điện), Control Board (Bảng kiểm soát điện),
vấn đề mà mọi quốc gia, vùng lãnh thổ và mọi thời đại đều thống nhất với nhau chính là
Electric Box (Hộp điện), Capacitor Bank medium and low Voltage (Tụ bù trung áp và
lợi ích của việc xét chọn sản phẩm chủ lực, đồng thời xem việc tìm ra sản phẩm chủ lực để
thấp áp)….
tập trung đầu tư phát triển là nhiệm vụ có tính chiến lược đối với mỗi quốc gia, địa
Major Products: Sản phẩm chính của công ty, doanh nghiệp hay quốc gia. Ví dụ
Key sectors: Ngành hàng hoặc lĩnh vực sản xuất quan trọng, chủ yếu của một địa
đội” chủ lực...Lực lượng này được sử dụng khi cần giải quyết các mục tiêu chiến lược,
phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia. Ví dụ, để qui hoạch phát triển Ấn Độ đã xác định có
15
16
các key sectors như: Agriculture (Nông nghiệp); Commerce & Industries (Công nghiệp và
Có thể nói, sản phẩm chủ lực là những sản phẩm có sự liên hệ mật thiết với nhiều
thương mại); Finance (Tài chính); Communication & IT (Công nghệ thông tin và truyền
ngành hàng hay sản phẩm khác, ảnh hưởng trực tiếp lên các sản phẩm, ngành hàng khác
thông); Education (Giáo dục); Health & Family welfare (Y tế và phúc lợi gia đình)....
và lôi kéo chúng cùng phát triển theo. Mặt khác, quá trình phát triển của sản phẩm chủ lực
Từ những kết quả phân tích đã trình bày ở phần trên, có thể nhận diện sản phẩm
cũng thường xuyên chịu sự tác động bởi các ngành hàng hoặc sản phẩm khác. Sự liên hệ
chủ lực thông qua định nghĩa như sau: “Sản phẩm chủ lực là sản phẩm hàng hóa hoặc
này được thể hiện thông qua các mối liên hệ chuỗi giá trị (sự kết nối liên tiếp về mặt công
cạnh tranh khó lòng bắt chước vì thiếu những điều kiện mang tính lợi thế cạnh tranh của
để trao đổi mua bán với khối lượng lớn và đạt được độ đồng nhất cao. Nói cách khác, hàng
quốc gia hay vùng lãnh thổ (vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, lao động…). Ngoài ra,
hóa chủ lực phải được sản xuất theo qui mô tập trung, công nghiệp với công nghệ tiên tiến
nhiều sản phẩm chủ lực còn là biểu tượng văn hóa của quốc gia hay vùng lãnh thổ, góp
nên có thể đảm bảo được khối lượng cung ứng lớn cho thị trường đồng thời chất lượng,
phần tạo nên thương hiệu quốc gia trên thị trường quốc tế.
mẫu mã kiểu dáng và các tính năng khác phải giống nhau giữa các cá thể. Rõ ràng, sản
5) Sản phẩm có tính an toàn và thân thiện với môi trường
phẩm không thể trở thành chủ lực nếu chỉ sản xuất nhỏ lẻ, manh mún với phương pháp thủ
Sản phẩm chủ lực nhất thiết phải là sản phẩm mà trong quá trình khai thác nguyên
công, mang tính cá biệt cao. Bởi, nếu như vậy không thể có được thị trường rộng lớn, mãi
liệu, sản xuất, tồn tại, sử dụng và sau khi thải bỏ không gây hại hoặc ít gây hại hơn cho
lực yếu, sức cạnh tranh không cao.
môi trường so với sản phẩm cùng loại và được các cơ quan chức năng của nhà nước hoặc
cạnh tranh tốt trên phạm vi quốc tế để có thể tồn tại và phát triển một cách bền vững.
Bảng 1.1. Điểm khác nhau giữa Luận án với các tài liệu về sản phẩm chủ lực
3) Sản phẩm có sức lan tỏa mạnh
1
Khái niệm trong Luận án
Tác giả tổng hợp và chọn lọc từ các định nghĩa trong nhiều tài liệu đã có
Các khái niệm trước đây
17
Nêu bật mục đích chính của sản phẩm Chỉ cho biết sản phẩm nói chung chứ chưa
được tạo ra là để trao đổi mua bán, đặc thể hiện rõ mục đích tạo ra là để trao đổi mua
biệt là mua bán quốc tế.
bán, nhất là mua bán quốc tế.
18
2) Xác định đúng sản phẩm chủ lực cũng có nghĩa xác định đúng trung tâm lan tỏa,
nguồn phát tác hấp lực từ tập trung chuyên môn hóa – hiện đại hóa sản xuất và cung ứng,
có tác động lôi kéo các ngành nghề liên quan, dịch vụ bổ trợ phát triển.
Xác định đúng sản phẩm chủ lực nghĩa là đã xem xét một cách đầy đủ các ngành
Xác định rõ sản phẩm của vùng, miền dựa Xác định sản phẩm của địa phương, dựa vào
trên tiềm năng, lợi thế chung của vùng, điều kiện sản xuất đặc thù của địa phương và
thổ có ý nghĩa rất quan trọng. Cụ thể:
1) Xác định đúng sản phẩm chủ lực đồng nghĩa với việc xác định được năng lực
cạnh tranh cốt lõi của quốc gia, vùng lãnh thổ…, để từ đó có chính sách đầu tư đúng
hướng, tập trung và có chiều sâu.
Xác định đúng sản phẩm chủ lực là cơ sở để tập trung nguồn lực, ưu tiên hỗ trợ đầu
tư phát triển một cách có trọng tâm, trọng điểm và theo chiều sâu trên cơ sở lợi thế so
sánh, không dàn trải làm lãng phí vốn đầu tư. Qua đó, tạo ra sự chuyển biến rõ rệt về năng
suất, chất lượng, hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh cho từng loại sản phẩm và qua
đó tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất phát triển, đảm bảo cho những sản phẩm được
chọn có điều kiện phát triển bền vững, đóng góp tích cực vào quá trình phát triển kinh tế
xã hội của địa phương và hội nhập kinh tế quốc tế.
3) Xác định đúng sản phẩm chủ lực cũng đồng nghĩa với việc định vị đúng nền kinh
tế trong chiến lược cạnh tranh toàn cầu.
Sản phẩm chủ lực của quốc gia, vùng lãnh thổ hay địa phương thể hiện đẳng cấp,
thực trạng và tương lai phát triển kinh tế của quốc gia, vùng lãnh thổ và địa phương đó.
Căn cứ vào định vị này, các quốc gia, vùng lãnh thổ và địa phương đẩy mạnh chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng phù hợp và hiệu quả nhất, nhằm góp phần giải quyết các bất ổn
kinh tế vĩ mô và đảm bảo tăng trưởng một cách bền vững.
4) Xác định đúng sản phẩm chủ lực cũng có nghĩa là xác định đúng đối tượng
khách hàng và thị trường tiêu thụ để tăng cường áp dụng các hệ thống quản lý và thực
hành chất lượng phù hợp.
Để đối mặt với sự cạnh tranh mang tính quốc tế, các doanh nghiệp phải tạo ra được
những sản phẩm bảo đảm chất lượng, thương hiệu và uy tín, được khách hàng ưa chuộng.
Muốn vậy, các nhà sản xuất phải đầu tư đổi mới máy móc, thiết bị và công nghệ sản xuất
tiên tiến, hiện đại cũng như áp dụng các phương pháp quản lý chất lượng một cách toàn
diện theo chuẩn quốc tế, đáp ứng với những đòi hỏi ngày càng cao của người tiêu dùng.
1.1.3. Một số lý thuyết liên quan đến xác định và phát triển sản phẩm chủ lực
1.1.3.1. Thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith (17231790)
Adam Smith được coi là cha đẻ của kinh tế học hiện đại. Tác phẩm lớn nhất của
Nói một cách khác, các nước phát triển có lợi thế so sánh về giá thuê tư bản còn các nước
đang phát triển có lợi thế so sánh về giá thuê nhân công.
phí cao hơn (do hạn chế về nguồn lực) có thể nhập sản phẩm đó từ nước khác có chi phí
Quốc gia nào sản xuất hàng hóa có hàm lượng nhân tố đầu vào mà mình có lợi thế
sản xuất thấp hơn (do có ưu thế về nguồn lực). Lợi thế này được xem xét từ hai phía, đối
so sánh cao một cách tương đối thì sẽ sản xuất được hàng hóa rẻ hơn tương đối và sẽ có
với nước sản xuất sản phẩm có chi phí sản xuất thấp sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn khi
lợi thế so sánh về những hàng hóa này. Điều này lý giải vì sao Việt Nam lại xuất
bán trên thị trường quốc tế. Còn đối với nước sản xuất sản phẩm với chi phí sản xuất cao
khẩu nhiều sản phẩm thô hoặc sơ chế như dầu thô, than đá, thủy sản đông lạnh... hoặc
sẽ có được sản phẩm mà trong nước không có khả năng sản xuất hoặc sản xuất không đem
hàng hóa có hàm lượng nhân công cao như dệt may, giày dép... còn nhập khẩu máy móc,
lại hiệu quả. Điều này gọi là bù đắp sự yếu kém về khả năng sản xuất trong nước.
thiết bị từ các nước phát triển [3].
Ngày nay, đối với các nước đang phát triển như Việt Nam việc khai thác lợi thế
1.1.3.3. Thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia của Micheal E. Porter (17721823)
thì không một quốc gia nào có được khả năng cạnh tranh ở tất cả các ngành hoặc ở hầu hết
1.1.3.2. Thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo (17721823)
các ngành mà chỉ có thể thành công trên thương trường kinh doanh quốc tế khi họ có lợi
Học thuyết lợi thế so sánh của D. Ricardo nghiên cứu sự trao đổi hàng hóa giữa các
thế cạnh tranh bền vững trong một số ngành nào đó. Theo ông, khả năng cạnh tranh của
quốc gia dựa trên nền tảng học thuyết về giá trị lao động. Theo học thuyết này thì ngoại
một quốc gia ngày nay lại phụ thuộc vào khả năng sáng tạo và sự năng động của ngành
thương có lợi cho mọi quốc gia miễn là xác định đúng lợi thế so sánh. Nghĩa là việc
của quốc gia đó. Khi nền tảng của cạnh tranh càng chuyển dịch sang sự sáng tạo và tri
chuyên môn hóa của mỗi nước phải dựa trên lợi thế khi đối chiếu so sánh hao phí lao động
thức mới thì vai trò của quốc gia càng tăng lên. M. Porter cho rằng các nền kinh tế đều
cho mỗi đơn vị sản phẩm giữa các quốc gia. Muốn xác định lợi thế so sánh ta phải xác lập
phải trải qua 3 giai đoạn phát triển cạnh tranh, đó là: cạnh tranh dựa vào yếu tố sản xuất,
lợi thế tuyệt đối. Toàn bộ phân tích của D. Ricardo về lợi thế so sánh thực chất dựa trên sự
cạnh tranh dựa vào đầu tư, cạnh tranh dựa vào đổi mới và sáng tạo. Các giai đoạn cạnh
sử dụng hiệu quả nguồn lực, nâng cao năng suất và vị thế cạnh tranh.
Michael E. Porter, 2008) [21].
Hình 1.1 Các giai đoạn phát triển cạnh tranh của Porter
Nền kinh tế định
hướng yếu tố
Nền kinh tế định
hướng đầu tư
Nền kinh tế định
hướng sáng tạo
Hiệu quả nhờ
chi phí đầu vào
Hiệu quả nhờ
đầu tư mạnh
Hiệu quả nhờ
đổi mới
Hình 1.2 Mô hình Kim cương trong năng lực cạnh tranh của M. Porter
SỰ
NGẪU
NHIÊN
CHIẾN LƯỢC
CÔNG TY, CẤU
số ưu thế vượt trội về sản phẩm so với các đối thủ cạnh tranh. Lợi thế cạnh tranh quốc tế
giúp cho các doanh nghiệp có được “Quyền lực thị trường” để thành công trong kinh
doanh quốc tế. Theo Michael.E Porter, lợi thế cạnh tranh của quốc gia, địa phương hay
vùng lãnh thổ có ảnh hưởng quyết định đến năng lực cạnh tranh của ngành và sản phẩm.
Một quốc gia, vùng lãnh thổ có lợi thế cạnh tranh tốt sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh cho các
ngành và doanh nghiệp thông qua việc sản xuất và cung ứng những sản phẩm ưu việt hơn
so với các quốc gia và vùng lãnh thổ khác. Ông cho rằng, bí quyết mà một quốc gia gặt hái
được sự thành công quốc tế trong một ngành nhất định nằm trong bốn thuộc tính lớn của
một quốc gia. Bốn thuộc tính này định hình nên môi trường cạnh tranh của các doanh
nghiệp trong nước, thúc đẩy hay kìm hãm việc tạo lập lợi thế cạnh tranh và được coi là các
yếu tố quyết định của mô hình, là các điều kiện về các yếu tố sản xuất, điều kiện về cầu,
Nguồn: Lợi thế cạng tranh quốc gia của Michael M. Porter
Qua mô hình kim cương, Michael M. Porter đưa ra 4 yếu tố quyết định năng lực
cạnh tranh và 2 yếu tố chi phối các yếu tố quyết định của một ngành bao gồm:
v Các yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của ngành:
+ Chiến lược công ty, cấu trúc và cạnh tranh nội địa. Những điều kiện kinh tế,
chính trị xã hội của một quốc gia ảnh hưởng quan trọng đến việc tổ chức và quản lý doanh
nghiệp cũng như đặc tính của cạnh tranh trong nước.
+ Các điều kiện về phía cầu. Thị trường trong nước với số cầu lớn và có những
khách hàng đòi hỏi cao và những cạnh tranh trong ngành khốc liệt hơn sẽ tạo ra khả năng
cạnh tranh cao hơn cho doanh nghiệp trên thị trường quốc tế.
+ Điều kiện về các yếu tố sản xuất. Bao gồm chất lượng lao động, vốn rẻ, cơ sở hạ
tầng mạnh và công nghệ cao trong khu vực hay quốc gia sẽ ảnh hưởng đến tính cạnh tranh
của ngành, của khu vực và của cả quốc gia.
+ Các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan. Năng lực cạnh tranh của một ngành
phụ thuộc vào các nhà cung cấp các hàng hoá và các dịch vụ hỗ trợ.
23
nhưng sau đó đã nhận ra sự thích hợp cho các cụm vùng kinh tế trong nội bộ quốc gia.
tính chất định hướng nhu cầu như quy định tiêu chuẩn đối với từng mặt hàng trong ngành,
Một cụm giống như chuỗi giá trị trong sản xuất hàng hoá, dịch vụ, trong đó các ngành sản
các biện pháp kích thích hoặc kiềm hãm nhu cầu đối với một loại sản phẩm nhất định.
xuất được liên kết với nhau bởi dòng hàng hoá và dịch vụ mạnh hơn dòng liên kết chúng
· Đối với cơ cấu và môi trường cạnh tranh, sự tác động của chính phủ thể hiện
thông qua những quy định về thị trường tín dụng, chính sách thuế và các quy định về cạnh
tranh trong sản xuất, kinh doanh của ngành hàng cụ thể.
+ Sự ngẫu nhiên hay vai trò của cơ hội. Cơ hội là những sự kiện xảy ra ít liên quan
đến tình trạng sản xuất, kinh doanh hiện tại của ngành hàng nào đó tại quốc gia. Những cơ
hội có thể đến với mặt hàng có thể là: những cuộc khủng hoảng kinh tế, thiên tai, chiến
tranh ở các quốc gia, khu vực trên thế giới; sự tiến bộ về công nghệ sinh học; sự bãi bỏ các
hàng rào thuế quan hay phi thuế quan của chính phủ các nước đối với mặt hàng nào
đó…làm nhu cầu ở những nơi này tăng lên, đẩy giá cả thế giới lên cao hay ngược lại.
với phần còn lại của nền kinh tế. Các quan hệ trong cụm được phân thành 3 loại:
(1) quan hệ mua bán bởi sự tập trung và hội nhập dọc giữa quá trình sản xuất
chính với các đầu vào và phân phối hàng hoá và dịch vụ;
(2) quan hệ giữa các đối thủ cạnh tranh và các đối tác nhằm khai thác thông tin về
sản phẩm và qui trình, mở rộng sự cải tiến và các liên kết chiến lược; và
(3) quan hệ giữa thị phần và nguồn tài nguyên bằng sự chia sẻ công nghệ, lực lượng
lao động và thông tin.
Việc sử dụng khái niệm cụm như là công cụ để hiểu được quá trình phát triển sản
phẩm chủ lực ở cấp độ vùng và sự ảnh hưởng của nó đến việc định dạng và chuyển giao
nhu cầu của các thế hệ tương lai...". Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm hài
nhập thu nhập giữa thành thị và nông thôn.
hòa giữa phát triển kinh tế hiệu quả với xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ. Để
đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế xã hội, nhà quản lý, các tổ chức xã hội...
phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế xã
hội và môi trường.
2) Liên quan đến yếu tố tài nguyên: Phát triển sản phẩm chủ lực trong giới hạn khả
năng cho phép của tài nguyên, nguồn lực và hệ sinh thái.
Phát triển sản phẩm chủ lực phải góp phần giảm sử dụng năng lượng hóa thạch, hạn
chế sử dụng các hóa chất độc hại, giảm chất thải công nghiệp và làm sạch các khu vực bị ô
Sản phẩm chủ lực và sự phát triển bền vững
nhiễm, đồng thời ngăn ngừa việc sử dụng quá mức các nguồn tài nguyên tái tạo và nước;
Quá trình toàn cầu hóa đi đôi với tự do hóa thương mại phát triển nhanh chóng nhờ
chặn đứng phá rừng, xói mòn đất, rửa trôi chất màu và phá hủy hệ sinh thái, giảm đốt củi
sự thúc đẩy bởi các tiến bộ của khoa học và công nghệ, đã làm thay đổi quan trọng diện
mạo của đời sống kinh tế, chính trị và xã hội ở tất cả các nước. Quá trình này đã mang đến
nhiều cơ hội cũng như thách thức mới với nguy cơ phát triển thiếu bền vững. Do vậy, việc
và sử dụng phân gia súc.
3) Liên quan đến yếu tố lợi nhuận: Phát triển sản phẩm chủ lực phải tạo ra giá trị
một cách công bằng cho người tiêu dùng và các bên liên quan trong chuỗi giá trị.
Nguồn: Theo thiết kế sản phẩm
SẢN
PHẨM
CHỦ LỰC
1) Liên quan
người: Phát triển sản
đáp ứng các yêu cầu
hướng tới phát triển bền vững
TÀI
NGUYÊN
LỢI
NHUẬN
về xã hội và
đến yếu tố Con
phẩm chủ lực phải
công bằng.
Phát triển sản phẩm chủ lực sẽ góp phần tạo thêm việc làm cho người lao động ở
+ Nhóm tiêu chí cần: là những yếu tố nội tại của một sản phẩm cụ thể nào đó mà
chúng có thể giúp sản phẩm đáp ứng được những đòi hỏi của xã hội, đặc biệt là đáp ứng
được các mục tiêu của nhà quản lý như: có quy mô lớn, chiếm tỷ trọng cao, nộp ngân sách
mức tối đa để có thể đưa ra kết quả khách quan, chính xác, nhưng trên thực tế không thể
biết. Việc xây dựng và công bố này nhất thiết phải được thực hiện ngay từ khi ban hành
quy tất cả các yếu tố kinh tế và xã hội thành các con số. Đó là chưa kể còn có nhiều biến
chương trình hay qui định về hỗ trợ phát triển sản phẩm chủ lực của địa phương. [2], [8]...
số khó lường có thể làm đảo lộn mọi tính toán. Chính vì vậy, cần thiết phải xây dựng cả
1.2.1.3. Ý nghĩa của việc xây dựng tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực
hai loại tiêu chí định tính và định lượng. Tiêu chí định lượng dựa trên các số liệu thống kê,
Việc xây dựng tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực có ý nghĩa rất quan trọng cả về
phân tích bằng các thuật toán, còn tiêu chí định tính chủ yếu dựa trên các yếu tố kinh tế,
chính trị, xã hội được xác định bằng kiến thức, kinh nghiệm của các chuyên gia [37].
mặt giá trị vật chất lẫn giá trị tinh thần. Cụ thể:
+ Tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực là thước đo giá trị nội tại và khách quan của
Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cũng cần phải vận dụng linh hoạt, không cứng
hàng hóa. Nó phản ảnh trung thực về khả năng đáp ứng những đòi hỏi của thị trường, của
nhắc khi sử dụng các tiêu chí. Chẳng hạn, có tiêu chí về lý thuyết có thể định lượng như
xã hội cũng như của nhà quản lý. Thông qua các tiêu chí đánh giá, người ta có thể nhận
thể xây dựng dưới dạng định tính hoặc định lượng. Tuy nhiên, để bảo đảm rõ ràng, minh
trị pháp lý, chi phối mọi hoạt động của các nhà sản xuất kinh doanh, nhà hoạch định chính
bạch thì các tiêu chí cần được lượng hóa. Những tiêu chí không thể lượng hóa được như
sách và nhà quản lý. Để phát triển sản phẩm chủ lực, các nhà sản xuất phải điều chỉnh
chỉ tiêu đánh giá độ mạnh của thương hiệu, biểu trưng văn hóa địa phương…thì cần có
công nghệ, tổ chức lại sản xuất và áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng hợp chuẩn. Sẽ
tiêu chí trung gian khác làm cơ sở đánh giá.
không còn tùy tiện, chủ quan xem thường qui chuẩn thường thấy ở đối tượng này. Nhà
+ Tiêu chí phải bảo đảm tính khách quan, khoa học. Tiêu chí xác định sản phẩm
chủ lực được xây dựng dựa trên các số liệu, dữ kiện khách quan, không áp đặt theo cảm
tính hay ý chí chủ quan của bất kỳ ai. Đồng thời nó còn phù hợp với qui luật vận động của
các yếu tố kinh tế, xã hội – văn hóa.
hoạch định chính sách và nhà quản lý sẽ lấy đó làm mục tiêu để định ra các biện pháp tổ
chức thực hiện thích hợp.
+ Tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực là một bản tuyên ngôn về chất lượng của
hàng hóa, thể hiện sự cam kết về trách nhiệm của doanh nghiệp, nhà sản xuất với cộng
29
30
cả các lĩnh vực của nền kinh tế của một quốc gia). Thông qua hệ số này, người ta thấy
và tầm nhìn của doanh nghiệp [2], [8], [16], [17], [37]....
được mức độ tập trung chuyên môn hóa của một ngành hay sản phẩm nào đó tại một vùng,
1.2.1.4. Nội dung các tiêu chí
miền hay địa phương so với mức độ tập trung chuyên môn hóa ngành, sản phẩm đó của
Xuất phát từ các vấn đề đã bàn luận trên đây, có thể thấy việc xác định sản phẩm
vùng lớn hơn hay trên cả nước ((Maggioni và Riggi năm 2008).
chủ lực của quốc gia, địa phương hay vùng lãnh thổ cần dựa trên các tiêu chí định lượng
Hệ số địa phương hóa được thể hiện theo công thức:
và định tính sau đây:
LQ ir =
v Nhóm tiêu chí định lượng:
Có tác dụng đánh giá khả năng sản xuất, mức đóng góp vào tăng trưởng kinh tế
X ir / X Ir
X iR / X IR
(1.2)
Solvell et al, 2009). Tiêu chí này còn phản ảnh tầm quan trọng của sản phẩm chủ lực
vùng, miền hay địa phương đang xét có tiềm năng đặc biệt phát triển sản phẩm i để cạnh
thông qua sự đóng góp giá trị của nó vào thành tích chung của cả vùng, miền, địa phương.
tranh toàn cầu (Florida State University, 2010).
Tỷ trọng này được tính theo công thức :
R OV
OV P
=
x 100
OV R
Trong đó :
· OVP : Giá trị sản lượng của sản phẩm chủ lực
· OVR : Tổng giá trị sản lượng của toàn vùng
(3) Tốc độ tăng trưởng của sản phẩm trong vùng (Grw).
(1.1)
Tiêu chí này cho biết mức độ tăng trưởng về sản lượng, giá trị sản lượng hoặc giá
trị gia tăng của sản phẩm chủ lực. Nó phản ảnh khả năng và triển vọng phát triển của hàng
hóa chủ lực trong tương lai.
Tốc độ tăng trưởng của sản phẩm có thể nhận được từ số báo cáo hàng năm của địa
hoặc tính theo công thức :
Trong đó :
· EXP : Giá trị xuất khẩu của sản phẩm chủ lực
· EXR : Tổng giá trị xuất khẩu của toàn vùng
Nếu tỷ trọng này càng cao chứng tỏ tính chủ lực của sản phẩm đang xét càng mạnh
vì nó ảnh hưởng lớn đến thành tích xuất khẩu chung của toàn vùng.
(4) Hệ số vượt trội của sản phẩm (C Grw ).
(6) Hệ số lợi thế so sánh hiện hữu nội địa (RCA D )
Tiêu chí này phản ảnh khả năng vượt trội của hàng hóa chủ lực đối với toàn ngành
Là chỉ tiêu phản ảnh khả năng cạnh tranh trong xuất khẩu của vùng về một sản
kinh tế. Nếu hệ số này càng cao chứng tỏ hàng hóa chủ lực đang xét giữ vai trò quyết định
phẩm cụ thể trong mối tương quan với mức xuất khẩu của cả nước về sản phẩm đó. Nếu tỷ
trong việc hình thành mức tăng trưởng chung cho toàn ngành.
trọng xuất khẩu của vùng về sản phẩm chủ lực lớn hơn tỷ trọng sản phẩm cùng loại đó
Công thức xác định hệ số vượt trội có dạng :
CGrw =
G RWi
G RWs
Trong đó:
EX ir : Giá trị xuất khẩu sản phẩm i của vùng, địa phương r
EXr: Tổng giá trị xuất khẩu của vùng, địa phương r
EX iN : Giá trị xuất khẩu sản phẩm i của cả nước
EXN: Tổng giá giá trị xuất khẩu của cả nước
Nếu hệ số RCA D lớn hơn 1 thì vùng hay địa phương đang xem xét được coi là có
lợi thế so sánh nội địa về sản phẩm i. Hệ số này càng cao thì lợi thế so sánh càng cao.
Ngược lại, nếu RCAD nhỏ hơn 1 thì vùng hay địa phương đang xem xét được coi là không
có lợi thế so sánh nội địa về sản phẩm i.
(7) Hệ số lợi thế so sánh hiện hữu thế giới của sản phẩm (RCAW)
Là chỉ tiêu phản ảnh khả năng cạnh tranh trong xuất khẩu của quốc gia về hàng hóa
chủ lực trong mối tương quan với mức xuất khẩu của cả thế giới về hàng hóa đó. Nếu tỷ
trọng xuất khẩu của quốc gia về hàng hóa chủ lực lớn hơn tỷ trọng hàng hóa đó trong tổng
xuất khẩu của cả thế giới thì quốc gia đó được coi là có lợi thế so sánh về hàng hóa đó.
33
34
Công thức tính hệ số này như sau:
RCA W =
Mức bảo hộ hiệu dụng làm tăng giá trị gia tăng trong nước và được tính toán bằng
EX iN / EX N
EX iw / X W
công thức:
quốc tế về sản phẩm i. Hệ số này càng cao thì lợi thế so sánh càng cao. Ngược lại, nếu
bởi vì khi đó thuế nhập khẩu đối với ngành đó bằng 0, trong khi đó đầu vào sản xuất lại
RCA W nhỏ hơn 1 thì quốc gia đang xem xét được coi là không có lợi thế so sánh quốc tế
phải chịu thuế nhập khẩu. Việc tính toán AVPD và AVPW cần dựa vào bảng cân đối liên
về sản phẩm i.
ngành I/0.
8) Hệ số thương mại ròng của sản phẩm (NTR)
10) Hệ số chi phí nguồn lực trong nước (DRC)
Là chỉ tiêu phản ảnh mối tương quan giữa xuất và nhập khẩu của hàng hóa cùng
loại với hàng hóa chủ lực.
DRC là chỉ số thường được dùng để đánh giá lợi thế so sánh của ngành hàng thông
qua xem xét tính hiệu quả của nguồn lực trong nước được sử dụng để sản xuất ra sản
Công thức tính hệ số thương mại ròng:
EX - IM i
NTR = i
EX i + IM i
phẩm. DRC biểu thị tổng chi phí của các nguồn lực trong nước được sử dụng tương ứng
DIV i : Giá trị đầu vào nội địa trong một đơn vị sản phẩm i
Hệ số bảo hộ hiệu dụng của một sản phẩm là chênh lệch giữa giá trị gia tăng tính
FIVi: Giá trị đầu vào nhập khẩu trong một đơn vị sản phẩm i
(1.10
)
theo giá trong nước của ngành sản phẩm đó và giá trị gia tăng tính theo giá thế giới rồi
P i : Giá nhập khẩu của một đơn vị sản phẩm i (tính theo giá nội địa)
chia cho giá trị gia tăng tính theo giá thế giới. ERP Là chỉ tiêu phản ảnh mức độ bảo hộ
Hệ số DRC>1 có nghĩa là phải tốn hơn 1 đồng chi phí nguồn lực trong nước để tạo
trong nước đối với hàng hóa chủ lực hoặc nguyên liệu đầu vào sản xuất hàng hóa chủ lực
thông qua thuế quan.
ra 1 đồng giá trị gia tăng theo giá thế giới, nên không hiệu quả. [10], [43], [46]
v Nhóm tiêu chí định tính:
35
Là các tiêu chí khó lượng hóa mà chỉ có thể dễ dàng thu thập thông tin thông qua
các phương pháp định tính như phỏng vấn, khảo sát....
Nhóm này có 5 tiêu chí gồm:
với quá trình sản xuất và cung ứng hàng hóa chủ lực. Ngành công nghiệp hoặc dịch vụ
tiêu chí cụ thể; là cơ sở xem xét mức độ đạt được về mặt định lượng của một yếu tố nào
phụ trợ càng đa dạng và phát triển thì hàng hóa chủ lực càng có điều kiện phát triển tốt.
đó. Do mỗi tiêu chí có mức độ quan trọng khác nhau nên khi xây dựng thang điểm chuẩn
(3) Mức độ lan tỏa đến các lĩnh vực, ngành nghề khác
cho mỗi tiêu chí, cần tiến hành theo phương pháp chuyên gia thông qua phỏng vấn bằng
Chỉ tiêu này lại cho biết sự phát triển của hàng hóa chủ lực sẽ có lợi cho những
bảng câu hỏi để thu thập thông tin, xử lý và tìm ra trọng số cho mỗi tiêu chí.
ngành nghề nào trong nền kinh tế. Mức độ lan tỏa càng lớn chứng tỏ vai trò của hàng hóa
Nếu gọi i (i=1,2,3,4,5...n), là các phương án trả lời cho mỗi câu hỏi trong thang đo
chủ lực càng quan trọng bởi sự tồn tại và phát triển của hàng hóa chủ lực đã góp phần
và cũng là trọng số của phương án lựa chọn; tỷ lệ người chọn trả lời phương án là r (r=%
quan trọng cho sự phát triển của nền kinh tế trong vùng.
của số người tham gia trả lời); vậy, trọng số của một tiêu chí cụ thể nào đó chính là ∑ir.
(4) An toàn và thân thiện với môi trường
t =1 i =1
1.2.2. Qui trình xác định sản phẩm chủ lực
1.2.1.5 Xây dựng khung thang điểm và xác định điểm chuẩn tối đa cho tiêu chí
Như phân tích ở phần trên, đánh giá và xét chọn sản phẩm chủ lực là một việc làm
Xây dựng hệ thống các tiêu chí để xác định sản phẩm chủ lực là việc làm cần thiết,
cực kỳ trọng đối với mỗi địa phương, doanh nghiệp. Nó góp phần nâng cao vị thế cạnh
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và là cơ sở để xem xét các yếu tố lợi thế cạnh tranh, tiềm
tranh và bảo đảm sự tồn tại, phát triển một cách bền vững của mỗi địa phương cũng như
năng, nguồn lực cũng như các yếu tố liên quan đến điều kiện và môi trường kinh doanh
doanh nghiệp. Chính vì vậy mà việc đánh giá, lựa chọn sản phẩm chủ lực đòi hỏi phải
khác. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở đó thì chưa đủ, vì chưa có cơ sở định lượng để xác
được tiến hành một cách nghiêm túc, khách quan và khoa học.
37
38
Qua nghiên cứu qui trình đánh giá, xét chọn sản phẩm của các địa phương tác giả
Thiếu chuẩn
khẩu…phối hợp thực hiện.
+ Xây dựng các chính sách hỗ trợ phát triển sản phẩm chủ lực của vùng. Một sản
Không đủ chuẩn
LOẠI
BỎ
phẩm có thể chưa trở thành chủ lực của vùng do còn thiếu các điều kiện hỗ trợ cần thiết
như đầu tư, xây dựng và quảng bá thương hiệu…Do đó, các địa phương cần thống nhất
xây dựng chính sách ưu tiên, hỗ trợ chung để sản phẩm đó trở thành chủ lực của vùng.
HOÀN THIỆN
Để đảm bảo tính hiệu lực khi thực thi, việc hoạch định chính sách phải được các cơ
Đủ chuẩn
GIAI ĐOẠN CÔNG
NHẬN TÔN VINH
quan chức năng có thẩm quyền trong lĩnh vực tài chính, kế hoạch đầu tư, quản lý nhà nước
về sản xuất kinh doanh phối hợp với bộ phận chỉ đạo chung xây dựng.
+ Thiết kế các thủ tục đăng ký, mẫu biểu giấy tờ cần thiết. Cần hoàn thiện các qui
Nguồn: Tác giả tổng hợp và xây dựng
1) Giai đoạn chuẩn bị
Trong giai đoạn này, các địa phương thực hiện bước 1 của qui trình với công việc
chủ yếu là chuẩn bị về thủ tục mang tính pháp lý trên cơ sở phân tích điều kiện thực tế của
vùng cũng như của từng địa phương như:
4) Giai đoạn công nhận và tôn vinh sản phẩm chủ lực
tham gia Chương trình, bộ phận chỉ đạo có trách nhiệm tổng hợp, phân loại theo từng
Với bước cuối cúng này, Ban chỉ đạo căn cứ đề nghị của Hội đồng chuyên ngành
nhóm ngành kinh tế kỹ thuật và lên kế hoạch kiểm tra, khảo sát thực tế tại doanh nghiệp,
sẽ, xem xét ra quyết nghị công nhận sản phẩm chủ lực của vùng. Quyết nghị này phải
sau đó lên “Danh sách sản phẩm có triển vọng” để tiếp tục xem xét, hỗ trợ.
được UBND các địa phương phê duyệt và thông qua. Đây là căn cứ pháp lý để các doanh
· Sàng lọc doanh nghiệp có năng lực. Cũng trên cơ sở Phiếu đăng ký tham gia
nghiệp và nhà sản xuất hưởng hỗ trợ theo các cơ chế đặc thù của địa phương mình. Bên
của các doanh nghiệp, đồng thời căn cứ vào các điều kiện qui định ban đầu để tiến hành
cạnh đó, các sản phẩm chủ lực còn được tôn vinh và công bố, giới thiệu rộng rãi trên các
sàng lọc, chọn ra các doanh nghiệp có năng lực tham gia chương trình
phương tiện thông tin đại chúng của Trung ương cũng như địa phương [2], [8], [16], [17]..
Danh sách các doanh nghiệp có năng lực và Danh mục sản phẩm có triển vọng
tham gia chương trình nhất thiết phải được các địa phương thông qua và phê duyệt.
3) Giai đoạn tổ chức đánh giá, xét chọn
sang giai đoạn 4 (Bước 5. công nhận và tôn vinh sản phẩm chủ lực của vùng và đầu tư
hết là phải có những chính sách tác động mạnh mẽ vào công nghiệp chế biến nông, lâm
phát triển bền vững).
sản. Chính phủ cũng đã tiến hành cải tổ lại khu vực kinh tế đồn điền nhằm mục đích tư
Phương án 2: Sản phẩm chủ lực không đạt yêu cầu theo điểm chuẩn quy định (cả
điều kiện cần và điều kiện đủ) thì bị loại ra khỏi Danh sách các sản phẩm có triển vọng.
nhân hóa một bộ phận quan trọng đồn điền của Nhà nước, thu hút đầu tư của tư bản nước
ngoài để mở rộng diện tích trồng cây công nghiệp cung cấp nguyên liệu cho chế biến xuất
Phương án 3: Sản phẩm chưa đủ điểm chuẩn theo qui định nhưng đã đảm bảo được
khẩu… Chính phủ khuyến khích tư bản tư nhân trong nước tham gia kinh doanh đồn điền
các điều kiện cần thì chuyển sang bước 4 (đầu tư hỗ trợ để bổ sung điều kiện đủ), sau đó
trên cơ sở Nhà nước cho vay vốn với lãi suất thấp, miễn giảm thuế kinh doanh và cho
sẽ xem xét đánh giá lại để quyết định chuyển sang giai đoạn 4 để công nhận, tôn vinh hoặc
phép phối hợp với Nhà nước để thực hiện hợp đồng xuất khẩu. Từ năm 1968, khuyến
loại bỏ ra khỏi Danh sách sản phẩm có triển vọng.
nông được Indonesia xác định là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Trong đó, việc cung
Trong thời kỳ 19851996, Indonesia tập trung phát triển sản xuất và xuất khẩu dầu cọ, cao
chức thành các đồn rộng lớn. Ngay từ thập kỷ 60, Philippines đã tiến hành cuộc cách
su, sắn, hoa, trái cây, cơm dừa và dầu dừa, gỗ.
mạng xanh nhằm tăng năng suất cây trồng bằng cách áp dụng tiến bộ khoa học kỹ
Những năm cuối thế kỷ XX do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế, nền kinh
thuật như lai tạo ra các giống lúa cao sản, phân bón hóa học, thuốc trừ sâu và xây
tế Indonesia bị thiệt hại nặng nề. Tình hình chính trị bất ổn và hạn hán xảy ra nghiêm
dựng hệ thống thủy nông. Đã từ lâu, Philippines là quê hương của giống lúa cao sản
trọng đã làm cho nông nghiệp nước này không phát triển được. Sau khi Chính phủ mới
tại châu Á; ở đây có Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI) và là nước đi đầu trong
được thành lập (6/1999) kinh tế Indonesia nói chung và nông nghiệp nói riêng đã có dấu
việc áp dụng những giống lúa do IRRI tạo ra. Sản xuất lúa, dừa, mía là những ngành
hiệu phục hồi: chiến lược phát triển nông nghiệp mới của Indonesia thể hiện một cuộc cải
nghề có qui mô lớn và mang tính truyền thống. Trung tâm sản xuất lương thực của
tổ sâu sắc, đặc biệt là trong lĩnh vực lưu thông nông sản như: xóa bỏ độc quyền của Bulog
dùng trước đây. Trong vụ thu hoạch khi giá xuống quá thấp Chính phủ sẽ mua vào bằng
Vì là một nước nông nghiệp, nên Philippines đã chọn phát triển ngành công
giá sàn để hỗ trợ cho nông dân; loại bỏ độc quyền phân phối phân bón và các vật tư thiết
nghiệp chế biến nông sản. Chính phủ Philippines đề ra ba mục tiêu của ngành công
bị nông nghiệp và tiêu thụ sản phẩm của các hợp tác xã chuyển đổi hệ thống hợp tác xã
nghiệp chế biến nông sản là bảo đảm xuất khẩu các mặt hàng truyền thống, tìm các
thành các tổ chức kinh doanh hiện đại, hoạt động trên nguyên tắc cạnh tranh; Tăng cường
nguồn hàng nông nghiệp mới để xuất khẩu và tự sản xuất để thay thế nhập khẩu.
cho vay tín dụng đối với nông dân từ 1,4 triệu Rupi/ha lên hai triệu Rupi/ha, tổng lượng
Philippines quyết định thay đổi chính sách nông nghiệp từ bảo trợ sang tăng cường
tín dụng cho vay tăng từ 1,9 nghìn tỷ lên 3,4 nghìn tỷ; đẩy mạnh công tác nghiên cứu
cạnh tranh. Một loạt các chính sách phát triển nông nghiệp ra đời như:
giống, chấm dứt sự độc quyền của các công ty giống quốc doanh, khuyến khích các thành
Luật “hiện đại hóa nông, ngư nghiệp" (AFMA1998), cung cấp các chính sách
phần kinh tế tham gia thị trường này; nâng cao hiệu quả của công tác quản lý thủy lợi
trong nước như gạo và ngô, và cây trồng để xuất khẩu như dừa, mía và chuối. Trước đây,
Chương trình nghị sự của Bộ nông nghiệp (2001) bao gồm 11 mục: (1) thúc đẩy
sản xuất nông nghiệp thường được tiến hành theo quy mô nhỏ, nhưng hiện nay nó được tổ
việc thực hiện các quy định chủ yếu của đạo luật Hiện đại hóa nông nghiệp thủy sản năm
43
44
1997, (2) tăng cường các biện pháp chống buôn lậu và cải thiện môi trường đầu tư, (3)
chức nông dân và thiết lập mạng lưới phát triển nông nghiệp thích nghi với kiến thức
triệt để triển khai thực hiện Luật Thuỷ sản, (4) sắp xếp các cơ sở hạ tầng, bao gồm cả các
và văn hóa truyền thống của địa phương; (4) Cải thiện hệ thống quản lý trong nông
cơ sở thủy lợi và đường giao thông, (5) thiết lập một hệ thống tài trợ cho nông dân và
nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản và sử dụng tài nguyên theo cách bền vững. Để đạt các
những người tương tự, (6) thảo luận về tài nguyên nước trong nông nghiệp, (7) xem xét
mục tiêu này, đầu năm 2002 Chính phủ Thái Lan đã dành ra 124 tỷ Bath (3 tỷ USD)
1.3.3 Kinh nghiệm của Thái Lan
gạo, kho dự trữ, các xí nghiệp sản xuất bao bì đóng gói ở khắp các thị trấn, thành
Thái Lan là một nước nông nghiệp rất đặc trưng ở Đông Nam Á. Có thể nói, từ
phố, bến cảng. Mặt hàng gạo sấy của Thái Lan đang "một mình, một chợ" và Thái
thời cổ đại, cơ sở của nền kinh tế Thái Lan là nông nghiệp và đang phát triển với nền
Lan đang đẩy mạnh sản xuất mặt hàng này lên tới 30% khối lượng gạo xuất khẩu.
tảng là nông nghiệp. Từ cuối những năm 1980, cả Thái Lan đã được công nghiệp hóa
Công nghiệp mía đường, công nghiệp chế biến sắn của Thái Lan cũng khá phát triển
một cách nhanh chóng thể hiện ở giáo dục chất lượng cao và sự thịnh vượng của Thái
với sản lượng khoảng gần 4 triệu tấn sắn khô/năm. Đặc biệt, công nghệ chế biến trái
Lan. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm dần tỷ trọng GDP cũng như xuất
cây và rau xuất khẩu của Thái Lan phát triển khá nhanh với rất nhiều chủng loại từ
khẩu trong nông nghiệp. Tuy nhiên, nông nghiệp vẫn là một trong những ngành kinh
dứa, xoài, dừa, chuối, bưởi, măng cụt, rau thơm và đặc biệt là đồ gia vị... Hiện nay,
tế chủ lực làm nền tảng cho phát triển kinh tế của quốc gia này. Sản xuất nông nghiệp
trong nông nghiệp theo từng thời kỳ 5 năm. Theo khuôn khổ này, các chính sách khác
và giao cho tập đoàn hoặc hợp tác xã tự quản lý). Hiện nay, Thái Lan là quốc gia có
nhau ở các cấp được triển khai thực hiện. Điển hình là trong Kế hoạch lần thứ 9 phát
nền công nghiệp chế biến cao su đạt trình độ cao và một trong những nước xuất khẩu
triển nông nghiệp Thái Lan (2002 – 2006) đưa ra 4 mục tiêu chủ yếu là: (1) nâng cao
cao su hàng đầu thế giới.
năng lực cạnh tranh của hàng hóa nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản; (2) ổn định
Tuy nhiên, trước áp lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế trong xu thế toàn cầu
nền kinh tế xã hội và cải thiện chất lượng cuộc sống cho nông dân; (3) Tăng cường tổ
hóa, tự do hóa thương mại, nông nghiệp Thái Lan cũng phải đối mặt với nhiều khó
45
46
khăn: chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp diễn ra chậm, năng suất thấp, chi phí sản xuất
ra bài học kinh nghiệm từ sự thành công của một số quốc gia trong khu vực qua các
cao, giá nhân công tăng; cơ sở hạ tầng và trang thiết bị sản xuất kém, nhất là vùng
Để giúp ngành công nghiệp chế biến cạnh tranh trên thị trường quốc tế, Thái
Lan định hướng mạnh mẽ vào việc tăng chất lượng nông sản phẩm. Các nhà đầu tư đã
chấp nhận áp dụng hệ thống tiêu chuẩn chất lượng "Hệ thống quản lý môi trường"
(EMS) cho các sản phẩm chế biến. Cố gắng này giúp sản phẩm của Thái Lan đạt tiêu
Bốn là, chú trọng phát huy các lợi thế so sánh hiện có để thực hiện chiến lược
phát triển sản phẩm chủ lực, tạo vùng và qui hoạch đầu tư đồng bộ cho các vùng sản
xuất chuyên canh tập trung sản xuất hàng hóa.
Năm là, chú trọng đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng sản xuất nông, lâm thủy sản.
Đổi mới công nghệ chế biến, nâng cao chất lượng sản phẩm và hạ giá thành.
chuẩn quốc tế như ISO/14000 và vượt qua các rào cản về kỹ thuật để vào thị trường
Sáu là, tăng cường đổi mới hệ thống tiếp thị, phát triển các kênh sản xuất tiêu
quốc tế. Nhờ nổi tiếng về chất lượng, nông sản chế biến của Thái Lan đang cạnh
thụ xuất khẩu, phản ứng nhanh trước sự thay đổi nhu cầu và thị hiếu của thị trường
tranh quyết liệt chiếm dần thị phần của Indonesia và Malaysia. Bên cạnh đó, Chính
về hình thức, chất lượng của hàng hóa nhằm nâng cao lợi thế cạnh tranh, coi trọng
phủ Thái Lan tập trung khai thác thị trường các nước đạo Hồi với chủ trương xây
chữ tín để mở rộng và tạo lập thị trường mới.
dựng tỉnh Pattani (giáp biên giới Malaysia) thành trung tâm sản xuất thực phẩm cho
1.4. Kết luận chương 1
phẩm có đủ điều kiện trở thành sản phẩm chủ lực để tập trung đầu tư phát triển, tránh tình
trợ như chế biến nông sản, lâm sản và thủy sản đã cho thấy sự cần thiết của việc xác
trạng phân tán làm suy yếu nguồn lực kinh tế dẫn đến suy giảm sức cạnh tranh của quốc
định đúng đắn ngành hàng, sản phẩm chủ lực trên cơ sở tiềm năng, lợi thế của mỗi
gia. Muốn vậy, trước tiên cần có phương pháp phù hợp cho việc xác định sản phẩm chủ
quốc gia để có chính sách hỗ trợ phù hợp từ phía chính phủ nhằm tạo ra những động
lực với qui trình và tiêu chí đánh giá, xét chọn chính xác, đảm bảo tính khách quan, khoa
lực và xung lực cho sự phát triển bền vững của ngành và sản phẩm chủ lực. Có thể rút
học, thể hiện đúng tiềm năng, lợi thế và đặc trưng văn hóa của mỗi địa phương, vùng kinh
47
48
tế. Vấn đề còn lại là chính sách hỗ trợ phát triển sản phẩm chủ lực của các ngành, các cấp
đa số với hơn 90%, số còn lại là khme chiếm 6,4%, dân tộc Hoa, Chăm và dân tộc khác có
và hiệu quả điều hành kinh tế vĩ mô của Nhà nước.
kinh nghiệm trong phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản của một số nước trong
nước (263 người/km 2 ). Dân số nông thôn ĐBSCL có 13,272 triệu người (chiếm 76,84%),
khối ASEAN có nét tương đồng về điều kiện tự nhiên, văn hóa xã hội để rút ra bài học cho
cao hơn rất nhiều so với cả nước (69,83%). Số người trong độ tuổi lao động của toàn vùng
Việt Nam nói chung, ĐBSCL nói riêng.
có khoảng 10,129 triệu người, chiếm 58,64% dân số, trong đó số lao động có việc làm
chiếm tới 76,2%.
Chương 2
Bảng 2.1. Dân số và lao động ĐBSCL so với cả nước giai đoạn 2006 – 2010
2008
Đơn vị tính: 1000 người
2009
2010
THỰC TRẠNG XÁC ĐỊNH VÀ PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM
CHỦ LỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG THỜI GIAN QUA
Dân số và lao đông
2006
2007
47.160,3
48.209,6
49.322,0 50.392,9
51,9
53,7
54,6
Km 2 (chiếm 12% diện tích tự nhiên cả nước), là vùng đất trù phú nhất Việt Nam và cũng
Lao động có việc làm
là một trong 13 đồng bằng châu thổ lớn hàng đầu thế giới. Nằm trong tiểu vùng sông
Mekong, ĐBSCL có 3 mặt tiếp giáp biển; phía Đông Bắc giáp Thành phố Hồ Chí Minh và
Tổng dân số
vùng kinh tế trọng điểm Đông Nam Bộ, Tây và Tây Nam giáp Campuchia và Vịnh Thái
Dân số nông thôn
Lan; Đông và Đông Nam giáp Biển Đông. Nếu đối chiếu khoảng cách sang các nước xung
Dân số trong tuổi lao động
quanh thì ĐBSCL chiếm vị trí trung tâm của Đông Nam Á, rất thuận lợi cho các hoạt động
9.895,2
10.046,2 10.128,7
56,2
56,7
trong khu vực. Địa giới hành chính của ĐBSCL được xác định bởi 12 tỉnh và 1 thành phố
Theo số liệu trong bảng 2.1, dân số ĐBSCL đã tăng từ 16946,9 ngàn người năm
thực thuộc Trung ương, gồm: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà
2006 lên 17272,2 ngàn người năm 2010, tăng 1,92% cả giai đoạn (thấp hơn tốc độ trung
Vinh, An Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang và Tp. Cần Thơ.
bình cả nước tăng 4,34% cả giai đoạn). Trong đó, dân số nông thôn có chiều hướng giảm
Theo số liệu thống kê chính thức từ Tổng cục thống kê, dân số ĐBSCL năm 2010 có
và người trong độ tuổi lao động có việc làm cũng tăng và luôn cao hơn trung bình chung
khoảng 17,272 triệu người chiếm 19,87% dân số cả nước. Trong đó, người kinh chiếm đại
của cả nước (từ 52,8% năm 2006 lên 56,7% năm 2010). Tuy nhiên, lực lượng lao động đã
49
12,5
13,6
14,3
14,8
14,6
Trung du và miền núi phía Bắc
16,3
17,8
18,1
20,9
20,7
Đồng bằng sông Hồng
10,1
11,0
12,2
19,6
21,4
22,5
19,6
19,5
7,2
7,9
7,8
7,9
7,9
Đồng bằng sông Cửu Long
Bảng 2.3. Diện tích lúa theo các vùng trên cả nước giai đoạn 2006 – 2010
1.171,2
TD &
MNPB
661,0
3.870,0
1.155,5
670,4
1221,0
520,3
7.513,7
3.970,5
1.150,1
664,2
1214,6
514,3
Năm
Cả nước
ĐBSCL
ĐBSH
(chiếm đến 52% của cả nước; gấp 3,3 lần đồng bằng sông Hồng và Bắc trung bộ duyên
2.1.1.2 Điều kiện về tài nguyên thiên nhiên
hải Miền Trung). Đất chuyên canh các loại cây màu và cây công nghiệp ngắn ngày khoảng
1) Tài nguyên đất
150.000 ha, đất cây lâu năm chiếm trên 320.000 ha, chiếm khoảng 8,2% diện tích tự nhiên
Tổng diện tích ĐBSCL có khoảng 4,0 triệu ha, trong đó khoảng 2,60 triệu ha được
của toàn vùng..
sử dụng để phát triển nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản, chiếm 65,6%; khoảng 0,5 triệu
Bảng 2.4 Diện tích một số cây trồng quan trọng giai đoạn 2006 – 2010
ha đất lâm nghiệp, trong đó đất có rừng chiếm khoảng 43% và tỷ lệ che phủ rừng chỉ
chiếm 5%. Ngoài ra, ĐBSCL còn có vùng bãi triều đứng đầu cả nước với diện tích khoảng
480.000 ha, trong đó gần 300.000 ha có khả năng nuôi trồng thuỷ sản nước mặn và nước
lợ. Theo các nhà khoa học đất thì ĐBSCL có 4 nhóm đất chính: nhóm đất phù sa sông vời
Loại cây trồng
1. Cây ăn quả
các loại
khoảng 1,2 triệu ha, tập trung chủ yếu ở vùng trung tâm ĐBSCL; nhóm đất phèn với
khoảng 1,6 triệu ha, bao gồm cả các loại đất phèn nhiễm mặn nặng và trung bình, trong đó
258.918
Tỷ trọng (%)
2006
36,18
35,98
32,99
33,35
Cả nước (ha) 288.100
36,22
293.400
270.700
265.600
266.300
66.792
64.032
144.900
147.000
ĐBSCL (ha) 107.896
109.269
112.760
115.941
117.544
thống sông ngòi nên chỉ trồng được lúa vào mùa mưa, còn mùa khô nhiều nơi được
chuyển sang nuôi tôm nước mặn và lợ; và các loại đất khác chỉ với khoảng 0,35 triệu ha,
2. Cây dừa
Tỷ trọng (%) 80,00
79,99
79,97
80,00
79,96
Nguồn: Tổng Cục Thống Kê và Thống kê kinh tế xã hội các tỉnh, thành ĐBSCL 2010