11 nâng cao
Câu 1.Viên quản ngục có điểm gì khiến Huấn Cao trân trọng mà cho chữ
A. Biết ngưỡng mộ bậc anh hùng
B. Biết nhẫn nhòn trước những lời khinh bạc của Huấn Cao
C. Biết trân trọng tài hoa và cái đẹp
D. Đối xử tử tế với những tên tử tù
Câu 2: Trong những phương án sau, đoạn nào Chí Phèo thấy lòng mơ hồ buồn, vui lẫn
lộn, thậm chí đã “ Khóc”, đã “ cười” như trẻ con?
A. Đoạn kể về cơn tỉnh rượu và những ngày sống hạnh phúc bên Thò Nở.
B. Đoạn kể về cuộc ăn vạ khi mới ở tù về.
C. Đoạn kể về cơn say ở nhà Tự Lãng
D. Đoạn kể về cơn ấm đầu của Bá Kiến và hành vi báo thù của Chí Phèo.
Câu 3: Thủ đoạn nào của Bá Kiến tỏ rõ sự độc ác, nham hiểm hơn cả?
A. “ Ngấm ngầm đẩy người ta xuống sông, rồi lại dắt nó lên để nó đền ơn”.
B. “ Bám lấy thằng có tóc không ai bám thằng trọc đầu”.
C. “ Mềm nắn rắn buông”.
D. Dùng “ thằng đầu bò” để “trò thằng đầu bò”.ø
Câu 4: Ở Thò Nở có đủ mọi cái thua thiệt kém cỏi: nghèo, xấu, dở hơi, thuộc dòng họ
nhà có mả hủi,..nhưng người đàn bà ấy vẫn quá tầm vưói chí Phèo. Thể hiện điều đó,
Nam Cao nhằm:
A. Chế giễu những người đàn bà như Thò Nở
B. Chế giễu những gã lưu manh như Chí Phèo.
C. Tô đậm cái bi đát trong số phận Chí Phèo.
D. Làm cho chuyệncó vẻ oái ăm kì thú.
Câu 5. Huấn Cao có những tài năng nào
A.Lãnh đạo cuộc khởi nghóa viết chữ đẹp
B. Viết chữ nhanh và đẹp bẻ khóa vượt ngục
C.Tháo xiềng vượt ngục viết chữ nhanh
D. Cầm quân viết tứ bình bẻ khóa
Câu 6: Viên quản ngục trong truyện ngắn: Chữ người tử tù” có điểm gì khiến Huấn
Cao trân trọng mà cho chữ?
c. TÝnh c¸ch sè phËn nh©n vËt
d. ThÕ giíi néi t©m cđa nh©n vËt
Câu 11 : Trong các tác phẩm sau, tác phẩm nào là thơ trữ tình:
1 Thương vợ, 2 Hầu trời, 3 Vònh khoa thi Hương, 4 Khóc Dương Khuê, 5 Tự tình, 6 Câu
cá mùa thu, 7 Mồng hai tết viếng cô Kí.
A. 1, 4, 5, 6 B. 1, 3, 5, 7 C. 2, 4, 6, 7 D. 3, 4, 5, 7.
C©u 12 : Trong trun ng¾n Hai ®øa trỴ , ba bøc tranh liªn hoµn miªu t¶ phè
hun trong nh÷ng thêi gian nµo ?
A : S¸ng , chiỊu , tèi
B : ChiỊu , chËp tèi , ®ªm khuya
C : Tra , chiỊu , tèi
D : S¸ng , tèi , ®ªm khuya.
Câu 13 : Ý nào sau đây không đúng?
A. Trong câu ghép chính phụ, vế câu bắt đầu bằng từ “ tuy” luôn là vế câu mở đầu.
B. Thành phần phụ chú phải đứng sau liền kề những từ ngữ, những ý mà nó giải thích.
C. Trong câu ghép chính phụ, vế câu nêu nguyên nhân có thể đứng đầu hoặc đứng sau
vế câu kết quả.
D. Vò trí của trạng ngữ trong câu có ảnh hưởng đến nội dung thể hiện cảu câu.
Câu 14 : Trong trích đoạn Vónh biệt Cửu Trùng Đài của vở kòch Vũ Như Tô” mỗi lần
nghe nói đến Cửu Trùng Đài bò phá, Vũ Như Tô đều nói “ Vô lí”. Câu nói đó có ý nghóa
gì?
A.Vũ Như Tô tin tưởng vào khả năng cảm nhận nghệ thuật của mọi người và ông luôn
nghó mọi người sẽ cùng ông gìn giữ công trình kiến trúc “ tranh tinh xảo với tạo hoá” này
B.Người nghệ só này không tin người đời lại dám phá bỏ một công trình kiến trúc tinh xảo
như vậy.
C.Người nghệ só này luôn tin rằng mọi người đều ủng hộ ông và xem Cửu Trùng Đài là
một kì công cần phải gìn giữ.
D. Vũ Như Tô không bao giờ nghó rằng người ta lại có thể đang tâm phá vỡ một công
trình kiến trúc tuyệt mó như thế.
C©u 15: Truyện Hai đứa trẻ không nhằm tái hiện gợi tả thành công bức tranh nào?
những đêm trước.
B. Tại chõng tre trước cửa hàng nhỏ xíu của chò em Liên. Đêm khuya. Đoàn tàu phố
huyện gây nên xáo trộn nhỏ nơi con phố vốn vắng vẻ, tónh lặng.
C. Thông báo vóùi Liên đoàn tàu đã đến và đã đi qua. Đồng thời thể hiện nỗi buồn của
An vì sự thưa thớt khách trên tàu.
D. Xã hội Việt Nam vào những năm trước Cách mạng tháng Tám. Lúc đó, đời sống
của người dân nghèo khổ, lam lũ nhiều.
Tản Đà
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tản Đà (1988-1939)
Tản Đà (1888–1939) là một thi sĩ, văn sĩ, kịch tác gia lãng mạn người Việt Nam. Trên văn đàn của văn học
Việt Nam trong hơn 3 thập niên đầu thế kỷ 20, Tản Đà nổi lên như một ngôi sao sáng, vừa độc đáo, vừa dồi
dào năng lực sáng tạo. Ông là một cây bút phóng khoáng, xông xáo trên nhiều lĩnh vực, đi khắp miền đất
nước, ông để lại nhiều tác phẩm với nhiều thể loại. Ông đã từng làm chủ bút tạp chí Hữu Thanh, An Nam tạp
chí. Ông được đánh giá là người mở đầu cho thơ mới của văn học Việt Nam, là "gạch nối giữa hai thời kỳ văn
học cổ điển và hiện đại". Ngoài sáng tác thơ, Tản Đà còn dịch thơ Đường và được biết đến như một người
dịch thơ Đường sang thơ lục bát hay nhất Việt Nam.
Mục lục
[giấu]
• 1 Cuộc đời và sự nghiệp
• 2 Danh ngôn
• 3 Tác phẩm
• 4 Liên kết ngoài
[sửa] Cuộc đời và sự nghiệp
Ông tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu, sinh ngày 8 tháng 5 năm 1888 (tức ngày 29 tháng 4 năm Mậu Tý), tại
làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây; nay là huyện Ba Vì (một thời thuộc ngoại thành Hà Nội, nay
thuộc tỉnh Hà Tây).
Ông xuất thân trong một gia đình phong kiến quan lại. Thân sinh ông là Nguyễn Danh Kế, đỗ Cử nhân, làm
đến Án sát và từng giữ chức Ngự sử trong kinh. Mẹ là Lưu Thị Hiền, cũng có sách ghi là đào Nghiêm, vốn là
Bầu chọn: 1 | 2 | 3 | 4 | 5
Thao tác
Thao tác
Gửi cho bạn
Xuất RSS
Trăm năm nghĩ đời người có mấy
Một đêm đông sao thấy dài thay!
Lạnh lùng gió thổi sương bay
Chập chờn giấc bướm canh chầy lại canh.
Ngó trên án đèn xanh hiu hắt,
Nghe tiếng kim kí cách giục giờ,
Đêm trường nghĩ vẩn lo vơ
Cái lo vô tận bao giờ là xong!
Thân nam tử đứng trong trần thế
Cuộc trăm năm có dễ ru mà!
Có đời mà đã có ta
Sao cho thân thế không là cỏ cây,
Đường có kẻ đường mây gặp bước,
Bước công danh sấn trước trèo cao
Thế gian tỏ mặt anh hào
Muôn nghìn mắt miệng trông vào ngợi khen.
Cũng có kẻ tài hoa chữ lợi
Trắng hai tay làm nổi nên giàu
Chẳng khanh tướng, chẳng công hầu
Cũng bao vạn kẻ cúi đầu vào ra.
Ấy những hạng vinh hoa phú quý
Làm tài trai đắc chí hơn người
Trăm năm nghĩ cũng nên đời
Trăm năm rồi nữa, biết rồi ra sao?
Có kẹo có câu là sách vở,
Chẳng lề chẳng lối cũng văn chương.
Còn non còn nước còn trăng gió,
Còn có thơ ca bán phố phường.
Còn chơi (Tản Đà, Việt Nam)
Thể thơ: Thơ mới bảy chữ (thời kỳ: Cận đại)
Đã được xem 257 lần
Đăng bởi Điệp luyến hoa vào 21/10/2005 19:26
Đã sửa 1 lần, lần sửa cuối bởi Điệp luyến hoa vào 27/05/2006
07:26
(4 điểm, 1 người bầu)
Bầu chọn: 1 | 2 | 3 | 4 | 5
Thao tác
Thao tác
Gửi cho bạn
Xuất RSS
Ai đã hay đâu tớ chán đời
Đời chưa chán tớ, tớ còn chơi.
Chơi cho thật chán, cho đời chán,
Đời chán nhau thời tớ sẽ thôi.
Nói thế, can gì tớ đã thôi ?
Đời đương có tớ, tớ còn chơi
Người ta chơi đã già đời cả
Như tớ năm nay mới nửa đời.
Nửa đời chính độ tớ đương chơi
Chơi muốn sao cho thật sướng đời.
Đời người ai có chơi như tớ
Chơi cứ bằng văn mãi chửa thôi.
Chơi văn sướng đến tớ là thôi,
Dù chóng hay lâu, tớ hãy chơi.
Trăm năm: tớ độ thế mà thôi,
ức triệu ngàn năm chửa hết đời.
Chắc có một phen đời khóc tớ
Đời chưa khóc tớ, tớ còn chơi.
Trăm năm còn độ bảy mươi thôi,
Ngoài cuộc trăm năm tớ dặn đời:
ức triệu ngàn năm đời nhớ tớ,
Tớ thôi tớ cũng hãy còn chơi!
Bút đã thôi rồi lại chửa thôi,
Viết thêm câu nữa hỏi đời chơi:
"Lộng hoàn " này điệu từ đâu trước ?"
Hoạ được hay không, tớ đố đời!
TẢN ĐÀ - đặt vấn đề
Wednesday, 24. January 2007, 03:51:15
Văn học giao thời
Nghiên cứu trước tác của các tác giả văn học giao thời thấy nổi lên hai đặc điểm cơ bản sau:
-số lượng các tác phẩm không nhiều, không có những tác phẩm có giá trị kết tinh nghệ thuật ở trình độ cao.
-vì nhiều lý do khác nhau, không có nhiều những nhà văn mà quá trình sáng tác kéo dài trong suốt giai đoạn
văn học. Có lẽ đây là những đặc điểm tất yếu của một nền văn học chưa thực sự được chuyên nghiệp hóa như
ở giai đoạn sau này.
Đặt trong tương quan ấy mới thấy hết ý nghĩa văn học sử của hiện tượng Tản Đà. Cùng với Phan Bội Châu,
sáng tác của Tản Đà kéo dài trong hầu khắp giai đoạn giao thời. Cũng như Phan Bội Châu, sáng tác của Tản
Đà trải trên nhiều thể loại khác nhau. Cả hai, bằng những cách thức khác nhau, dường như là sự kiểm tra, tổng
duyệt lại năng lực biểu đạt nghệ thuật của toàn bộ hệ thống thể loại văn học truyền thống trước những đòi hỏi
mới mẻ nảy sinh từ thực tiễn đời sống văn học. Điều này lý giải vì sao trong tất cả các bộ văn học sử, cùng với
Phan Bội Châu, Tản Đà luôn được nhắc tới như một tác gia quan trọng của giai đoạn văn học giao thời. Mặt
khác, so với Phan Bội Châu, sáng tác của Tản Đà gắn chặt với môi trường đô thị - chịu những tác động của thị
hiếu độc giả trong một môi trường mà văn học đã trở thành hàng hóa, viết văn trở thành một nghề với những
trải nghiệm hoàn toàn mới mẻ. Mọi miêu tả và phác thảo về lộ trình hiện đại hóa văn học đều không thể bỏ
mây hơi nước đến dân xã”. Sự lạc điệu của nhà Nho Tản Đà với môi trường đô thị bắt đầu bộc lộ rõ rệt. Tờ An
nam tạp chí, bất chấp những tâm huyết của ông chủ báo ngất ngưởng, liên tục bị đình bản vì lý do tài chính và
đến năm 1933 (sau 6 lần tái bản rồi đình bản) thì đình bản hẳn. Lần vấp ngã này khiến Tản Đà thực sự chán
nản và sự nghiệp của ông cũng đi vào giai đoạn thoái trào. Từ 1933 cho đến những ngày cuối đời Tản Đà làm
trợ bút cho các báo, dịch thơ Đường cho tờ Ngày nay, dịch Liêu trai, quảng cáo chữa văn, xem số Hà
lạc...Cũng vì sinh kế mà Tản Đà phải trôi dạt nhiều nơi: vào Nam, ra Hà nội, về quê, ra Quảng Yên rồi lại về
Hà Đông. Ông mất tại Ngã tư Sở, ngày 7 tháng 6 năm 1939, trong cảnh bần bách, để lại vợ và đàn con mà theo