NGHIÊN CỨU ĐỊA DANH THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ VÀ HUYỆN ĐIỆN BIÊN - Pdf 37

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
––––––––––––––

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
––––––––––––––

TRẦN THỊ PHƢƠNG HẰNG

TRẦN THỊ PHƢƠNG HẰNG

NGHIÊN CỨU ĐỊA DANH THÀNH PHỐ
ĐIỆN BIÊN PHỦ VÀ HUYỆN ĐIỆN BIÊN

NGHIÊN CỨU ĐỊA DANH THÀNH PHỐ
ĐIỆN BIÊN PHỦ VÀ HUYỆN ĐIỆN BIÊN
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60 22 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS HÀ QUANG NĂNG

Thái Nguyên - 2009
Thái Nguyên - 2009

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


được luận văn này.
Điện Biên, tháng 09 năm 2009

Trần Thị Phƣơng Hằng

Tác giả luận văn

Trần Thị Phƣơng Hằng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

3



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4




MỤC LỤC

Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng biểu
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
1. Lí do chọn đề tài .................................................................................................. 1
2. Đối tượng và nội dung nghiên cứu ....................................................................... 2




2.2. Thành tố chung ................................................................................................32
2.2.1. Khái niệm thành tố chung .............................................................................32
2.2.2. Thành tố chung trong địa danh thành phố Điện Biên Phủ và huyện
Điện Biên ....................................................................................................33
2.3. Địa danh (tên riêng) .........................................................................................38
2.3.1. Khái niệm địa danh.......................................................................................38
2.3.2. Số lượng yếu tố trong địa danh .....................................................................39
2.4. Đặc điểm cấu tạo của địa danh thành phố Điện Biên Phủ và huyện
Điện Biên ......................................................................................................44
2.4.1. Địa danh có cấu tạo đơn ...............................................................................45
2.4.2. Địa danh có cấu tạo phức .............................................................................46
2.5. Các phương thức định danh trong địa danh thành phố Điện Biên Phủ và
huyện Điện Biên ...........................................................................................51
2.5.1. Khái niệm về phương thức định danh............................................................51
2.5.2. Các phương thức định danh trong địa danh thành phố Điện Biên Phủ và
huyện Điện Biên ............................................................................................53
2.5.3. Tổng hợp kết quả ..........................................................................................62
2.5.4. Nhận xét về các phương thức định danh trong địa danh thành phố
Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên ................................................................63
2.6. Tiểu kết ...........................................................................................................65
Chƣơng 3: ĐẶC TRƢNG NGÔN NGỮ - VĂN HÓA TRONG ĐỊA
DANH THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ VÀ HUYỆN ĐIÊN BIÊN .....68
3.1. Một số vấn đề về ngôn ngữ và văn hóa ...........................................................68
3.1.1. Khái niệm văn hóa ........................................................................................68
3.1.2. Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa ........................................................69
3.1.3. Vài nét về văn hóa thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên được
thể hiện qua các địa danh .............................................................................72

Địa danh địa hình thiên nhiên

ĐD ĐVDC

:

Địa danh đơn vị dân cư

Biên Phủ và huyện Điện Biên ...................................................................... 107

ĐD CTNT

:

Địa danh công trình nhân tạo

3.7.1. Điện Biên Phủ............................................................................................. 107

ĐBP

:

Thành phố Điện Biên Phủ

3.7.2. Thành Bản Phủ và đền Hoàng Công Chất................................................... 115
3.7.3. Hồ U Va...................................................................................................... 121

ĐB

:

7



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

8




MỞ ĐẦU

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1. Kết quả thu thập địa danh thành phố Điện Biên Phủ và huyện
Điện Biên ..............................................................................................25
Bảng 2.1. Mô hình cấu trúc phức thể địa danh ở thành phố Điện Biên Phủ và
huyện Điện Biên ...................................................................................31
Bảng 2.2. Kết quả thống kê cấu tạo các thành tố chung ..........................................34
Bảng 2.3. Thống kê sự phân bố của các thành tố chung khi chuyển hóa

1. Lí do chọn đề tài
1.1. Địa danh là một bộ phận từ vựng của ngôn ngữ nói chung và tiếng Việt
nói riêng. Nghiên cứu địa danh một vùng cung cấp cho ta những cơ sở để tìm hiểu
những cơ chế định danh của một sự vật, hiện tượng. Mỗi ngôn ngữ có cách định
danh riêng.
1.2. Địa danh liên quan chặt chẽ đến lịch sử, văn hoá, cư dân của một vùng

thành các yếu tố trong địa danh ..............................................................38


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

9



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1




2. Đối tƣợng và nội dung nghiên cứu

phát triển địa lí học. Năm 1926, A. Dauzat (người Pháp) đã viết “Nguồn gốc và sự

2.1. Đối tượng nghiên cứu

phát triển địa danh”, đề xuất phương pháp văn hoá địa lí học để nghiên cứu các lớp

Các địa danh địa hình thiên nhiên, đơn vị dân cư và công trình nhân tạo của

niên đại của địa danh.

thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên và đặc điểm ngôn ngữ - văn hoá của
một số địa danh thuộc hai địa bàn này.

Từ sau năm 1960 đã có hàng loạt công trình nghiên cứu về lĩnh vực này được
ra đời. Chẳng hạn, A.V. Superanxkaja trong cuốn “Địa danh là gì?” (1985) và


ra hai nguyên tắc nghiên cứu địa danh là phải tìm ra các hình thức cổ của các từ cấu

thời qua đó bước đầu tìm hiểu về nội dung ngữ nghĩa địa danh.

tạo địa danh và muốn biết từ nguyên của địa danh thì phải dựa trên kiến thức ngữ

- Ở một chừng mực nhất định tìm hiểu mối quan hệ giữa ngôn ngữ - văn hoá
và lịch sử trong những địa danh nổi tiếng của thành phố Điện Biên Phủ và huyện
Điện Biên.

âm học địa phương. Đây là một chuyên khảo bổ sung thêm cho vấn đề mà A.I.
Popov đã đưa ra trước đó.
3.2. Vấn đề nghiên cứu địa danh ở Việt Nam

3. Lịch sử vấn đề

Ở Việt Nam, vấn đề địa danh được quan tâm từ rất sớm. Các tài liệu “Tiền

3.1. Vấn đề nghiên cứu địa danh trên thế giới

Hán thư”, “Địa lí chí”, “Hậu Hán thư”, “Tấn thư” trong thời Bắc thuộc có đề cập

Vấn đề nghiên cứu địa danh được phát triển từ lâu trên thế giới. Ở Trung

đến địa danh Việt Nam. Các tài liệu này đều do người Hán viết, phục vụ trực tiếp

Quốc, ngay từ thời Đông Hán (32 - 39 sau Công nguyên), Ban Cố đã ghi chép hơn

cho cuộc xâm lược nước ta. Bên cạnh đó cũng có những tác phẩm của các nhà


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2



3




đầu tiên trong nghiên cứu địa danh dưới góc nhìn ngôn ngữ học. Lê Trung Hoa với

4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

“Địa danh ở thành phố Hồ Chí Minh” (1991) đã đưa những vấn đề lý thuyết làm cơ

Trước chúng tôi đã có một số công trình luận án tìm hiểu địa danh TP Hồ

sở cho sự phân tích và chỉ ra các đặc điểm về cấu tạo, nguồn gốc, ý nghĩa… của

Chí Minh, Hải Phòng, Nghệ An, Quảng Trị, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và các vùng

thành phố Hồ Chí Minh. Đến 1996, Nguyễn Kiên Trường với luận án PTS “Những

khác. Với địa danh thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên, từ trước tới nay

đặc điểm chính địa danh Hải Phòng” đã bổ sung thêm những vấn đề lý thuyết mà


một cách công phu nhưng nặng về tập hợp tư liệu, tính lý thuyết chưa cao.

Đồng thời kết quả nghiên cứu này có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo bổ ích

3.3. Vấn đề nghiên cứu địa danh ở thành phố Điện Biên Phủ và huyện

trong việc giảng dạy lịch sử địa phương, trong giáo dục truyền thống, giữ gìn, phát
huy những giá trị lịch sử, văn hoá của địa phương.

Điện Biên
Địa danh Điện Biên nói chung, địa danh thành phố Điện Biên Phủ và huyện

5. Phƣơng pháp và tƣ liệu nghiên cứu

Điện Biên nói riêng là đối tượng hết sức mới mẻ, chưa có công trình nào đi sâu

5.1. Phương pháp nghiên cứu

nghiên cứu. Hiện mới chỉ có tác phẩm “Sông núi Điện Biên” (2000) của Trần Lê

Để tiến hành nghiên cứu đề tài này, công việc đầu tiên là phải thu thập tư

Văn là tác phẩm ghi lại những câu chuyện về một vài vùng đất ở Điện Biên mà tác

liệu, bổ sung và chỉnh lí các thông tin, thông số của địa danh. Mặt khác phải tra cứu

giả có dịp đặt chân đến. Và rải rác trong một số cuốn sách hay bài báo có đề cập đến

các tài liệu về lịch sử, địa lí, truyền thống văn hóa của thành phố Điện Biên Phủ và


5




- Phương pháp phân tích thành tố nghĩa: Dựa vào các cứ liệu ngôn ngữ, đặc
điểm tâm lí của con người và quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá, nghiên cứu một số
địa danh để tìm hiểu xuất xứ, nguồn gốc của một số địa danh nổi tiếng trong thành

Chƣơng 2. Đặc điểm cấu tạo của địa danh thành phố Điện Biên Phủ và
huyện Điện Biên
Chương này sẽ xác định cấu trúc phức thể địa danh của thành phố Điện Biên
Phủ và huyện Điện Biên gồm thành tố chung và tên riêng. Nội dung của chương sẽ

phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên.

đi sâu tìm hiểu những đặc điểm về cấu tạo của địa danh trong địa bàn và những

5.2. Tư liệu nghiên cứu
Với mục đích phản ánh đầy đủ, trung thực hệ thống địa danh địa hình thiên
nhiên, đơn vị dân cư và công trình nhân tạo trong thành phố Điện Biên Phủ và
huyện Điện Biên, chúng tôi đã tiến hành tập hợp các tư liệu cần thiết từ những
nguồn sau:

phương thức định danh những địa danh đó.
Chƣơng 3. Đặc trƣng ngôn ngữ - văn hoá trong địa danh thành phố Điện
Biên Phủ và huyện Điện Biên
Chương này sẽ đi sâu tìm hiểu ý nghĩa của các yếu tố cấu tạo nên địa danh.
Qua đó xác định được lí do đặt tên của địa danh và xác lập được một hệ thống các


6



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

7




Đại diện cho hướng nghiên cứu thứ hai là Lê Trung Hoa, Nguyễn Kiên

CHƢƠNG 1

NHỮNG CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỊA DANH

Trường, Từ Thu Mai, Phan Xuân Đạm.
Lê Trung Hoa cho rằng: “Địa danh là những từ hoặc ngữ cố định được dùng

VÀ ĐỊA DANH HỌC

làm tên riêng của địa hình thiên nhiên, các công trình xây dựng, các đơn vị hành
chính, các vùng lãnh thổ” [26, tr.21].

1.1. KHÁI NIỆM VỀ ĐỊA DANH
Cuộc sống của con người gắn với những điểm địa lí khác nhau. Những điểm
địa lí này được gọi bằng những từ ngữ riêng. Đó là những tên gọi địa lí (địa danh).
Những tên gọi này tạo nên một hệ thống riêng và tồn tại trong vốn từ của các ngôn
ngữ khác nhau trên thế giới. Những tên gọi địa lí, địa danh ấy được thể hiện bằng


tên làng”. Nguyễn Văn Âu cố gắng thoát ra khỏi quan niệm cho rằng địa danh học

Hiện nay đã có nhiều nhà nghiên cứu đưa ra những định nghĩa khác nhau về

“chuyên nghiên cứu về tên riêng”, ông “chú ý tới các từ chung”.

địa danh. Nhà ngôn ngữ học Nga A.V. Superanskaja trong cuốn “Địa danh là gì?”

Lê Trung Hoa là một trong những người có ý thức trình bày các vấn đề địa

đã cho rằng: địa danh là những từ ngữ biểu thị tên gọi “những địa điểm, mục tiêu

danh đặt trong khung cảnh ngôn ngữ học, hướng đến tính lý thuyết, tính hệ thống

địa lí”, “những địa điểm, mục tiêu địa lí đó là những vật thể tự nhiên hay nhân tạo

sớm hơn cả so với nhiều tác giả khác. Lê Trung Hoa cho rằng: “Địa danh là những

với sự định vị xác định trên bề mặt trái đất” [43, tr.13].

từ hoặc ngữ cố định được dùng làm tên riêng của địa hình thiên nhiên, các công

Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu địa danh học đã tiếp cận địa danh từ hai góc

trình xây dựng thiên về không gian hai chiều, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh

độ khác nhau là nghiên cứu địa danh từ góc độ địa lí - văn hóa và nghiên cứu địa

thổ” [26, tr.21]. Định nghĩa này thiên về việc chỉ ra ngoại diên của khái niệm, đồng

hình tự nhiên, địa danh đơn vị dân cư và địa danh công trình nhân tạo trên địa bàn

nhỏ. Bên cạnh đó, ông còn tiến hành phân loại theo nguyên ngữ, theo chức năng của

thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên.

địa danh.

1.2. PHÂN LOẠI ĐỊA DANH

Từ Thu Mai cho rằng, khi xác định khái niệm địa danh cần chú ý đến những

Hiện nay ở Việt Nam cũng như trên thế giới, các nhà ngôn ngữ học có những

vấn đề trong nội tại bản thân khái niệm. Định nghĩa của Từ Thu Mai có điểm xuất

cách phân loại khác nhau về địa danh. Chẳng hạn, G.P. Smolichnaja và M.V.

phát từ cách hiểu địa danh của A.V. Superanskaja.

Gorbanevskij cho rằng địa danh có bốn loại: Phương danh (tên các địa phương), sơn

Theo chúng tôi, mặc dù nằm trong hệ thống những loại hình khác nhau
nhưng các đối tượng địa lí bao giờ cũng xuất hiện trong thực tế với những cá thể
độc lập. Đầu tiên, người ta thường sử dụng các tên chung để định danh cho một đối
tượng cụ thể, được xác định. Nó chính là đơn vị định danh bậc hai trên cơ sở vốn từ
chung. Vì vậy, khi xác định khái niệm địa danh cần phải chú ý đến những vấn đề
nội tại trong bản thân địa danh. Trước hết, mỗi địa danh đều phải có tính lí do, phải
xác định được nguyên nhân đặt tên đối tượng. Chức năng gọi tên và cá thể hóa, khu
biệt đối tượng là tiêu chí thứ hai. Tiêu chí thứ ba là các đối tượng được gọi tên phải


những đối tượng thuộc về trái đất. Như vậy, các đối tượng ngoài trái đất như Trạm

Lê Trung Hoa phân loại địa danh dựa vào nguồn gốc địa danh. Cách phân

vũ trụ Hòa Bình, sao Hỏa… sẽ không được coi là địa danh. Điều này khác với quan

loại của ông dựa vào hai tiêu chí tính tự nhiên và không tự nhiên. Đây là cách phân

điểm của nhiều nhà khoa học nước ngoài.

loại thường gặp và tương đối hợp lý, có tính bao quát. Ông phân loại địa danh: Địa

Từ những vấn đề trên, chúng tôi tán thành quan điểm của Phan Xuân Đạm

danh chỉ địa hình thiên nhiên, địa danh chỉ công trình xây dựng, địa danh hành

khi ông cho rằng: “Địa danh là lớp từ ngữ đặc biệt, được định ra để đánh dấu vị trí,

chính, địa danh chỉ vùng.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

10



11


phức, giữa các yếu tố trong địa danh có các mối quan hệ: Quan hệ đẳng lập, quan hệ

khái niệm “loại hình địa danh” làm tiêu chí phân loại. Theo Từ Thu Mai có ba loại

chính phụ và quan hệ chủ vị. Về nguồn gốc ngôn ngữ, có những địa danh có nguồn

hình địa danh là địa danh địa hình thiên nhiên, địa danh đơn vị dân cư và địa danh

gốc tiếng Việt (thuần Việt, Hán Việt), có những địa danh có nguồn gốc tiếng dân

công trình nhân tạo. Trong đó, ở mỗi loại hình địa danh lại gồm những tiểu loại địa

tộc thiểu số và có cả những địa danh vay mượn từ tiếng nước ngoài.
1.3.2. Địa danh thƣờng diễn ra hiện tƣợng chuyển hóa

danh khác nhau.
Trên cơ sở tiếp thu ý kiến của những nhà nghiên cứu đi trước và theo mục
đích nghiên cứu của luận văn, chúng tôi cũng tán đồng cách phân loại theo tiêu chí
“tự nhiên - không tự nhiên” của Lê Trung Hoa và Từ Thu Mai. Chúng tôi phân loại
địa danh thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên thành ba loại: địa danh địa
hình thiên nhiên, địa danh đơn vị dân cư và địa danh công trình nhân tạo. Trong đó

Chuyển hóa là lấy tên gọi một đối tượng địa lí này để gọi một đối tượng địa
lí khác. Hiện tượng này có thể xảy ra các trường hợp như:
- Chuyển hóa trong nội bộ từng loại địa danh. Chẳng hạn, trong nội bộ địa
danh đơn vị dân cư: bản Noong Bua  phường Noong Bua, mường Lói  xã
Mường Lói; trong nội bộ địa danh địa hình thiên nhiên: hồ U Va  núi U Va, núi
Phà Lén  dãy núi Phà Lén.


được tạo nên bởi rất nhiều phương thức khác nhau: vừa dựa vào đặc điểm bản thân
đối tượng để đặt tên như: núi Pha Sung (vách cao), suối Púng (vũng), bản Noong

12



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

13




Chứn (ao chì), bản Đồi Cao, thác Trắng; vừa dựa vào sự vật, yếu tố có quan hệ chặt
chẽ với đối tượng như xã Nà Nhạn (ruộng nhạn), suối Hẹt (tê giác), núi Pú Co
Nghịu (núi cây bông gạo), đồn biên phòng Hua Pe (đầu suối Pe), bản Sam Mứn (ba
vạn); bên cạnh đó còn có phương thức ghép các yếu tố Hán Việt để đặt tên như: bản
Tân Quang, bản Thanh Bình, thôn Lập Thành, thôn Đoàn Kết; dùng số đếm, chữ cái

- Tìm hiểu sự nảy sinh, lan tỏa, sự phân bố của địa danh qua các không gian,
các khoảng thời gian khác nhau.
- Chuẩn hóa địa danh.
Trong những vấn đề lớn trên, người ta lại chia nhỏ thành nhiều vấn đề khác
nhau để nghiên cứu.

hoặc kết hợp cả hai yếu tố đó để đặt tên như: tổ dân phố 1, thôn 24, đội C1, cầu

Về quan điểm tín hiệu học, địa danh có tính lí do. Vậy, vấn đề quan trọng là


sự liên quan giữa sự phân bố của địa danh đối với các vùng, các đối tượng không

con vật, tên gọi các đấng siêu nhiên, thần linh, tên gọi các quả đồi, ngọn núi, tên các

gian địa lí…; lịch sử địa danh học chú ý nhiều đến các quá trình hình thành địa

công trình xây dựng để ở, tên người gọi theo dòng bố, tên gọi theo dòng mẹ, tên

danh, sự phát triển của địa danh, sự phân bố của địa danh có liên quan đến các tộc

người gọi theo con cháu… Bộ môn khoa học nghiên cứu về tên gọi như vậy được

người, đối chiếu địa danh học nghiêng về sự đối sánh để tìm ra những nét tương

gọi là danh học. Các địa danh cũng chỉ là một trong nhiều đối tượng nghiên cứu của

đồng và dị biệt giữa hệ thống địa danh của tộc người này, dân tộc này, đất nước này

khoa học được đặt trong thế phân biệt với nhân danh học. Đặt trong khung cảnh của

với tộc người khác, dân tộc khác, đất nước khác, tìm hiểu tính chất nhân học trong

ngôn ngữ học, địa danh học nằm trong lòng bộ môn từ vựng học, vì đối tượng

địa danh.

nghiên cứu của địa danh học chính là các từ ngữ được sử dụng để đặt tên, gọi tên.
Địa danh học là một bộ môn ngôn ngữ học chuyên nghiên cứu về nguồn gốc,
cấu tạo, ngữ nghĩa, sự biến đổi, sự lan tỏa, phân bố của địa danh. Người chuyên
nghiên cứu về địa danh được gọi là nhà địa danh học.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15




Biên); có diện tích tự nhiên là 6.009,05 ha. Còn huyện Điện Biên có vị trí: phía Bắc

sông suối. Điện Biên có nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng về chủng loại, gồm

giáp huyện Mường Chà và huyện Tuần Giáo (tỉnh Điện Biên), phía Đông giáp

các loại chính như: nước khoáng, than mỡ, đá vôi, đá đen, đá granit, quặng sắt và

huyện Điện Biên Đông (tỉnh Điện Biên) và huyện Sốp Cộp (tỉnh Sơn La), phía Tây

kim loại màu... nhưng trữ lượng thấp và nằm rải rác trong tỉnh. Là tỉnh miền núi nên

và phía Nam giáp Lào; có diện tích tự nhiên là 163.985 ha.

Điện Biên có tiềm năng rừng và đất rừng rất lớn. Diện tích rừng và đất rừng chiếm

Cấu trúc địa hình thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên mang một số

tới 79,30% tổng diện tích tự nhiên với nhiều loại rừng phong phú, đa dạng, phân bố

đặc điểm nổi bật của địa hình toàn tỉnh: núi thấp dần và đổ dồn xuống các sông và

trên các kiểu địa hình khác nhau. Rừng có hệ động, thực vật đa dạng và một số loại

lớn, nhỏ khác.
Ngoài ra hai địa bàn này còn có một hệ thống hồ chứa nước lớn, những hồ đó
là nguồn trữ nước của công trình thủy lợi Nậm Rốm, cung cấp nước tưới cho toàn
bộ đồng ruộng vùng lòng chảo, nuôi hải sản, bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó có hồ
còn là điểm tham quan, du lịch sinh thái nổi tiếng và hấp dẫn của Điện Biên.
Điện Biên là cửa ngõ phía Tây Bắc của vùng Bắc Bộ nước ta, là tỉnh duy
nhất có chung đường biên giới với hai quốc gia Trung Quốc và Lào trong đó huyện
Điện Biên có chung đường biên giới với Lào qua hai cửa khẩu Huổi Puốc và Tây
Trang. Điện Biên còn có quốc lộ 279 nối liền Điện Biên - Lào và quốc lộ 12 chạy từ
thành phố Điện Biên Phủ tới thị xã Lai Châu cùng với hệ thống giao thông biên giới

núi cao và đất dốc của huyện thuận lợi cho sản xuất lâm nghiệp, chăn nuôi đại gia

và con đường xuyên Á đang từng bước được đầu tư xây dựng. Bên cạnh đó Điện

súc, phát triển thủy điện và xây dựng các hồ chứa nước phục vụ sinh hoạt, cung cấp

Biên còn có cảng hàng không Điện Biên Phủ hoạt động thường xuyên nhằm phục

nước cho sản xuất nông nghiệp vùng lòng chảo.

vụ khách đến tham quan du lịch và đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân trong vùng.

Thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên có các nhóm đất chính là:

Cảng này đang được đầu tư để mở đường bay tới các nước trong khu vực. Chính

nhóm đất phù sa, nhóm đất đen, nhóm đất feralit mùn vàng đỏ trên núi, nhóm đất

những sự kiến tạo này đã làm cho Điện Biên có điều kiện trở thành đầu mối giao

Thời Hùng Vương, thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên ngày nay

Châu nhập cùng Chiến khu 10 và một phần Chiến khu 1 thành liên khu Việt Bắc.

thuộc bộ Tân Hưng; thời Lý thuộc lộ Đà Giang; thời Trần thuộc châu Ninh Viễn;
thời Lê thuộc trấn Gia Hưng. Năm 1463, trấn Hưng Hóa được thành lập gồm 3 phủ:

- Năm 1948, Lai Châu và Sơn La hợp nhất thành tỉnh Sơn Lai. Ngày 12-11952, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 145-TTg tái lập hai tỉnh.

Gia Hưng, Quy Hóa, An Tây gồm một vùng đất đai, sông núi rộng mênh mông

- Ngày 26-1-1953, để củng cố căn cứ địa Tây Bắc mới giải phóng, Chủ tịch Hồ

tương đương với các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Yên Bái, Lào Cai, Phú Thọ ngày nay.

Chí Minh ký Sắc lệnh số 134-SL thành lập Khu Tây Bắc gồm các tỉnh Lào Cai, Yên

Thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên lúc đó thuộc phủ An Tây. Phủ An

Bái, Sơn La và Lai Châu, tách khỏi Liên khu Việt Bắc. Đồng thời, Khu ủy Tây Bắc

Tây có 10 châu: Lai, Luân, Quỳnh Nhai, Chiêu Tấn, Tùng Lăng, Lễ Tuyền, Hoàng

cũng ra Quyết định chuyển huyện Thuận Châu từ tỉnh Sơn La sang tỉnh Lai Châu.
- Ngày 7-5-1954, chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng, Lai Châu được giải

Nham, Hợp Phì, Tuy Phụ và Khiêm.
Đời Lê Cảnh Hưng (1740-1768), 6 châu của nước ta là: Tùng Lăng, Hoàng

phóng, hòa bình được lập lại trên miền Bắc nước ta.


1891). Sau đó Đạo quan binh thứ tư tách thành Tiểu quân khu Vạn Bú và Tiểu quân
khu Lai Châu. Ngày 10-10-1859, hai tiểu quân khu trên sáp nhập thành tỉnh Vạn Bú.
Ngày 7-4-1904, tỉnh lỵ Vạn Bú chuyển về Sơn La. Đến ngày 23-8-1904, tỉnh Vạn Bú
đổi thành tỉnh Sơn La. Ngày 28-6-1909, Toàn quyền Đông Dương Klobukowski ra

Ngày 7-10-1995, Chính phủ ra Nghị định số 59/NĐ-CP về thành lập huyện
Điện Biên Đông trên cơ sở tách ra từ huyện Điện Biên.
Ngày 26-09-2003, Chính phủ ra Nghị định số 110/2003/NĐ-CP về thành lập
thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Lai Châu.

Nghị định thành lập tỉnh Lai Châu gồm: Đạo Lai (châu Lai, châu Quỳnh Nhai và phủ

Ngày 26-11-2003, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra

Luân Châu), châu Điện Biên và phủ Tuần Giáo, dân số khoảng 4 vạn người. Đến 27-

Nghị quyết số 22/2003/QH11 về việc chia và điều chỉnh địa giới hành chính một số

3-1916, tỉnh Lai Châu lại chuyển thành Đạo quan binh thứ tư theo chế độ quân quản,

tỉnh, trong đó có Lai Châu. Tỉnh Lai Châu (cũ) được chia thành tỉnh Lai Châu (mới)

có một thời gian ngắn chúng áp dụng chế độ cai trị hành chính.

và tỉnh Điện Biên. Ngày 1-1-2004, hai tỉnh chính thức đi vào hoạt động. Đến nay

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Các điệu múa xòe, múa nón, múa sạp rộn ràng, duyên dáng của người Thái

xã (đó là xã Thanh Minh). Thành phố Điện Biên Phủ là tỉnh lỵ của tỉnh Điện

cùng các điệu múa ô, múa khèn của người Mông; múa chuông của người Dao; múa

Biên. Còn huyện Điện Biên sau khi trải qua nhiều lần điều chỉnh địa giới, đến

lắc mông, lượn eo đặc sắc riêng của người Khơ Mú và Xinh Mun; múa trống, múa

nay có diện tích tự nhiên là 163.985 ha và gồm 19 đơn vị hành chính trực thuộc

Tăng Bu (dỗ ống) của người La Ha... đã góp phần làm cho kho tàng nghệ thuật của

ở cấp xã (đó là các xã Mường Lói, Mường Nhà, Mường Phăng, Mường Pồn, Nà

đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Bắc thêm phong phú, đa dạng.

Nhạn, Nà Tấu, Na Ư, Noong Hẹt, Noong Luống, Núa Ngam, Pa Thơm, Sam Mứn,

Các dân tộc ở thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên còn có văn hóa

Thanh An, Thanh Chăn, Thanh Hưng, Thanh Luông, Thanh Nưa, Thanh Xương và

lễ hội hết sức đặc sắc. Các lễ hội diễn ra gần như quanh năm, tùy theo từng dân tộc

Thanh Yên) [6], [8], [49].

và theo vùng. Chẳng hạn, lễ hội Thành Bản Phủ (còn gọi là lễ hội Hoàng Công


văn hóa đa dạng của đồng bào các dân tộc trong vùng [6], [8], [16], [27], [49].

trong lễ tang, trong lễ hội, các bài văn vần dạy bảo đạo đức cho dâu dể trong đám

1.5.4. Về dân cƣ

cưới, các thần thoại, đồng thoại, cổ tích, truyện cười…

Thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên được coi là quê hương của

Các công trình kiến trúc mang đậm bản sắc dân tộc như thành Bản Phủ,
thành Tam Vạn, di tích Chùa Pá Sa…

hai mươi dân tộc anh em (gồm Thái, Kinh, Mông, Khơ Mú, Lào, Dao, Hà Nhì, La
Hủ, Giáy, Phù Lá, Cống, Si La, Kháng, Lô Lô, Hoa, Lự, Tày, Nùng, Mường, Xinh

Trong số 20 dân tộc ở thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên, người

Mun) trong đó 5 dân tộc đông nhất là: dân tộc Thái (53,71%), dân tộc Kinh

Thái là dân tộc sinh sống đông nhất và có truyền thống văn hóa lâu đời. Họ có chữ

(27,85%), dân tộc Mông (8,5%), dân tộc Khơ Mú (5%), dân tộc Lào (3,17%) [6,

viết riêng, thuộc hệ chữ Phạn nên đã ghi chép được nhiều diễn biến về các lĩnh vực

tr.24]. Đến năm 2007, dân số thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên là

kinh tế, văn hóa, xã hội trong tỉnh đồng thời qua giao lưu, họ còn tiếp thu được



vào những năm cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX. Họ có tinh thần đấu tranh kiên

với người Thái, có mặt ở Điện Biên từ những thế kỷ đầu Công nguyên và đã để lại

cường, bất khuất và truyền thống này đã được phát huy trong cuộc kháng chiến

nơi đây nhiều di tích lịch sử) nhưng từ trước đến nay là cư dân chiếm số đông nhất

chống Pháp, chống Mỹ, chống biệt kích gián điệp, bảo vệ an ninh Tổ quốc và phá

ở Điện Biên. Họ thiên di đến Mường Thanh (Điện Biên) qua nhiều thời kỳ lịch sử

tan âm mưu diễn biến hòa bình của những thế lực phản động.

khác nhau. Đầu tiên họ theo người tù trưởng Thái đen là Lạng Chượng tiến quân

Người Khơ Mú (còn gọi người Xá) là một dân tộc lâu năm cư trú trên đất

vào đất Mường Thanh từ khoảng thế kỷ XII - XIII. Có lẽ vì thế nên người Thái ở

nước Lào, họ vào Tây Bắc, đến Điện Biên bằng một mối tình chiến đấu anh em giữa

Điện Biên hiện nay phần lớn thuộc ngành Thái đen. Sau đó sự thiên di gần đây nhất

nhân dân hai nước. Họ đã theo người tù trưởng của mình là Chương Han liên minh

và ồ ạt nhất là thời kỳ Cầm Ten (hay Bạc Cầm Tiến) liên kết với người tù trưởng

với người Thái dưới sự lãnh đạo của tù trưởng Cầm Ten (hay Bạc Cầm Tiến) đánh


Họ sống tập trung bên những cánh đồng phì nhiêu, ven theo các sườn đồi hoặc dọc

các thành phố, thị trấn. Họ đến Điện Biên qua những thời kỳ khác nhau: theo sự chỉ

theo các con sông nhỏ, các khe suối râm mát. Họ cũng là những con người cần cù,

đạo của triều đình phong kiến khi triều đình thấy đây là một vùng đất có vị trí quan

khéo léo, ưa cuộc sống hòa bình và cũng có tinh thần đấu tranh kiên cường bất

trọng phía Tây Tổ quốc, theo nghĩa quân Hoàng Công Chất lên giải phóng đất

khuất [6], [8].

Mường Thanh khỏi ách thống trị của giặc Phẻ hay có một số gia đình người Kinh vì

1.5.5. Về ngôn ngữ

nghèo khổ mà phải lên đây lập nghiệp. Lúc đó người Kinh chỉ sống rất rải rác, thưa

Thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên là hai địa bàn đa dân tộc, đa

thớt. Người Kinh lên Điện Biên đông nhất là sau khi chiến dịch Điện Biên Phủ lịch

ngôn ngữ. Có đến 20 dân tộc khác nhau sinh sống trong vùng và ngôn ngữ của các

sử kết thúc, họ theo lời kêu gọi của Đảng và Chính phủ lên xây dựng quê hương

dân tộc này lại thuộc vào những nhóm ngôn ngữ khác nhau.

Số lƣợng

Tỉ lệ (%)

1

Địa danh địa hình thiên nhiên

238

23,78

Nhóm ngôn ngữ Hán có dân tộc Hoa.

2

Địa danh đơn vị dân cƣ

624

62,34

Trong đó, tiếng Thái của dân tộc Thái chiếm đa số; sau đó đến tiếng Kinh

3

Địa danh công trình nhân tạo

139



danh công trình nhân tạo.

Như vậy ở thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên có khá nhiều dân

1.6.2.1. Địa danh địa hình thiên nhiên

tộc thuộc các nhóm ngôn ngữ khác nhau sinh sống trong đó chiếm số lượng lớn

Loại địa danh này gồm 238 trường hợp, chiếm 23,78%. Trong đó, sơn danh

nhất là các dân tộc người thuộc nhóm Tày - Thái và nhóm Việt - Mường. Điều đó sẽ

(gồm đồi, núi, dãy núi, đèo, thác) có ở 79 địa danh, chiếm 7,89%, chẳng hạn, dãy

tạo ra sự giao thoa về văn hóa, ngôn ngữ giữa các dân tộc và có tác động lớn đến

núi Phà Lén, đèo Huổi Chan, đồi Độc Lập; thủy danh (gồm sông, suối, hồ, khe) có

cách đặt địa danh trong hai địa bàn được nghiên cứu.

ở 149 địa danh, chiếm 14,89%, chẳng hạn, hồ Pa Khoang, sông Nậm Rốm, suối

1.6. KẾT QUẢ THU THẬP VÀ PHÂN LOẠI ĐỊA DANH

Huổi Phạ, khe Hát Si; những vùng đất nhỏ phi dân cư (gồm cánh đồng, hang, động)

1.6.1. Kết quả thu thập địa danh

có ở 10 địa danh, chiếm 1,0%, chẳng hạn, cánh đồng Mường Thanh, hang Huổi He,


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

25




1.6.2.3. Địa danh công trình nhân tạo

đó lấy phương pháp chính là ngôn ngữ học để nghiên cứu địa danh. Đó là phương

Loại địa danh này gồm 146 địa danh, chiếm 13,89%. Trong đó có 98 địa

pháp ngữ âm lịch sử, phương pháp địa lý - ngôn ngữ học, phương pháp từ vựng học

danh các công trình nhân tạo thuộc những hoạt động vật chất kĩ thuật của con người

và ngữ pháp học.

(gồm các tiểu loại địa danh: quốc lộ, đường, cầu, cầu treo, đập đầu mối, đập tràn,

1.7.3. Địa bàn thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên là địa bàn cư trú

đồn biên phòng, sân bay, cứ điểm, thành, hầm, nhà máy thủy điện, cửa khẩu, công

lâu đời của dân tộc Thái. Vì vậy những đặc điểm về văn hóa Thái ảnh hưởng rất lớn

trình thủy lợi, công trình đại thủy nông, kênh, khu du lịch, khu khảo cổ học, quần


trang liệt sĩ Him Lam, đền Hoàng Công Chất, chùa Vạt Bu Hôm, di tích Mường

1.7.4. Kết quả thống kê địa danh thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện
Biên theo tiêu chí tự nhiên - không tự nhiên cho thấy địa danh trong hai địa bàn này

Pồn, di tích Noong Nhai.
1.7. TIỂU KẾT

đã phản ánh khá trung thực địa hình tự nhiên và cảnh quan trong vùng. Đó là địa

Qua sự trình bày một số cơ sở lý thuyết, chúng tôi đã thể hiện quan điểm của

hình đồi núi, sông ngòi dày đặc tạo nên các loại hình địa danh gồm sơn danh, thủy

mình về định nghĩa địa danh đồng thời là nội hàm làm việc của luận văn này.

danh và các vùng đất nhỏ phi dân cư khá đa dạng, độc đáo.

1.7.1. Địa danh học là một ngành của ngôn ngữ học có nhiệm vụ nghiên cứu
sự ra đời, cấu tạo, ngữ nghĩa và sự biến đổi, lan tỏa, phân bố của các địa danh.
Việc nghiên cứu địa danh đã xuất hiện từ rất lâu trên thế giới nhưng mãi đến
cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, nghiên cứu địa danh mới trở thành ngành khoa học ra
đời đầu tiên ở Âu Mỹ, liên bang Xô Viết (cũ). Ở Việt Nam, những tài liệu về địa danh,
liên quan đến địa danh cũng xuất hiện từ khá sớm nhưng địa danh học Việt Nam thực
sự có được một bước tiến đáng kể vào những thập niên cuối thế kỷ XX. Tuy nhiên,
chúng ta cũng chưa có được những công trình nghiên cứu về địa danh có tầm cỡ.
1.7.2. Khi nghiên cứu địa danh cần xác định đúng nội hàm của khái niệm địa
danh và các cách phân loại địa danh. Đồng thời cần vận dụng các phương pháp liên
ngành: sử học, địa lý học, dân tộc học, khảo cổ học... để nghiên cứu địa danh trong


danh đó luôn được đặt trong một cấu trúc, một chỉnh thể nhất định. Việc xác định
địa danh trong các tổ hợp từ ngữ hay trong một cấu trúc cụ thể giúp chúng ta phân

riêng đó mới được coi là địa danh.
Tiếp thu kết quả nghiên cứu của các nhà địa danh học đi trước, chúng tôi
cũng xác định một cấu trúc phức thể địa danh gồm hai bộ phận là từ ngữ chung và
tên riêng. Chẳng hạn có những phức thể địa danh như: thành phố Điện Biên Phủ,
huyện Điện Biên, di tích Cầu Mường Thanh, hầm Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đồi
A1, sông Nậm Rốm, dãy núi Pú Hồng Mèo trong đó bộ phận từ ngữ chung là các từ:

tích được các yếu tố cấu tạo địa danh cũng như có cách thể hiện chúng dưới dạng

thành phố, huyện, di tích, hầm, đồi, sông, dãy núi còn bộ phận tên riêng là những

văn tự đúng đắn và phù hợp. Khi nghiên cứu địa danh, nhiều nhà nghiên cứu đưa ra

từ, ngữ còn lại: Điện Biên Phủ, Điện Biên, Cầu Mường Thanh, Đại tướng Võ

quan niệm về mô hình cấu trúc địa danh. Chẳng hạn, A.V. Superanskaja, một nhà

Nguyên Giáp, A1, Nậm Rốm, Pú Hồng Mèo.

nghiên cứu địa danh người Nga, trong cuốn “Địa danh học là gì?” đã dùng thuật

Mỗi bộ phận đó có vai trò, chức năng riêng nhưng được đặt trong mối quan

ngữ tên chung và tên riêng để phân biệt hai cấu trúc cụm từ trong cấu trúc phức thể

hệ gắn bó, thống nhất với nhau. Bộ phận từ ngữ chung dùng để gọi tên các đối


tượng địa lí đó.

Từ Thu Mai: “Khi đã phân biệt thành bộ phận từ ngữ chung và bộ phận tên

Chẳng hạn trong những phức thể địa danh như đồi A1, đồi Cháy, đồi Pom

riêng, địa danh được hiểu chỉ là bộ phận tên riêng, còn bộ phận từ ngữ chung được đặt

Lót, đồi C2 thì đối tượng địa lí được hạn định ở đây chỉ có “đồi”, đó là dạng địa

trước tên riêng đó chỉ có tính chất đi kèm, chỉ loại hình đối tượng địa lí” [31, tr.55].

hình lồi, có sườn thoải, thường không cao quá 200m; nhưng các “đồi” này không

Phan Xuân Đạm: “Mỗi địa danh gồm hai thành tố: thành tố chung (A) là từ,
ngữ danh pháp và thành tố riêng (B) là tên riêng... Thành tố thứ nhất giúp chúng ta
nhận biết loại hình của đối tượng địa lí, thành tố thứ hai giúp chúng ta khu biệt đối
tượng” [20, tr.51-52].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

28



giống nhau do được khu biệt bởi các yếu tố hạn định: A1, Cháy, Pom Lót, C2.
Như vậy, trong cấu trúc phức thể địa danh thì bộ phận tên riêng mới được coi
là địa danh và địa danh này có cấu trúc nội bộ riêng (từ đây chúng tôi sẽ thống nhất

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



YT 3

YT 4 YT 5 YT 6 YT 7 YT 8 YT 9 YT 10

YT 11

YT 12

Biên

Phủ

bàn này.
Ví dụ

Qua khảo sát 1001 địa danh trong thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện
Biên, chúng tôi xác định mô hình khái quát về cấu trúc phức thể địa danh như bảng 2.1.

Bản

Ban

31

minh Nghĩa trang liệt



họa


Phủ

Đường kéo

pháo

của

quân

ta

Khoang



Sở

chỉ

lịch

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

sử

Độc

nhiên những địa danh loại này lại có số lượng ít đó là những địa danh công trình

2.2.2.1. Số lượng các thành tố chung

nhân tạo (di tích, tượng đài, khu du lịch…). Điều đó cũng phù hợp khi tên gọi của

Trong tổng số 1001 phức thể địa danh thành phố Điện Biên Phủ và huyện

các phức thể địa danh gắn liền với những sự kiện, biến cố lịch sử cụ thể hay các

Điện Biên, chúng tôi tập hợp và thống kê được 50 loại hình đối tượng địa lí tương

cụm địa điểm du lịch trong vùng. Trái lại các phức thể địa danh mà thành tố chung

tương với 50 thành tố chung. Các thành tố này phân bố khác nhau trong các nhóm

cũng như địa danh gồm ít các yếu tố (có thể là 1, 2 hoặc 3 yếu tố) lại chiếm số

loại hình địa danh. Cụ thể:

lượng lớn. Điều đó cho thấy trong cấu tạo địa danh, các địa danh ngắn gọn, giản

- Trong loại hình địa danh địa hình thiên nhiên có 12 thành tố chung, chiếm

đơn được sử dụng phổ biến hơn cả. Ở các phức thể đó, thành tố chung và địa danh

24,0%, thể hiện qua 238 địa danh. Trong đó có 5 thành tố chung thuộc sơn danh,

luôn có mối quan hệ gắn bó, khăng khít.


danh từ chung vốn được dùng để gọi tên và để xếp loại các đối tượng cùng kiểu, có

chiếm 16,0% qua 619 địa danh, chẳng hạn thành phố Điện Biên Phủ, huyện Điện

cùng đặc điểm nhất định” [43, tr.13].

Biên, phường Tân Thanh, xã Thanh An, tổ dân phố 25, bản Nà Nghè, thôn Việt

Như vậy, thành tố chung trong phức thể địa danh là bộ phận từ ngữ dùng để

Thanh, đội 10; có 1 thành tố chung chỉ đơn vị dân cư cũ, hiện nay không còn sử

chỉ những đối tượng địa lí có cùng thuộc tính, bản chất được xếp vào cùng một loại

dụng trong chính quyền hành chính đó là địa danh “mường”, chiếm 2,0% xuất hiện

hình. Thành tố chung có đầy đủ các mặt chức năng, cấu tạo, vị trí và ý nghĩa. Chức

trong 5 địa danh, chẳng hạn, mường Phăng, mường Nhà.

năng của nó là gọi tên và chỉ một lớp đối tượng có cùng thuộc tính; chúng có cấu

- Trong loại hình địa danh các công trình nhân tạo có 29 thành tố chung,

tạo là những danh từ chung hay ngữ danh từ chung và trong phức thể địa danh

chiếm 58,0%, được thể hiện qua 146 địa danh. Trong đó, loại địa danh các công

chúng có vị trí đứng trước địa danh để phản ánh loại hình của đối tượng được định



chiếm 10,0% và được thể hiện qua 41 địa danh, chẳng hạn, bảo tàng Tỉnh Điện

Thành tố chung và địa danh có mối quan hệ qua lại, bổ sung, hỗ trợ cho nhau.

Biên, nghĩa trang liệt sĩ Độc Lập, đền Hoàng Công Chất, chùa Vạt Bu Hôm, di

Thành tố chung là cái được hạn định trong phức thể địa danh nên nó thực hiện chức

tích Sân bay Hồng Cúm.

năng rất quan trọng là đi kèm và phân biệt loại hình cho địa danh. Chẳng hạn, cùng một
địa danh Điện Biên Phủ nhưng khi đi sau các thành tố chung khác nhau như thành phố,

2.2.2.2. Cấu tạo của các thành tố chung
Khi coi mỗi âm tiết là một yếu tố thì trong 50 thành tố chung chỉ loại hình đối
tượng địa lí được định danh có 25 thành tố chung có cấu tạo đơn yếu tố, chiếm 50%
chẳng hạn bản, thôn, đội, đèo, hang, động, kênh, cầu, hầm. Loại thành tố chung có cấu
tạo phức thường có độ dài từ hai yếu tố trở lên và tối đa là 7 yếu tố. Trong đó thành tố

nghĩa trang liệt sĩ, sân bay, quần thể khu di tích lịch sử thì các phức thể địa danh này
cũng khác nhau và có sự phân biệt rõ ràng về loại hình đối tượng địa lí, ta có các phức
thể địa danh khác nhau như: thành phố Điện Biên Phủ, nghĩa trang liệt sĩ Điện Biên
Phủ, sân bay Điện Biên Phủ, quần thể khu di tích lịch sử Điện Biên Phủ.
Các thành tố chung cũng có sự linh hoạt trong các phức thể địa danh, chúng

chung được cấu tạo bởi 2 yếu tố có tới 14 thành tố chung, chiếm số lượng lớn nhất chẳng

không chỉ đứng ở trước địa danh và thực hiện chức năng phân biệt loại hình cho địa


Ví dụ

1

Một yếu tố

25

50

Bản Sam Mứn

2

Hai yếu tố

14

30

Cánh đồng Mường Thanh

3

Ba yếu tố

5

10


để chuyển hóa thành một hoặc một vài yếu tố nào đó trong địa danh thì các thành tố
chung có cấu tạo đơn dễ dàng chuyển hóa hơn cả. Còn trường hợp thành tố chung
có cấu tạo phức chuyển hóa thành địa danh có số lượng rất nhỏ trong địa danh các
đơn vị dân cư và địa danh các công trình nhân tạo, các thành tố chung này có cấu
tạo hai hoặc bốn yếu tố, chẳng hạn, thôn Nhà Trường, di tích Sân bay Hồng Cúm, di
tích Trung tâm đề kháng Him Lam...
Trong tổng số 1001 địa danh đã được điều tra và thu thập ở thành phố Điện

Công trình đại thủy nông

Biên Phủ và huyện Điện Biên, chúng tôi thống kê được 484 trường hợp các thành tố

Nậm Rốm

chung được chuyển hóa vào 437 địa danh ở các vị trí, các yếu tố khác nhau. Các

Quần thể khu di tích lịch

thành tố chung này biểu thị cả địa hình thiên nhiên, đơn vị dân cư và các công trình

sử Điện Biên Phủ

nhân tạo trong đó các thành tố chung biểu thị địa hình thiên nhiên được chuyển hóa
nhiều nhất vào các địa danh.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

34



đề kháng Đồi Bản Kéo.

địa danh có số lượng yếu tố lớn và chứa nhiều thành tố chung khác nhau chuyển

- Thành tố chung chuyển hóa thành yếu tố thứ bảy có ở 5 trường hợp, chiếm
1,03%. Chẳng hạn, tượng đài Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, bảo tàng Chiến

hóa thành. Cụ thể:
- Thành tố chung chuyển hóa thành yếu tố thứ nhất hoặc độc lập tạo thành

thắng lịch sử Điện Biên Phủ, di tích đồi phát hiện trống đồng bản Na Hý.

địa danh: có 408 trường hợp, chiếm 84,91% trong đó chỉ có 3 trường hợp thành tố

- Còn lại các trường hợp thành tố chung chuyển hóa thành yếu tố thứ tám, yếu tố

chung chuyển hóa và độc lập tạo thành địa danh, chiếm 0,61%. Chẳng hạn, trường

thứ mười và yếu tố thứ mười hai trong đó thành tố chung chuyển hóa thành yếu tố thứ

hợp thành tố chung chuyển hóa thành yếu tố thứ nhất trong địa danh: di tích Thành
Tam Vạn, cầu treo Nậm Thanh (suối xanh), khu khảo cổ học Hồ U Va, khe Hồng
Cúm (khe cái cúm), núi Pá Chả (rừng trúc), bản Phiêng Ban (bãi cây ban), thôn
Trại Lúa, xã Noong Hẹt (ao tê giác); trường hợp thành tố chung chuyển hóa và độc
lập tạo thành địa danh: suối Cảnh (thác), bản Kéo (đèo), suối Thẩm (hang).
- Thành tố chung chuyển hóa thành yếu tố thứ hai trong địa danh có 39
trường hợp, chiếm 8,06%. Chẳng hạn, cầu Pắc Nậm (cửa suối), bản Che Phai (cạnh
đập nước), bản Càng Ná (giữa cánh đồng), thôn Thanh Sơn (núi xanh), động Pa
Thơm (cửa hang), đồi Bản Kéo (bản đèo), hang Chùa Pá Sa (chùa rừng cây sa).



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

và thứ ba trong địa danh.
Sự phân bố các thành tố chung khi chuyển hóa thành các yếu tố trong địa
danh được thể hiện ở bảng 2.3.

36



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

37




Bảng 2.3: Thống kê sự phân bố của các thành tố chung khi chuyển hóa thành

một bộ phận nhỏ có nguồn gốc tiếng Pháp. Những yếu tố tiếng dân tộc thiểu số này

các yếu tố trong địa danh

thường được phiên âm ra tiếng Việt để tìm hiểu những đặc điểm về cấu tạo và ý

Vị trí

YT1 YT 2 YT 3 YT 4 YT 5 YT 6 YT 7 YT 8 YT 9 YT 10 YT 11 YT12 Tổng



0

0,62

0

0,21

100

có nghĩa là những phức thể địa danh nơi đây vừa mang những đặc trưng của tiếng
Việt vừa mang những nét riêng của ngôn ngữ, văn hóa trong vùng. Chẳng hạn, các

Tỉ lệ (%) 84,91 8,06 2,69 0,62 1,24 0,41 1,03 0,21

địa danh được cấu tạo bởi những yếu tố Hán Việt: Thanh Xuân, Việt Hưng, Mỹ
Hưng, Thanh Bình, các địa danh cấu tạo bởi những yếu tố thuần Việt: Mới, Nhà

2.3. ĐỊA DANH (TÊN RIÊNG)

trường... cũng giống như ở nơi khác, nhưng cấu tạo bằng các yếu tố tiếng dân tộc

2.3.1. Khái niệm địa danh

thiểu số như Ná Khưa, Noong Bua, Huổi Co Củ, Pú Co Nghịu, Tằng Quái... thì

Địa danh (tên riêng) trong phức thể địa danh là tên gọi riêng của từng đối

mang đậm tính dân tộc và địa phương. Địa danh nơi đây cũng có đầy đủ những kiểu


Chức năng quan trọng nhất của địa danh là gọi tên và phân biệt đối tượng
này với đối tượng khác trong cùng một loại hình và giữa các loại hình với nhau.
Với chức năng như trên, trong cấu tạo, địa danh thường do những danh từ

định danh chỉ lựa chọn một đặc điểm nào đó có liên quan giữa đối tượng mới và đối
tượng cũ để gọi tên đối tượng mới.
2.3.2. Số lƣợng yếu tố trong địa danh

hoặc cụm từ (chủ yếu là cụm danh từ) tạo thành. Nói cách khác, địa danh là những

Các địa danh trong tổng số 1001 địa danh ở hai địa bàn nghiên cứu có độ dài

đơn vị tương đương với từ hoặc ngữ. Nghiên cứu địa danh trong phức thể của nó

khác nhau, địa danh có cấu tạo đơn giản nhất chỉ gồm một yếu tố còn địa danh có

chính là nghiên cứu cấu tạo từ tiếng Việt để “phát hiện ra cơ chế của sự cấu tạo từ,

cấu tạo phức tạp nhất gồm mười hai yếu tố. Ở đây chúng tôi coi mỗi yếu tố tương

từ đó để nhận thức từ” [14, tr.36]. Những yếu tố cấu tạo địa danh thành phố Điện

đương với một âm tiết có nghĩa.

Biên Phủ và huyện Điện Biên có nguồn gốc từ nhiều ngôn ngữ khác nhau, ngoài bộ
phận từ, ngữ tiếng Việt còn phần lớn là các yếu tố có nguồn gốc ngôn ngữ dân tộc

2.3.2.1. Kết quả thống kê số lượng các yếu tố trong địa danh
Số lượng các yếu tố trong địa danh thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện


23,78%) có 52 trường hợp có cấu tạo chỉ một yếu tố, chiếm 5,20% (chẳng hạn, đồi

ĐD ĐHTN ĐD ĐVDC ĐD CTNT

cộng

(%)

Cháy, đồi Thông, sông Mã, suối Cảnh, suối Lương); có 158 địa danh có cấu tạo hai

1

Một yếu tố

52

186

8

246

24,40

yếu tố, chiếm 15,79% (chẳng hạn, núi Đất Lẻ, núi Pu Hang, đèo Cò Chạy, suối Hai

2

Hai yếu tố


Bốn yếu tố

1

1

5

7

0,69

Lếch Phay, suối Nậm Phăng Nọi) và chỉ có 1 địa danh bốn yếu tố, chiếm 0,1%

5

Năm yếu tố

0

0

2

2

0,20

(chẳng hạn, núi Pu Nậm Khẩu Hú); còn các địa danh có cấu tạo từ bốn yếu tố đến


tạo hai yếu tố chiếm tỉ lệ cao nhất.

8

Tám yếu tố

0

0

2

2

0,20

Trong 624 địa danh (chiếm 62,34%) đơn vị dân cư về mặt cấu tạo chỉ gồm từ

9

Chín yếu tố

0

0

1

1


0

0

so với địa danh đơn yếu tố (với 186 địa danh). Trong đó loại có hai yếu tố là 305

12

Mười hai yếu tố

0

0

1

1

0,10

238

624

139

1001

100

càng nhỏ. Cụ thể, địa danh hai yếu tố là 73 trường hợp, chiếm 7,29% (chẳng hạn,

* Về loại hình địa danh và số lượng các yếu tố

đường Trần Can, cầu Mường Thanh, nhà máy thủy điện Thác Trắng, đập trần Ta

Ở các loại hình địa danh khác nhau trong địa danh thành phố Điện Biên Phủ

Lét, khu du lịch Hua Pe); địa danh ba yếu tố là 34 trường hợp, chiếm 3,40% (chẳng

và huyện Điện Biên, các địa danh có số lượng yếu tố không giống nhau.

hạn, khu du lịch Hồ Huổi Phạ, sân bay Điện Biên Phủ, di tích Chùa Pá Sa); địa

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

40



41





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status