BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
----------
PHẠM QUANG TUẤN
PHÂN TÍCH RỦI RO TÀI CHÍNH CỦA
CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH CHẾ BIẾN LƢƠNG THỰC
THỰC PHẨM NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG
KHOÁN VIỆT NAM
Chuyên ngành: KẾ TOÁN
Mã số: 60.34.03.01
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Đà Nẵng – Năm 2016
Công trình được hoàn thành tại
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. ĐƢỜNG NGUYỄN HƢNG
Phản biện 1: PGS.TS. Hoàng Tùng
Phản biện 2: TS. Trần Thượng Bích La
Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp
thạc sĩ Kế toán họp tại Đại học Đà Nẵng vào ngày 23 tháng 04
năm 2016
mạnh xuất khẩu.
Bên cạnh đó, với vấn đề thu hút FDI thì ngành chế biến lương
thực thực phẩm được xem là ngành thu hút vốn FDI nhiều nhất và
chiếm tỷ lệ đáng kể sản lượng đầu ra của ngành công nghiệp nói
chung và tổng sản phẩm quốc nội (GDP) nói riêng, hằng năm luôn
2
chiếm khoảng 15% GDP. Do đó, ngành chế biến lương thực thực
phẩm được xem là một ngành công nghiệp trọng điểm của đất nước.
Bên cạnh những sự phát triển đó, các doanh nghiệp ngành chế biến
lương thực thực phẩm luôn phải đối đầu với những khó khăn và rủi
ro khó lường trước từ bản thân doanh nghiệp hay môi trường kinh
doanh như giá nguyên vật liệu chủ yếu phụ thuộc nhập khẩu, nhu cầu
tiêu dùng không ổn định, yêu cầu về chất lượng đảm bảo vệ sinh an
toàn thực phẩm...Những điều đó đã gây không ít khó khăn cho doanh
nghiệp trong ngành từ doanh nghiệp lớn cho đến những doanh
nghiệp vừa và nhỏ.
Trong điều kiện các doanh nghiệp phải đối mặt ngày càng
nhiều với rủi ro, bên cạnh việc phân tích hiệu quả để có thể xem xét,
đánh giá một cách đầy đủ, chính xác tình hình tài chính của doanh
nghiệp thì việc đo lường phân tích các rủi ro để hạn chế tổn thất và
phát huy hiệu quả được thế mạnh của ngành là vấn đề cần được quan
tâm và cần thiết hiện nay. Với ý nghĩa quan trọng của việc phân tích
rủi ro của doanh nghiệp và xuất phát từ thực tế như trên, tôi đã chọn
đề tài “Phân tích rủi ro tài chính của các doanh nghiệp ngành chế
biến lương thực thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán
Việt Nam”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu hướng đến ba mục tiêu chính:
TP Hồ Chí Minh www.hsx.vn và của Sở giao dịch chứng khoán Hà
Nội www.hnx.vn.
Phương pháp thực hiện:
Trong nghiên cứu này tác giả sử dụng phương pháp định
lượng, sử dụng công cụ kinh tế lượng hồi quy để thực hiện ước
lượng, kiểm định mô hình và từ đó xác định các yếu tố ảnh hưởng
đến rủi ro tài chính của các doanh nghiệp ngành chế biến lương thực
4
thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Tác giả
sử dụng phần mềm Eviews 8 để phân tích các số liệu thứ cấp để xử
lý số liệu.
Tài liệu sử dụng:
Tài liệu sơ cấp: Tài liệu thu thập từ các giáo trình, nghiên cứu
đã được công bố.
Tài liệu thứ cấp: Tài liệu thu thập từ 51 doanh nghiệp chế biến
lương thực thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt
Nam.
5. Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia thành 4
chương gồm:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phân tích rủi ro tài chính của
doanh nghiệp.
Chương 2: Phân tích rủi ro tài chính của các doanh nghiệp
ngành chế biến lương thực thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng
khoán Việt Nam.
Chương 3: Xây dựng mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh
hưởng đến rủi ro tài chính của các doanh nghiệp ngành chế biến
lương thực thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt
kinh doanh đối với các chủ sở hữu do doanh nghiệp có sử dụng đòn
bẩy tài chính. Trong đó đòn bẩy tài chính chỉ mức độ nợ và tác động
của nợ trong cơ cấu nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp”.
Quan điểm thứ hai: Quan điểm tiếp cận rủi ro gắn liền với
việc vay nợ của doanh nghiệp khi huy động vốn để tài trợ cho hoạt
6
động kinh doanh của mình. Một khi xuất hiện các khoản nợ trong cơ
cấu vốn buộc doanh nghiệp nghĩa vụ phải trả lãi cho các chủ nợ. Với
quan điểm này rủi ro tài chính được định nghĩa như sau:“Rủi ro tài
chính là rủi ro do việc sử dụng nợ mang lại, nó gắn liền với cơ cấu
tài chính của doanh nghiệp. Việc sử dụng nợ này sẽ ảnh hưởng đến
sự biến thiên của hiệu quả tài chính (sự biến thiên của hiệu quả tài
chính có thể xem xét thông qua sự biến thiên của tỷ suất sinh lời vốn
chủ sở hữu (ROE)). Sự biến thiên này làm tăng thêm xác suất mất
khả năng thanh toán khi doanh nghiệp sử dụng vốn vay và các nguồn
tài trợ khác có chi phí tài chính (chi phí sử dụng vốn vay) cố định”.
Quan điểm thứ ba: Quan điểm tiếp cận rủi ro gắn liền với các
trạng thái rủi ro kiệt quệ tài chính. Với quan điểm này rủi ro tài chính
được định nghĩa như sau:“Rủi ro tài chính là rủi ro kiệt quệ tài chính
khi doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc không thể trả được các khoản
nợ bao gồm các khoản nợ gốc và lãi vay cho chủ nợ, và chịu sự tác
động của các nhân tố giá cả của thị trường như: lãi suất, tỷ giá hối
đoái, giá cả hàng hóa đến thu nhập của doanh nghiệp”.
Tóm lại, từ những quan điểm khác nhau của các tác giả trong
và ngoài nước về rủi ro tài chính như trên, trong phạm vi nghiên cứu
của luận văn này, rủi ro tài chính của doanh nghiệp có thể được hiểu
như sau: “Rủi ro tài chính là rủi ro xảy ra do việc sử dụng nợ mang
lại thường gắn liền với các hoạt động tài trợ có liên quan như: mua
100%
Từ sự tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài
chính, ta phân tích chỉ tiêu khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu như
sau:
[RE + (RE – R)
hay
=[
+(
– r)
] (1-T)
] (1-T)
Từ công thức trên ta thấy rằng, khả năng sinh lời trên vốn chủ
sở hữu tùy thuộc vào một phần cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp,
tức là tùy thuộc vào mức độ sử dụng nợ. Cho nên càng khẳng định
rằng rủi ro tài chính là rủi ro liên quan đến việc sử dụng nợ của
doanh nghiệp. Với việc sử dụng nợ này sẽ ảnh hưởng đến sự biến
thiên của hiệu quả tài chính, cho nên phân tích rủi ro tài chính về cơ
bản, ta sẽ sử dụng các chỉ tiêu phương sai, độ lệch chuẩn và hệ số
biến thiên để đánh giá. Cụ thể như sau:
8
Phương sai ROE
rủi ro có liên quan đến việc sử dụng nợ. Vì vậy, phân tích rủi ro tài
chính thông qua việc phân tích độ biến thiên của ROE không thôi
vẫn chưa đủ, mà còn cần phải phân tích độ biến thiên của các chỉ tiêu
thành phần ảnh hưởng đến rủi ro tài chính của doanh nghiệp. Cụ thể
ta xem xét công thức như sau:
+(
– r)
] (1-T))
= Var ([HKD (1 +
)-
] (1-T))
= Var ([
Biến đổi công thức trên ta có:
Trong quá trình phân tích ta giả sử tỷ lệ N/VCSH và T là hằng
số ta có:
= (1-T)2 (1 +
)2 Var(HKD)
9
Như vậy, mối liên quan giữa rủi ro tài chính và rủi ro kinh
doanh có thể thông qua độ lớn đòn bẩy nợ (tỷ lệ N/VCSH)
Hệ số khả năng thanh toán hiện hành được hiểu là mối quan hệ
giữa toàn bộ tài sản có thời gian chu chuyển ngắn của doanh nghiệp
với nợ ngắn hạn.
Hệ số khả năng
thanh toán hiện hành
Tài sản ngắn hạn
=
Nợ ngắn hạn
b. Hệ số khả năng thanh toán nhanh
Hệ số khả năng
thanh toán nhanh
Tài sản ngắn hạn – Hàng tồn kho
=
Nợ ngắn hạn
10
Hệ số này càng cao thì khả năng hoàn trả các khoản nợ ngắn
hạn càng cao, việc trả nợ này không phụ thuộc vào việc bán tài sản
dự trữ (hàng tốn kho).
c. Hệ số khả năng thanh toán tức thời
Hệ số khả năng thanh toán tức thời tiếp tục được chọn lọc hơn
cả hệ số khả năng thanh toán hiện hành
Tiền và tương đương tiền
Hệ số khả năng
thanh toán tức thời
từ các hoạt động kinh doanh trong kỳ, nếu khả năng trả nợ lãi vay
càng lớn thì rủi ro của doanh nghiệp càng thấp và ngược lai. Chỉ tiêu
được đo lường bằng tỷ lệ giữa lợi nhuận và chi phí lãi vay.
Khả năng trả
nợ lãi vay
Lợi nhuận trước thuế + Chi phí lãi vay
=
Chi phí lãi vay
11
1.4. ẢNH HƢỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ ĐẾN RỦI RO TÀI
CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
1.4.1. Ảnh hƣởng của các yếu tố đến sự biến thiên khả
năng sinh lời vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp
Trong phạm vi nghiên cứu này, tác giả dựa trên cơ sở lý luận
về cách thức đo lường của ROE, mối quan hệ giữa ROE với các yếu
tố có liên quan trong quá trình sử dụng vốn của doanh nghiệp để đưa
ra những yếu tố ảnh hưởng đến sự biến thiên của ROE cho các doanh
nghiệp ngành chế biến lương thực thực phẩm Việt Nam. Bao gồm
các nhân tố như sau: cơ cấu vốn, rủi ro kinh doanh, tốc độ tăng
trưởng và quy mô doanh nghiệp,.
a. Ảnh hưởng cơ cấu vốn đến sự biến thiên khả năng sinh
lời trên vốn chủ sở hữu
b. Ảnh hưởng rủi ro kinh doanh đến sự biến thiên khả năng
sinh lời trên vốn chủ sở hữu
c. Ảnh hưởng tốc độ tăng trưởng đến sự biến thiên khả năng
sinh lời trên vốn chủ sở hữu
d. Ảnh hưởng quy mô doanh nghiệp đến sự biến thiên khả
sản
2.1.2. Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp ngành chế biến lƣơng thực thực phẩm giai đoạn
2010-2014
a. Tình hình sản xuất
Bảng số liệu cho thấy ngành CBLTTP có số lượng doanh
nghiệp, doanh thu, số lao động, giá trị sản xuất tăng qua từng năm.
Đặc biệt với sự tăng trưởng của giá trị sản xuất, cụ thể năm 2010 giá
trị sản xuất của ngành là 610.091 tỷ đồng, đến năm 2014 là
1.333.563 tỷ đồng tăng 118,58%. Trong toàn ngành công nghiệp, giá
trị sản xuất của ngành chế biến lương thực thực phẩm luôn chiếm tỷ
trọng hơn 20%. Qua những con số trên đã cho thấy được tiềm năng
mà ngành chế biến lương thực thực phẩm mang lại cho ngành công
nghiệp của đất nước là rất to lớn so với các thành phần kinh tế khác.
b. Tình hình tiêu thụ và xuất khẩu
Tình hình tiêu thụ sản phẩm
13
Theo Tổ chức Giám sát Kinh doanh Quốc tế (BMI), tổng mức
tiêu dùng thực phẩm ở thị trường Việt Nam trong giai đoạn 20092014 sẽ tăng 67,3%, riêng trong năm 2014 mức này ước tính đạt
426.997 tỷ đồng. Mức tiêu thụ bình quân theo đầu người ước tính đạt
56,4% (tương đương 4.537.628 đồng) vào năm 2014. Tuy nhiên tính
theo GDP thì mức tiêu dùng thực phẩm có thể sẽ giảm nhẹ từ 15,5%
(năm 2009) xuống 14,8% (năm 2014).
Tình hình xuất khẩu
Trong giai đoạn 2010-2014 tình hình xuất khẩu ngành chế
biến lương thực thực phẩm của nước ta đạt được nhiều thành công
mức độ biến động của hiệu quả tài chính
Đồ thị trên cho thấy hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp
ngành chế biến lương thực thực phẩm, xét theo chỉ tiêu ROE đã có
sự giảm sút đáng kể. Cụ thể giảm từ 23,8% năm 2010 xuống còn
11,5% năm 2014. Sự giảm sút này là do bởi hai nguyên nhân: Thứ
nhất là lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp
giảm sút. Thứ hai là lãi suất vay có chiều hướng tăng qua các năm
2010-2012, vì đây chính là giai đoạn mà nền kinh tế nước ta chịu ảnh
hưởng từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008, các doanh
nghiệp phải chịu một lãi suất cao khi đi vay vốn. Vấn đề càng tác
động tiêu cực hơn khi mà tỷ suất Nợ/VCSH xu hướng tăng, có doanh
nghiệp tỷ suất này ở mức cao nhất là 882,84% (bảng 2.4). Tình hình
chung cho thấy rủi ro tài chính xét trên phương diện biến động ROE
của các doanh nghiệp ngành chế biến lương thực thực phẩm trong
giai đoạn 2010-2014 có sự biến động mạnh, chỉ tiêu ROE tăng giảm
không ổn định.
Trên phương diện rủi ro tài chính, luận văn xem xét các chỉ
tiêu phương sai, độ lệch chuẩn, hệ số biến thiên ROE và các chỉ tiêu
liên quan như: tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản (RE), lãi suất (r), tỷ
15
suất nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu (Nợ/VCSH) của các doanh
nghiệp, nhưng chỉ tập trung phân tích vào chỉ tiêu hệ số biến thiên.
Vì số lượng doanh nghiệp nhiều nên để phục vụ cho việc phân tích
và thể hiện qua đồ thị được dễ dàng, tác giả chia 51 doanh nghiệp ra
thành 2 nhóm như sau:
Nhóm có đòn bẩy tài chính (ĐBTC) thấp: có 22 doanh nghiệp
với hệ số đòn bẩy tài chính
hành giảm 1,96 lần năm 2010 xuống còn 1,79 lần năm 2014. Hệ số
khả năng thanh toán nhanh giảm từ 1,36 lần năm 2010 xuống còn
1,09 lần năm 2014. Hệ số khả năng thanh toán tức thời giảm 0,51 lần
năm 2010 xuống còn 0,42 lần năm 2014. Về cơ bản chỉ tiêu phản ánh
khả năng thanh toán của doanh nghiệp ngành CBLTTP niêm yết đều
thỏa mãn giá trị kỳ vọng (
1,0 lần), chỉ có hệ số khả năng thanh
toán tức thời suy giảm (< 0,5 lần) về mặt lý thuyết thì đáng lo ngại.
Nhìn chung, cho thấy khả năng thanh toán của các doanh nghiệp
ngành chế biến lương thực thực phẩm ở mức vừa phải, ở mức không
quá rủi ro. Đối với chỉ tiêu hệ số khả năng thanh toán hiện hành, mà
luận văn muốn tập trung phân tích thì nhận thấy rằng, nếu chỉ tiêu
này kéo dài với xu hướng giảm trong giai đoạn sắp tới sẽ ảnh hưởng
xấu đến hoạt động tài chính của doanh nghiệp, nguy cơ rủi ro tài
chính gia tăng. Do vậy, để nâng cao khả năng thanh toán hiện hành
thì các doanh nghiệp phải cần có các biện pháp huy động vốn hợp lý
nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán, góp phần ổn định tình hình tài
chính.
17
CHƢƠNG 3
XÂY DỰNG MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH
HƢỞNG ĐẾN RỦI RO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
NGÀNH CHẾ BIẾN LƢƠNG THỰC THỰC PHẨM NIÊM YẾT
TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
3.1. ĐO LƢỜNG RỦI RO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH
NGHIỆP NGÀNH CHẾ BIẾN LƢƠNG THỰC THỰC PHẨM
3.2.5. Chọn mẫu và thu thập dữ liệu
Trong nghiên cứu này, dữ liệu được tác giả lựa chọn và thu thập từ
Báo cáo tài chính đã được kiểm toán, cụ thể là từ Bảng cân đối kế
toán và Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp.
Số liệu được thu thập từ website của Công ty chứng khoán Bảo Việt
vpbs.com.vn, Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội www.hnx.vn và Sở
giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh www.hsx.vn. Các doanh nghiệp
được lựa chọn theo hai tiêu chí: Thứ nhất: doanh nghiệp được phân
loại ngành cấp 2 thuộc ngành cấp 1 là ngành chế biến chế tạo. Thú
hai doanh nghiệp niêm yết phải cung cấp thông tin đầy đủ trên
BCTC trong 5 năm, giai đoạn 2010-2014. Những doanh nghiệp
không đầy đủ BCTC thuộc ngành vẫn phải bị loại bỏ. Danh sách 52
doanh nghiệp trong ngành chế biến lương thực thực phẩm niêm yết
trên thị trường chứng khoán Việt Nam [Phụ lục 1].
3.2.6. Phƣơng pháp nghiên cứu
a. Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến sự biến thiên khả
năng sinh lời vốn chủ sở hữu
Mô hình nghiên cứu của tác giả như sau:
SD_ROE =
+
*DE +
*SD_ROA +
*GROWTH +
*SIZE + Ui
b. Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thanh toán
3.4. PHÂN TÍCH KẾT QUẢ ƢỚC LƢỢNG CỦA MÔ HÌNH
3.4.1. Mô hình các yếu tố ảnh hƣởng đến sự biến thiên khả
năng sinh lời vốn chủ sở hữu
3.4.2. Mô hình các yếu tố ảnh hƣởng đến khả năng thanh
toán
20
CHƢƠNG 4
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ
RỦI RO TÀI CHÍNH
4.1. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
NGÀNH CHẾ BIẾN LƢƠNG THỰC THỰC PHẨM VIỆT
NAM
4.1.1. Xây dựng cơ cấu nguồn vốn hợp lý
Thứ nhất, với việc sử dụng các khoản vay ngắn hạn để tài trợ
cho tài sản dài hạn, rất dễ gây nên tình trạng mất khả năng thanh
toán. Do vậy, giải pháp đưa ra là xây dựng cho doanh nghiệp một cơ
cấu tài chính hợp lý, đảm bảo cân đối về tỷ lệ giữa vốn vay trên vốn
chủ sở hữu, để luôn bảo đảm khả năng trả nợ. Trước khi quyết định
vay vốn cần phải có sự nghiên cứu kỹ, đánh giá khả năng trả nợ, phải
hoạch định được nguồn trả nợ, thời gian trả nợ và lãi suất hợp lý,
tránh tình trạng vay mượn bằng mọi giá. Khi có điều kiện, hãy thanh
toán sớm các khoản nợ, bởi vì lãi suất đi vay thường khá cao, việc
thanh toán bớt các khoản nợ, sẽ giảm được chi phí, đồng thời có điều
kiện quản lý tốt các khoản nợ còn lại, qua đó giảm thiểu được rủi ro.
Thứ hai, nên điều chỉnh cơ cấu vốn xuống gần mức trung bình
của ngành, nên tiến hành tự tài trợ cho nhu cầu vốn bằng nguồn vốn
chủ sở hữu, tránh việc phụ thuộc vào các nguồn vốn vay ngân hàng,
các tổ chức tín dụng, các cá nhân. Đồng thời, các doanh nghiệp nên
doanh
Thứ nhất, tăng doanh thu bán hàng thông qua việc nâng cao
chất lượng sản phẩm, mở rộng thị trường tiêu thụ.
Thứ hai, hạ thấp chi phí kinh doanh thông qua việc hạ thấp chi
phí nguyên vật liệu đầu vào, mạnh dạn chi những khoản chi cần thiết
để tăng năng suất lao động, mở rộng kinh doanh, đáp ứng tốt nhu cầu
của người tiêu dùng.
22
4.2. GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI NHÀ NƢỚC VÀ CƠ QUAN CHỨC
NĂNG
Thứ nhất, để tránh nền kinh tế rơi vào bẫy thanh khoản, Chính
phủ cần thực hiện tổng thể các giải pháp để kích tổng cầu, giải phóng
hàng tồn kho, khi đó mới có thể kích thích nhu cầu vay vốn. Theo
đó, chính sách tài khoá cần theo đuổi mục tiêu miễn giảm. Ví dụ
như: nên giảm thuế thu nhập doanh nghiệp về mức 20% để kích thích
đầu tư sản xuất, tăng chỉ tiêu vào các lĩnh vực có độ lan toả rộng như
nông nghiệp, xây dựng cơ bản, y tế xã hội. Nới lỏng điều kiện sở hữu
tài sản của người nước ngoài nhằm kích cầu tài sản, đặc biệt là bất
động sản, cổ phiếu.
Thứ hai, Chính phủ cũng cần có chính sách giúp các doanh
nghiệp tạm thời khó khăn đáp ứng được các điều kiện vay vốn của
ngân hàng. Khuyến khích xuất khẩu, hỗ trợ mở rộng thị trường đối
với hàng hoá trong nước, đặc biệt là các lĩnh vực có tồn kho lớn.
Thúc đẩy sự ra đời của các sàn giao dịch hàng hoá, hỗ trợ phát triển
thị trường chứng khoán.
Thứ ba, so với các nước trên thế giới thì thị trường chứng
khoán của nước ta còn rất nhỏ bé, còn nhiều bất ổn do tâm lý của các
nhà đầu tư nhỏ lẻ, chịu sự thao túng của các nhà đầu tư tổ chức. Vì
phân tích bằng phương pháp hồi quy bội thông thường, áp dụng đối
với mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến hệ số biến thiên khả năng sinh
lời vốn chủ sở hữu, thì tác giả còn sử dụng thêm phương pháp hồi
quy dữ liệu bảng (panel data), áp dụng đối với mô hình các yếu tố
ảnh hưởng đến khả năng thanh toán.
1.2. Những kết quả đạt đƣợc về mặt thực tiễn
Thứ nhất, luận văn đã xây dựng mô hình nghiên cứu các yếu tố
ảnh hưởng đến rủi ro tài chính của các doanh nghiệp ngành chế biến
lương thực thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt