skkn PHÁT TRIỂN NĂNG lực tự học CHO học SINH THPT THÔNG QUA dạy học môn GDCD lớp 12 - Pdf 37

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THPT CHUYÊN LƯƠNG THẾ VINH
Mã số……

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH
THPT THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN GDCD LỚP 12
(Qua khảo sát tại Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh,
Tp. Biên Hòa, Tỉnh Đồng Nai)

Người thực hiện: NGUYỄN THỊ BÍCH HỒNG
Lĩnh vực nghiên cứu: Phương pháp giảng dạy môn GDCD

Năm học: 2011- 2012

1


SƠ YẾU LÝ LỊCH KHOA HỌC

I.THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN:
1 . Họ và tên: Nguyễn Thị Bích Hồng
2. Sinh ngày 03 tháng 02 năm 1982
3. Nữ
4. Long bình - Biên Hoà – Đồng Nai
5. Điện thoại: 01686079363
6. Chức vụ: Giáo viên
7. Đơn vị công tác: Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO :
- Trình độ chuyên môn: Cử nhân

2.1. Động cơ hóa hoạt động học tập của học sinh………… 21- 26
2.2. Tổ chức cho học sinh làm việc theo nhóm kết hợp với thảo luận
lớp…………………………………………………………… Trang 26- 28
2.3. Vận dụng các tình huống pháp luật thực tế …………. Trang 28-31
2.4. Hướng dẫn HS chọn lọc tư liệu, tình huống liên quan đến nội dung bài
học qua các kênh thông tin đại chúng hoặc qua thực tế đời sống phù hợp với
bộ môn………………………………………………. Trang 31- 33
C. HIỆU QUẢ ĐẠT ĐƯỢC SAU KHI THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HS THÔNG QUA DẠY
HỌC MÔN GDCD LỚP 12………………………… Trang 35- 37
D. KẾT LUẬN ………………………. …
E. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
3

Trang 38- 39


A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Con người dù sống hay làm việc ở bất cứ môi trường nào cũng phải hội đủ
năng lực đạo đức, kiến thức sáng tạo và tinh thần tự chủ, ý chí vươn lên để tồn tại
và phát triển. Với xu thế hiện nay thì các yếu tố này đòi hỏi chúng ta phát huy triệt
để mới có thể đáp ứng và hội nhập với xu thế thời đại - xu thế toàn cầu hóa. Vì vậy,
yêu cầu mỗi cá nhân phải làm chủ tri thức, năng động, sáng tạo, cần khai thác chất
xám, phát huy ý thức tự học, tự hoàn thiện bản thân để vươn lên. Đại hội Đại biểu
toàn quốc lần thứ XI đã nêu rõ “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo.
Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi kiểm
tra theo hướng hiện đại. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt coi trọng
giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền thống, lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống,
năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm

hiện và giải quyết vấn đề trong cuộc sống thực tiễn. Đặc biệt đối với học sinh
trường chuyên năng lực tư duy, óc suy diễn và sự tưởng tượng đánh giá rất cao. Do
đó GV phải có phương pháp dạy phù hợp để phát huy hết năng lực tư duy của học
sinh, chú trọng gợi mở, hướng dẫn cho học sinh phương pháp tự học, đào sâu kiến
thức.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn vấn đề “Phát triển năng lực tự học cho
học sinh THPT thông qua dạy học môn GDCD lớp 12” (qua khảo sát tại
Trường PHPT chuyên Lương Thế Vinh, Tp. Biên Hòa, Tỉnh Đồng Nai), làm
sáng kiến kinh nghiệm của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề phát triển năng lực tự học cho học sinh THPT không phải là một vấn đề
mới, mà từ trước đến nay có rất nhiều nhà khoa học, nhà quản lý, các chuyên gia và
nhiều GV đề cập ở những góc độ khác nhau.
Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay từ những năm 1950 của thập kỷ XX, khi nói về
công tác huấn luyện và học tập đã nhấn mạnh “Phải nâng cao và hướng dẫn tự
học”. Người khuyên “ Không phải có thầy thì học, không thầy thì đùa, phải biết tự
động học tập”.
Năm 1997 trong cuộc hội thảo về công tác huấn luyện mang tên “Nghiên cứu
và phát triển tự học, tự đào tạo” đã thu hút được được sự quan tâm của nhiều giáo
5


sư và những nhà nghiên cứu đầu ngành. Ngay sau đó tạp chí nghiên cứu giáo dục,
số 2-1998 ra riêng một số báo đặc biệt đăng tải một số bài tiêu biểu trong hội thảo.
Cũng trong năm 1998, Nhà xuất bản Giáo dục cho ra mắt cuốn “Tự học, tự đào tạo,
tư tưởng chiến lược của phát triển giáo dục Việt Nam”, của Trung tâm nghiên cứu và
phát triển tự học, GS. Nguyễn Cảnh Toàn và GS. Nguyễn Như Ý chịu trách nhiệm xuất
bản.
Năm 1999 có cuốn sách “tự học là một nhu cầu của thời đại” của Nguyễn Hiến
Lê; “tôi tự học” của Nguyễn Duy Cần và Thu Giang; “Luận bàn về kinh nghiệm tự

mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát triển năng lực tự học cho học
sinh THPT thông qua dạy học môn GDCD lớp 12.Từ đó, đề ra một số giải pháp
nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh THPT trong giai đoạn hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển năng lực tự học cho học THPT
thông qua dạy học môn GDCD lớp 12 nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của quá
trình dạy học .
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh THPT
thông qua dạy học môn GDCD lớp 12.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác- Lênin cũng như các ngành khoa học xã hội, ngoài ra tôi đặc biệt sử dụng kết
hợp một số phương pháp sau :
- Phương pháp điều tra xã hội học;
- Phương pháp phỏng vấn;
- Phương pháp tổng hợp, phân tích và thống kê;
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm…
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Do địa bàn Trường THPT Chuyên Lương Thế Vinh rộng, nhiều lớp nên tôi lựa
chọn 4 lớp khối 12 để tiến hành điều tra, khảo sát, thực nghiệm và vận dụng các giải
pháp.
7


5.1. Phạm vi nghiên cứu.
Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận của các giải pháp nhằm phát triển


đã vạch ra. Đặc biệt, Bác rất chú trọng sự thực hành trong tự học và luôn coi thư
viện là trường học lớn của mình. Người dạy “học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt
đời. Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tiễn. Không ai có thể tự cho
mình đã biết đủ rồi, đã biết hết rồi. Thế giới ngày càng đổi mới, nhân dân ta ngày
càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân
dân”(Bài nói chuyện tại lớp nghiên cứu chính trị khóa I, Trường Đại học Nhân dân
Việt Nam 21. 7. 1956). Người cho rằng tự học chính là sự nổ lực của bản thân
người học, sự làm việc của bản thân người học một cách có kế hoạch trên tinh thần
tự động học tập.
Nguyễn Kỳ cho rằng “Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí của
người tự nghiên cứu, xử lý các tình huống, vào vị trí của người tự nghiên cứu, xử
lý các tình huống, giải quyết các vấn đề đặt ra cho mình, nhận biết vấn đề, thu thập
xử lý thông tin, tái hiện kiến thức cũ, xây dựng các giải pháp giải quyết vấn đề, xử
lý tình huống, thực nghiệm các giải pháp, kết quả, kiến thức mới mình đã tự lực tìm
ra, tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc học” [31; 15]. Khi nghiên cứu các biện
pháp tổ chức hoạt động tự học tác giả Nguyễn Thị Tính cho rằng: “Tự học là một
quá trình, trong đó dưới vai trò chủ đạo của GV, người học tự mình chiếm lĩnh tri
thức, kỹ năng, thông qua các hoạt động trí tuệ (quan sát, phân tích, tổng hợp, so
sánh phán đoán …) và cả các hoạt động thực hành (khi phải sử dụng các thiết bị đồ
dùng học tập). Tự học gắn liền với động cơ, tình cảm và ý chí… của người học để
vượt qua chướng ngại vật hay vật cản trong học tập nhằm tích lũy kiến thức cho
bản thân người học từ kho tàng tri thức của nhân loại, biến những kinh nghiệm này
thành kinh nghiệm và vốn sống của bản thân người học” [37; 23].
Phan Trọng Luân cho rằng “học là công việc của cá nhân. Học là công việc của
bản thân người học”. Ông cho rằng một trong các mục đích quan trọng của dạy học là
dạy cách học. [34; 8].
Trong cuốn sách “Tự học như thế nào”, Rubakin cho rằng tự học là một quá
trình so sánh đối chiếu và đáp, đó là sự so sánh giữa lý thuyết và thực hành, giữa
sách vở và thực tế cuộc sống, từ đó rút ra cho mình một tri thức riêng đầy sáng

Thứ hai, tự học của HS diễn ra ngoài phạm vi lớp học nhằm đáp ứng yêu cầu của
môn học đã được học trong nhà trường. Với hình thức này, HS chỉ có tài liệu liên
quan đến các môn học dưới sự hướng dẫn trước của GV. Tuy nhiên, HS phải tự tổ
chức việc học tập của mình ở nhà nhằm ôn tập, hệ thống hóa, làm các bài tập, rèn
10


luyện các kỹ năng, kỹ xảo …theo yêu cầu của GV, đáp ứng chính các yêu cầu của bản
thân người học nhằm lĩnh hội tri thức các môn học.
Thứ ba, tự học nhằm đáp ứng yêu cầu hiểu biết riêng, bổ sung và mở rộng, nâng
cao các kiến thức trong chương trình đào tạo ở nhà trường, thậm chí họ có thể tìm
hiểu về những tri thức không quy định nhằm mở mang hiểu biết của mình. Với
hình thức này người học hoàn toàn chủ động lựa chọn kiến thức cần bổ sung, lựa
chọn tài liệu cần đọc, tự mình sắp xếp các tri thức học được vào hệ thống tri thức
mà mình đang có. Đây là mức độ tự học rất cao vì HS tự mình tổ chức toàn bộ các
hoạt động của quá trình tự nhận thức của mình. Từ đó cho thấy năng lực tự học của
HS THPT có những đặc trưng sau:
- Người học phải tự đề ra cho mình phương pháp học từ đầu cho đến kết thúc
quá trình học và đóng vai trò mấu chốt bằng sự hứng thú, tham gia tích cực và có
trách nhiệm trong suốt quá trình học. Trong tự học tính độc lập, chủ động càng có
vai trò quan trọng và được coi là công cụ đắc lực không có gì thay thế giúp cá nhân
tích lũy kinh nghiệm, tri thức khoa học, hoàn thiện nhân cách.
- Tiếp theo học sinh luôn phải rèn luyện cho bản thân có ý thức tự giác trong
học tập và hứng thú đối với các kiến thức mà mình đang tiếp thu. Điều này sẽ giúp
người học tham gia tích cực và biết tiếp tục quá trình học bằng cách tạo ra một hình
thức phù hợp với tính cách của mình. Như vậy, khi thực sự trở thành chủ thể học cũng
có nghĩa là ngươì học đã tự giác xác định được động cơ, mục đích học tập. Người học
tiến hành việc học dựa trên trách nhiệm cá nhân và sự điều khiển của ý chí thì hoạt
động học trở thành quá trình tự học, tự giác chủ động, có phong cách và phương pháp
cá nhân.

25-27].
Xavier Roegiers cho rằng: Năng lực là sự tích hợp các kỹ năng tác động một cách tự
nhiên lên các nội dung trong một loại tình huống cho trước để giải quyết những vấn đề do
tình huống đặt ra.
Nhưng nhìn chung các tác giả đều thống nhất: cấu trúc của năng lực là tổng hợp
nhiều kỹ năng thực hiện những hoạt động thành phần có liên hệ chặt chẽ với nhau; năng
lực tồn tại và phát triển thông qua hoạt động; năng lực chỉ nảy sinh và quan sát được
trong hoạt động giải quyết những yêu cầu mới mẻ và do đó nó gắn liền với tính sáng
tạo. Năng lực của mỗi người là có sự khác nhau về mức độ.

12


Tự học trong nhà trường THPT trên thực tế vẫn còn là một vấn đề chưa được
thực hiện một cách thường xuyên và phổ biến, mặc dù giáo dục hiện đại đã được đề
cập đến từ lâu nay. Không thể phủ nhận trong trường THPT vẫn có những học sinh
say mê học hỏi và luôn có ý thức tự học nhưng chưa nhiều. Trong xu thế xã hội
ngày càng phát triển, vấn đề tự học trong nhà trường lại càng được quan tâm hơn
bao giờ hết. Tự học cần phải trở thành một trong những kỹ năng quan trọng số một
của giáo dục, năng lực trong mỗi cá nhân HS. Bản thân người học cần phải làm
quen với vấn đề tự học, hình thành một năng lực tự học để sau này có điều kiện học
tiếp nữa hay không vẫn có thể tự học hỏi để trau dồi tri thức và thích nghi với thời
đại. Cho nên, vấn đề tự học của HS THPT là một vấn đề cần thiết mang tính chiến
lược.
Tự học của HS THPT cũng như tự học của HS nói chung là tổng hợp của nhiều
năng lực. Mục đích tự học của HS là hoàn thành tốt những phần nào đó trong
nhiệm vụ học tập của mình mà không có thầy bên cạnh. Như vậy, tự học của HS
THPT luôn gắn với năng lực chủ động, tích cực, HS phải tự nghiên cứu tài liệu, tự
mình phát hiện kiến thức, tự mình nắm bắt một phần kiến thức. HS phải thường
xuyên tự tìm tòi những tài liệu liên quan đến bài học để có sự so sánh, đối chiếu, tự

Như vậy, tự học của HS THPT không đòi hỏi mức độ cao như tự học của các
nhà nghiên cứu, mà chủ yếu dựa vào bài học cụ thể trong SGK, những tài liệu có
liên quan đến bài học để đối chiếu, so sánh, mở rộng làm cho quá trình nhận thức
của HS mang tính chủ động và có tính chất nghiên cứu. Mục đích tự học của HS
THPT giúp các em hiểu sâu sắc, trọn vẹn bài học bằng chính năng lực của mình và
biết vận dụng kiến thức thành kinh nghiệm của bản thân.
1.2. Thực trạng của việc dạy học môn GDCD lớp 12 ở Trường THPT chuyên
Lương Thế Vinh, Biên Hòa, Đồng Nai
1.2.1. Những thuân lợi của việc phát triển năng lực tự học cho học sinh THPT
thông qua dạy học môn GDCD lớp 12 ở Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh,
Biên Hòa, Đồng Nai
Theo một khảo sát về khoảng cách IQ- EQ giành cho HS trường chuyên do
Viện nghiên cứu giáo dục – Đại học sư phạm TP. HCM thực hiện cho thấy: HS các
trường chuyên có điểm mạnh về năng lực tư duy, trong đó óc suy diễn và sự tưởng
tượng được đánh giá rất cao mà theo HS do thường vận dụng các năng lực này
trong việc học. Hơn nữa, HS trường chuyên có khả năng làm việc dưới áp lực rất
14


cao, có nhiều cảm thông với người khác, có sự rõ ràng và quả quyết trong việc làm
của mình và có nhận thức cá nhân cao. HS trường chuyên có khả năng nhận thức
được bản thân, đây là một kỹ năng không dễ có đối với HS THPT. Đối với HS
Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh, đa số các em ngoan, chăm chỉ và năng lực
học tập rất cao (75,78% HS đạt học lực khá giỏi (năm học 2010- 2011). Thi đua
nhau học tập là truyền thống của HS trường chuyên, phần lớn các em có tinh thần
tự giác học tập, chịu khó vươn lên, có tinh thần ham học hỏi.
Được học dưới mái trường có bề dày về thành tích, có nhiều HS vượt khó học
giỏi, các em xác định được mục tiêu và phương pháp học tập của mình. Sự nỗ lực
cố gắng của các em vừa để khẳng định năng lực của bản thân vừa góp phần làm
nâng cao thương hiệu của nhà trường. Để xứng đáng với danh hiệu HS trường

mới và vận dụng các phương pháp dạy học mới vào giảng dạy nhằm nâng cao chất
lượng dạy học hiện nay.
1.2.2. Những khó khăn của việc phát triển năng lực tự học cho học sinh THPT
thông qua dạy học môn GDCD lớp 12 ở Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh,
Biên Hòa, Đồng Nai
Ở trường THPT nói chung và trường chuyên nói riêng, tất cả các môn học, tất cả
các thầy cô giáo đều có nhiệm vụ giáo dục đạo đức và kỹ năng sống cho học sinh
bên cạnh việc dạy học kiến thức của từng môn. Môn GDCD với vị trí đặc thù của
mình là “giữ vai trò chủ chốt trong việc giáo dục cho HS ý thức và hành vi của
người công dân góp phần hình thành và phát triển ở các em những phẩm chất và
năng lực cần thiết của người công dân trong xã hội công bằng dân chủ, văn minh.
Môn DGCD có vai trò quan trọng trong việc phát triển tâm lực và nội lực của sự
phát triển nhân cách HS. Do vậy, môn GDCD góp phần quan trọng trong việc nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực, đào tạo HS thành những người lao động mới đáp
ứng được yêu cầu đòi hỏi của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và
xu thế phát triển chung của thời đại” [32; 18]. Với vai trò và tầm quan trọng như vậy
nhưng hiện nay, môn GDCD chưa được phát huy hết vai trò và vị trí của mình trong
trường THPT và nhất là trường chuyên.
HS chưa ý thức được vai trò của môn học, “xem nhẹ” môn GDCD biểu hiện rõ rệt.
: Theo tìm hiểu thì hầu như học sinh chưa bao giờ dành một qũy thời gian trên 30 phút
để học môn GDCD và cũng ít có HS đọc SGK hoặc soạn bài trước ở nhà. Trong giờ
học thật hiếm có HS giơ tay phát biểu ý kiến, GV đưa ra câu hỏi và chỉ định thì HS mới
16


miễn cưỡng đứng lên trả lời qua loa theo SGK. Sự tìm tòi, đọc thêm tài liệu liên quan
đến bài học cũng chỉ có những HS giỏi hoặc khi được giao cụ thể. Các em cho biết
nhiều khi thấy một số vấn đề lý thú nhưng không biết tìm tài liệu nào? ở đâu? cách khai
thác như thế nào? Lỗi này phải chăng do thiếu sót của đội ngũ GV chúng ta. Các em
không biết nên ghi những gì trong chuỗi lời giảng của GV hoặc GV đọc nhanh quá các

học cần truyền đạt. Dựa vào SGK và sách hướng dẫn, GV làm công việc tóm tắt
những nội dung chính cần truyền đạt cho HS. Những hoạt động của HS qua từng nội
dung bài học, từng chủ đề hình như không có mặt trong giáo án. Với thiết kế giáo án
như vậy, GV là chủ thể hoạt động, HS là khách thể bị động, GV thông qua khối
lượng kiến thức đã chuẩn bị truyền thụ lại cho HS như một cuộc chạy đua với thời
gian, kết thúc giờ học là kết thúc bài học. Thiết kế giáo án, kết hợp với phương pháp
giảng dạy ảnh hưởng rất lớn đến kết quả học tập của HS. Với cách dạy truyền thụ
một chiều làm cho HS không thể hứng thú và phát huy hết năng lực, kinh nghiệm
hiểu biết sẵn có của mình cũng như lòng say mê học hỏi và thực tế sẽ diễn ra là thái
độ không coi trọng giờ học, thái độ này không chỉ tồn tại ở HS mà còn có trong ý
thức của một số GV giảng dạy môn học này. Chính điều này mà dẫn đến một thực
trạng là có những HS học xong lớp 12 mà không nhớ nỗi khái niệm pháp luật là gì?
Bản thân mình có những quyền tự do cơ bản nào? Nói gì đến việc trách nhiệm của
bản thân đối với Nhà nước với xã hội như nội dung bài đã học.
Một lý do khác ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng học tập nói chung và môn
GDCD nói riêng là vấn đề học thêm của HS. Chứng kiến việc học thêm của các em,
chúng ta thấy có nhiều điều bất cập, trong có vấn đề “tự học”. Trước đây, khi HS
học ở nhà nhiều hơn thì bây giờ ngược lại, thời gian học ở trường, ở lớp nhiều hơn ở
nhà. Các em bận rộn với chuyện đi học thêm, thời gian gần như lấp kín. Chúng ta tự
hỏi không biết HS của chúng ta, học bài, ôn bài, làm bài tập vào thời gian nào? Hiện
nay trên thị trường có rất nhiều tài liệu tham khảo, nhiều kênh thông tin phong phú,
phục vụ cho môn học nhưng vì thời khóa biểu học thêm của các em kín hết ngày làm
gì còn thời gian để các em tự học, tự nghiên cứu.
Theo xu thế chung của thời đại hiện nay nên đa số các em chọn cho mình môn tự
nhiên để học ra trường dễ kiếm việc làm và lương cao hơn khi chọn lĩnh vực xã hội
để học. Đây cũng là thực trạng của xã hội Việt Nam hiện nay, khi mà lĩnh vực tự
nhiên, Ngân hàng Tài chính, Kinh tế…mọi người đổ xô vào học vào nghiên cứu thì
lĩnh vực xã hội lại trầm lắng làm ảnh hưởng đến sự phát triển cân bằng của xã hội.
18



19


Chuyển đổi từ việc cung cấp tri thức cho HS sang việc phát triển năng lực tự học cho
HS để tự đào tạo.

Kết luận chương 1.
Việc làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về tự học, các đặc trưng của hoạt động tự
học, xác định được cấu trúc năng lực tự học của HS THPT, làm rõ mối quan hệ
giữa hoạt động dạy và vấn đề phát triển năng lực tự học là cơ sở quan trọng để đề
xuất các giải pháp nhằm phát triển năng lực tự học nói chung và năng lực tự học
môn GDCD nói riêng.
Bản chất của tự học là quá trình người học cá nhân hóa việc học nhằm thỏa
mãn các nhu cầu tự học, tự nghiên cứu, tự giác tiến hành các hoạt động học tập để
thực hiện có hiệu quả mục đích và nhiệm vụ học tập.
Tự học môn GDCD lớp 12 mang đặc thù của bộ môn lý luận chính trị, với những
kiến thức khó, trừu tượng và mang tính pháp lý rất cao. Cho nên đòi hỏi người học phải
không ngừng nâng cao ý thức tự học cả trên lớp và ở nhà để chiếm lĩnh được tri thức một
cách sâu sắc hơn. Trong quá trình dạy học, phương pháp dạy học của GV có ảnh hưởng
lớn đến vấn đề phát triển năng lực tự học của HS, cụ thể ảnh hưởng đến các yếu tố như:
động cơ, mục đích học tập, hứng thú học tập, tính tích cực nhận thức, phương pháp tự
học, tính tự giác, tích cực trong học tập của HS. Nhưng trong quá trình tìm hiểu, điều tra
thực trạng dạy học môn GDCD lớp 12 ở Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh chúng
tôi thấy rằng, HS của trường có năng lực tự học rất tốt nhưng các em hầu như chưa nhận
20


thấy được hiệu quả của phương pháp tự học đối quá trình học tập môn học GDCD. Đối
với GV của trường cũng chưa thường xuyên áp dụng các biện pháp nhằm phát triển năng

cho việc nắm bắt tri thức thoải mái, dễ chụi và hiệu quả hơn trong quá trình nhận
thức. Hứng thú và động cơ có mối quan hệ với nhau, động cơ tạo nên hứng thú,
hứng thú là tiền đề của tự giác. Hứng thú và tự giác là yếu tố tâm lý tạo nên tính
tích cực chủ động của HS [3;21].
Trong quá trình dạy học người GV làm cho bộ não của HS luôn đặt trong tình
trạng ham muốn hiểu biết, làm cho HS thấy được lợi ích của môn GDCD trong
đời sống hàng ngày thì HS sẽ biểu lộ hứng thú khi học môn học này. Để làm
được điều này GV cần phải:
+ Làm cho HS ý thức được là họ cần phải học, thấy được rằng mình thực sự
đang thiếu tri thức mới, cảm nhận được sự thiếu hụt sẽ là một yếu tố kích thích
HS tìm kiếm một sự cân đối mới, thỏa mãn nhu cầu tri thức của mình.
Ví dụ: khi dạy về vai trò của pháp luật đối với công dân, HS chỉ hiểu được
rằng pháp luật là sự cấm đoán, là công cụ để Nhà nước cưỡng chế những hành vi vi
phạm pháp luật của công dân. GV sẽ cho HS thấy HS đang bị thiếu hụt kiến thức cần
phải bổ sung. Bởi vì pháp luật bên cạnh khẳng định các quyền, lợi ích và nghĩa vụ
cơ bản của công dân còn là phương tiện để công dân thực hiện và bảo vệ các quyền,
lợi ích hợp pháp của mình trước sự xâm phạm từ phía cơ quan, công chức nhà nước.
Bằng cách cho HS thấy được đối tượng học là một nội dung có giá trị, có lợi đối với
HS, nếu chiếm lĩnh được tri thức mới là cách hình thành và phát triển hứng thú nhận
thức ở HS.
+ Phương pháp dạy của GV, phải khơi dậy ở người học một sự hứng thú thực sự,
muốn làm điều này thì GV phải tạo ra được tình huống thực sự có ý nghĩa với HS,
làm cho HS muốn tự mình tìm ra giải pháp để giải quyết vấn đề.
Ví dụ: GV đưa ra vấn đề : khi hai người yêu nhau, muốn đi đến hôn nhân mà
khác tôn giáo, hai bên gia đình không đồng ý thì chúng ta giải quyết thế nào?
Đây là một vấn đề rất thực tế, gần gủi với HS nên HS sẽ rất hứng thú và từ hứng
thú sẽ chuyển thành động cơ, hành động tránh được sự thụ động của HS trong dạy học.
Trong một giờ học GDCD, GV phải chú ý đến nhu cầu hứng thú của học sinh chứ
22


HS phải có tính chất xây dựng, nhằm mục đích chỉ ra những điểm hạn chế và cách
23


sửa sai, với cách này HS sẽ cảm thấy lời phê bình của GV như là một lời khuyên bổ
ích.
Trong quá trình dạy học GV cần nhận xét kịp thời và liên tục để định hướng cho
các em biết những điểm mạnh và điểm hạn chế của các em trong lĩnh vực nội dung
kiến thức đang học.
Ví dụ khi học phần pháp luật, môn GDCD lớp 12, HS trường chuyên có điểm
mạnh xử lý các tình huống pháp luật rất tốt nhưng lại hạn chế trong việc nhớ các
điều, khoản mà pháp luật quy định, cũng như các khái niệm pháp luât. Nhận xét điều
chỉnh của GV nên được tiến hành liên tục trong quá trình dạy học. GV nên sử dụng
phương pháp phát vấn hoặc giải quyết tình huống có vấn đề để theo dõi sự tiến bộ
của tất cả các HS.
Phương pháp dạy và phương pháp học phải dựa vào chính tiềm năng của người
học, dựa vào sáng kiến của người học, dựa trên ý thức trách nhiệm của người học.
Người học phải đảm bảo đầy đủ trách nhiệm của mình bằng cách tham gia tích cực
và thoải mái trong quá trình học của mình. Trước hết, HS phải được và có cơ hội để
tự chủ trong quá trình học tập, GV không làm hộ HS mà chỉ là người tổ chức, dẫn
dắt các hoạt động học của HS. Trong dạy học môn GDCD lớp 12, áp dụng phương
pháp đặt tình huống và giải quyết tình huống là biện pháp hữu hiệu để tăng cường
tham gia của HS vào quá trình dạy học. Tùy từng nội dung bài học mà yêu cầu HS
đưa ra các tình huống, các tình huống pháp luật là những minh chứng sống động
nhất để giáo dục các em sống sao cho đúng pháp luật.
- Kết hợp chặt chẽ phương pháp dạy của GV và phương pháp tự học của HS
Theo Nguyễn Văn Đản mối quan hệ giữa mục đích dạy và mục đích học là khi
cá nhân đã ý thức được đầy đủ về mục đích học tập, khi mục đích dạy phù hợp và
được HS chấp nhận như là mục đích học của mình thì các em sẽ tích cực, tự lực,
vượt khó để học tập. Nếu GV kết hợp tốt giữa phương pháp dạy của thầy và phương

duy cho HS như: tư duy phê phán, tư duy độc lập, tư duy sáng tạo, tư duy tích cực.
Khi học các khái niệm pháp luật, HS phải biết phân tích các dấu hiệu bản chất của
khái niệm, nhìn thấy các mối liên hệ giữa khái niệm này với khái niệm khác. Chẳng
hạn, khái niệm, thế nào là pháp luật? và thế nào là thực hiện pháp luật? Từ sự phân
tích, tổng hợp HS sẽ rút ra các đặc của từng khái niệm, để tránh sự nhầm lẫn giữa khái
niệm này với khái niệm khác. Đặc biệt, phải làm cho HS vận dụng được khái niệm
vào giải quyết các tình huống pháp luật thực tế, trở thành những hành vi, kỹ năng của
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status