ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG NHÉ
PHÒNG VĂN HÓA VÀ THÔNG TIN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM NĂM 2015
ĐỀ TÀI: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC
XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CƠ SỞ
Họ và tên : Kim Ngọc Quang
Đơn vị công tác: Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Mường Nhé
MỤC LỤC
STT
A
NỘI DUNG
PHẦN MỞ ĐẦU
1
2
3
4
5
Lý do chọn đề tài
Phạm vi đôi tượng nghiên cứu :
Mục đích nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu:
Kết cấu
3
Khái niệm về đời sống văn hóa
Khái niệm đời sống văn hóa cơ sở
II
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA VÀ XÂY DỰNG
ĐỜI SỐNG VĂN HÓA
III
QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ VĂN HÓA VÀ XÂY
DỰNG VĂN HÓA Ở CƠ SỞ
1
Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII ) về văn hóa
4 -5
5-6
2
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI đặt ra
những định hướng về văn hóa
IV
CHỦ CHƯƠNG NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG ĐỜI
I
ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH CHUNG CỦA HUYỆN
8 - 13
1
2
3
Điều kiện tự nhiên
Điều kiện kinh tế
Văn hóa - xã hội
II
THỰC TRẠNG VỀ VIỆC XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN
HÓA Ở HUYỆN MƯỜNG NHÉ TỪ NĂM 2011 - 2015
8-9
9 - 11
11 - 13
13 - 16
CHƯƠNG 2
13
2
MỤC TIÊU ĐẾN NĂM 2020
Mục tiêu chung
Mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể
II
III
C
CÁC NHÓM GIẢI PHÁP
NHỮNG KIẾN NGHỊ
KẾT LUẬN
13 - 14
14 - 15
15 - 16
16 - 17
17 - 21
17 - 20
17 - 18
18 - 20
20
20 - 21
22 - 23
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
2. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Khóa VIII và Kết luận
Hội nghị Trung ương 10 (Khóa IX); Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành Trung
ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu
khẳng định con người là yếu tố quyết định, chăm lo đến hạnh phúc của con người
là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta.
Nền văn hóa việt nam được xem là là tổng thể giá trị vật chất tinh thần, do
cộng đồng các văn tộc việt nam sáng tạo , trong quá trình dựng nước và giữa nước.
Nhờ nền tảng và sức mạnh đó nên cho dù bị đô hộ nhiều năm, nhiều thế kỷ với ách
thống thống trị của chế độ phong kiến phương bắc , thực dân và đế quốc nhưng
dân tộc ta vẫn giữa vững và phát huy được bản sắc riêng của mình, không bị đồng
hóa mà còn quật cường đứng lên để giành độc lập cho dân tộc.
Trong đời sống xã hội của con người ngoài việc thu về vật chất để thỏa mãn
cuộc sống của mình thì bên cạnh đó nhu cầu để thụ hưởng và sinh hoạt văn hóa để
thư giãn trong lúc nhàn rỗi sau những giờ lao động mệt nhọc. Đó là nhu cầu thiết
thực trong đời sống nhân dân hiện nay. Và khi đất nước thực hiện cơ chế đổi mới,
chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với việc giao lưu
hợp tác với các nước trong khu vực và thế giớ, đã tạo điều kiện cho đất nước phát
triển, nhưng cũng có nhiều thách thức nguy cơ tiềm ẩn trong việc hưởng thụ văn
hóa, nghệ thuật của nhân dân, cụ thể là dòng văn hóa lai căng sẽ làm băng hoại các
giá trị văn hóa, gia đình truyền thống tốt đẹp của dân tộc, ảnh hưởng tiêu cực trong
xã hội, môi trưòng văn hóa bị xuống cấp. Cho nên việc nâng cao chất lượng hoạt
động văn hóa là vấn đề cấp bách và lâu dài của Đảng và nhà nước, của mặt trận và
cả hệ thống chính trị nhằm định hướng cho nhân dân giữa được và phát huy nét
đẹp văn hóa của dân tộc.
Hiện nay cũng không ít người chưa nhận thức, đầy đủ vai trò quan trọng của
văn hóa. Các thế lực thù địch lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo tuyên truyền đạo trái
pháp luật, súi dục, kích bẩy nhân dân chống phá Đảng, nhà nước; Phát sinh các
loại tệ nạn xã hội như trộm cắp, buôn lậu, nghiện hút…
Chính vì những lý do trên, tôi chọn “Giải pháp nâng cao hiệu quả xây dựng
đời sống văn hóa cơ sở” làm đề tài Sang kiến kinh nghiệm năm 2015. Hy vọng
thông qua đề tài này sẽ góp một phần làm sáng tỏ thêm vai trò và ý nghĩa thực tiễn
của việc xây dựng đời sống văn hóa cơ sở và đặc biệt sự cần thiết phải nâng cao
5
1. Khái niệm về văn hóa:
Nhìn chung trên thế giới, các định nghĩa về văn hóa hiện nay rất đa dạng.
Mỗi khái niệm, định nghĩa đề cập đến những dạng thức hoặc những lĩnh vực khác
nhau trong văn hóa.
Ở Việt Nam, văn hóa cũng được định nghĩa rất khác nhau, trong đề tài này
tôi sử dụng quan niệm của Hồ Chí Minh về văn hóa “ Vì lẽ sinh tồn cũng như mục
đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết,
đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho
sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những
sáng tạo và phát minh đó là văn hóa”. Với cách hiểu này, văn hóa sẽ bao gồm toàn
bộ những gì do con người sáng tạo và phát minh ra. Cũng giống như định nghĩa
6
của Tylor, văn hóa theo cách nói của Hồ Chí Minh sẽ là một “bách khoa toàn thư”
về những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người.
Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện
của của nó mà loài người sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và
đòi hỏi của sự sinh tồn”. Con người là sản phẩm của văn hóa đồng thời cũng là chủ
thể của văn hóa, chỉ có con người mới có văn hóa. Văn hóa là một kiểu ứng xử
giữa con người với con người, con người với xã hội, con người với tự nhiên. Chính
con người mới có văn hóa mới nâng cao chất lượng sống của con người và tự mình
bảo vệ quyền lợi của mình.
2. Khái niệm về đời sống văn hóa:
Đời sống văn hóa là hiện thực sinh động các hoạt động của con người trong
môi trường sống để duy trì, đồng thời tái tạo các sản phẩm văn hóa vật chất, văn
hóa tinh thần theo những giá trị và chuẩn mực xã hội nhất định nhằm không ngừng
tác động, biến đổi tự nhiên, xã hội và đáp ứng nhu cầu đổi mới, nâng cao chất
lượng sống của chính con người.
tố văn hóa hoạt động thái ( con người các hoạt động văn hóa của nó ) xét về mọi
phương diện khác, đời sống văn hóa bao gồm các hình thức sinh hoạt văn hóa hiện
thực và cả hình thức sinh hoạt văn hóa tâm linh. Bao gồm các tiêu chí sau: Sản
phẩm văn hóa; các hoạt động văn hóa; những con người văn hóa.
II. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA VÀ XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG
VĂN HÓA:
Trước hết theo quan niệm Hồ Chí Minh, nhằm thích ứng những nhu cầu đời
sống và đòi hỏi của sự sinh tồn, loài người sảng tạo ra văn hóa. Mặt khác, trong
công cuộc kiến thức nhà nước, thì văn hóa ngang hàng các lĩnh vực chính trị, kinh
tế, xã hội và tác động tích cực trở laị các lĩnh vực đó. Như vậy cùng với đời sống
vật chất lấy kinh tế làm nền tảng, thì người dân cần đời sống tinh thần, lấy văn hóa
làm nền tảng, thông qua các chức năng của văn hóa như:
- Bồi dưỡng tư tưởng đúng đắn và tình cảm tươi đẹp. Đó là tư tưởng vì nước
quên mình; vì lợi ích chung mà quên lợi ích riêng; độc lập, tự cường, tự chủ; không
có gì quý hơn độc lập tự do; độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Tình cảm lớn là
yêu nước thương dân. Những lý tưởng và tình cảm cách mạng khi đã đi sâu vào
tâm lý quốc dân sẽ biến thành một sức mạnh vật chất tạo động lực cho cách mạng.
- Năng cao dân trí. Dân trí là sự hiểu biết của người dân về các mặt chính trị,
kinh tế, văn hóa, chuyên môn, khoa học, kỹ thuật, thực tiễn….. mà muốn đạt được
thông qua văn hóa giáo dục.
- Bồi dưỡng những phẩm chất và phong cách tốt đẹp, lành mạnh để không
ngừng hoàn thiện bản thân. Văn hóa sẽ góp phần bồi dưỡng phẩm chất đạo đức đê
sửa đổi tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xã xỉ, chống “ giặc nội xâm”, hướng con
người vươn tới Chân – Thiện – Mỹ. Văn hóa soi đường cho quốc dân đi đê thực
hiện độc lập, tự cường, tự chủ. Văn hóa đưa con người từ chỗ tha hóa đến chỗ phát
triển tự do, toàn diện. Văn hóa là chất keo tạo sự liên kết, tăng cường mối tương
tác, hiểu biết giữa các dân tộc, điều tiết các mối quan hệ quốc tế.
Văn hóa là mục tiêu của cách mạng do đó phải giữa gìn cốt cách văn hóa của
dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, phải biết trân trọng giữ gìn, khai thác,
Thứ nhất: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là
động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội.
Thứ hai: Nền văn hóa mà chúng ta đang xây dựng là nền văn hóa tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc.
Thứ ba: Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong
cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Thứ tư: Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng
lãnh đạo, trong đó do đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng.
Thứ năm: Văn hóa là Mặt trận , xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp
lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và kiên trì thận trọng.
2. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI đặt ra những định
hướng về văn hóa:
a. Củng cố và tiếp tục xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phong
phú, đa dạng:
- Đưa phong trào “ toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đi vào
chiều sâu, thiết thực hiệu quả… Xây dựng và chiến lược quốc gia về xây dựng gia
đình Việt Nam góp phần giữ gìn và phát triển những giá trị truyền thống văn hóa,
của con người Việt Nam, nuôi dưỡng thế hệ trẻ.
- Xây dựng và tăng cường hiệu quả hoạt động của hệ thống thiết chế văn hóa
ở tất cả các cấp, đồng hời có kế hoạch cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới một số
công trình văn hóa, nghệ thuật, giáo dục, thể thao hiện đại ở các trung tâm kinh tế chính trị văn hóa của đất nước. Xã hội hóa các hoạt động chú trọng nâng cao đời
sống văn hóa ở nông thôn, vùng khó khăn, thu hẹp dần khoảng cách văn hóa giữa
các vùng, các nhóm xã hội, giữa đô thị và nông thôn.
9
b.Phát triển sự nghiệp văn hóa, nghệ thuật; phát huy giá trị các di sản
văn hóa truyền thống cách mạng.
- Tiếp tục phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc,
giàu chất nhân văn, dân chủ, vươn lên hiện đại, phản ánh chân thực đời sống, lịch
Hiến pháp Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định:
Điều 30 : “ Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát triển nền văn hóa Việt Nam;
dân tộc hiện đại, nhân văn; kế thừa và phát huy những giá trị của nền văn hóa các
dân tộc Việt Nam; tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, tiếp thu văn hóa
nhân loại; phát huy mọi tài năng sáng tạo trong nhân dân”.
10
Điều 31: “Nhà nước tạo điều kiện phát triển giáo dục, ý thức công nhân,
sống làm việc theo theo Hiến pháp và pháp lực, giữ gìn thuần phong mỹ tục, xây
dựng gia đình có văn hóa, hạnh phúc, có tinh thần yêu nước, yêu chế độ xã hội chủ
nghĩa, có tinh thần quốc tế, chân chính, hữu nghị và hợp tác với các dân tộc trên
thế giới”.
Quyết định số 581/QĐ-TTg, ngày 06 tháng 5 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ
về việc ban hành Chiến lươc phát triển văn hóa đến năm 2020.
Quyết định số 1610/QĐ-TTr ngày 16/9/2011 của Thủ tướng chính phủ Phê
duyệt chương trình thực hiện Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống
văn hóa’’ giai đoạn 2011 – 2015, định hướng đến năm 2020.
Quyết định số 794/QĐ-TTr ngày 12/10/2012 của Thủ tướng chính phủ về
việc thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng
đời sống văn hóa” trên cơ sở hợp nhất Ban chỉ đạo Trung ương Phong trào “Toàn
dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và Ban vận động Trung ương Cuộc vận
động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”.
Quyết định số 2164/QĐ-TTr ngày 11/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ Phê
duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở giai
đoạn 2013 -2020, định hướng đến năm 2030.
Nghị quyết số 09/NQ-TU, ngày 20/12/2012 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh
Điện Biên, về Chương trình bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc tỉnh Điện
Biên, gắn với phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2015, định hướng đến năm 2020.
Nghị quyết số 304/NQ-HĐND, ngày 13/5/2013, của Hội đồng nhân dân tỉnh
thống chính trị, được thực hiện một cách thường xuyên, liên tục trong nhiều giai
đoạn và sự tập trung thực hiện ngày càng rõ nét qua các phong rào toàn dân đoàn
kết xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, gắn kết chặt chẽ phong trào với thực hiện
chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới. Từ đó làm cho văn
hóa gắn kết chặt chẽ và thắm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng
tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển nền văn hóa Việt
Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
- Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở được coi là bước đi ban đầu của sự
nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, theo định
hướng xã hội chủ nghĩa nhằm để cho dân hưởng thụ, tiếp thu các thành tựu văn
hóa, văn minh của của nhân loại, tiếp thu các công nghệ mới trong quá trình xây
dựng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Xây dựng văn hóa là xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, giữ vững an ninh
chính trị và trật tự an toàn xã hội.
- Xây dựng văn hóa là góp phần nâng cao dân trí, nâng cao sự hiểu biết của
người dân. Mục đích là vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Muốn đạt tới những
nhận thức đó phải thông qua con đường văn hóa, trước hết là văn hóa giáo dục.
- Đảng và nhà nước không chỉ quan tâm đến đời sống vật chất là xóa đói
giảm nghèo mà còn quan tâm đến đời sống tinh thần, cho nên xây dựng đời sống
văn hóa ở cơ sở là đảm bảo cho nhân dân thỏa mãn cả đời sống vật chất và đời
sống tinh thần.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CỦA VIỆC
XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CƠ SỞ CỦA HUYỆN MƯỜNG NHÉ
I. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH CHUNG CỦA HUYỆN
1. Điều kiện tự nhiên
Mường Nhé là huyện miền núi biên giới vùng sâu, vùng xa được thành lập
theo Nghị định số 08/2002/NĐ-CP ngày 14/01/2002 của Chính phủ trên cơ sở điều
chỉnh địa giới hành chính từ hai huyện Mường Lay và Mường Tè của tỉnh Lai
Châu (cũ), Đảng bộ huyện được thành lập theo Quyết định số 570-QĐ/TU ngày
có hạt cả giai đoạn ước đạt 86.012 tấn; giai đoạn 2013-2015 ước đạt 43.345 tấn,
lương thực bình quân đầu người năm 2015 đạt 458 kg/người. Nhìn chung sản xuất
cây lương thực đã đạt được những kết quả tích cực, tăng trưởng của hai giai đoạn
(2011-2012 và 2013 2015) năm sau luôn cao hơn năm trước góp phần vào việc
đảm bảo an ninh lương thực của huyện, nâng cao đời sống nhân dân.
b. Cây công nghiệp: Cây công nghiệp ngắn ngày được duy trì, phát triển và
mở rộng diện tích góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân như
cây: Đậu tương, lạc, bông, cà phê, cao su, rong riềng... Tuy nhiên không mở rộng
được diện tích sản xuất cây bông.
c. Cây ăn quả: Ước tổng diện tích thu hoạch cả giai đoạn 2011- 2015
1.818ha; ước sản lượng 3.194 tấn
d. Các loại cây rau màu và cây có củ khác: được duy trì và phát triển, đảm
bảo sinh hoạt tại chỗ cho đời sống nhân dân và một phần cung cấp ra thị trường.
13
đ. Chăn nuôi: Đàn gia súc, gia cầm phát triển ổn định; với sự sát sao, kịp
thời trong việc trong phòng chống dịch bệnh nên trong giai đoạn không có dịch
bệnh lớn xảy ra; tốc độ tăng trưởng đàn gia súc: năm 2012 so với 2011 là 6,3%,
giai đoạn 2013 - 2015 ước bình quân 4,2%; tốc độ tăn trưởng đàn gia cầm: năm
2012 so với 2011 là 10%, giai đoạn 2013 - 2015 ước bình quân 12,6%.
e. Thủy sản: Tổng diện tích nuôi trồng cho thu hoạch từ 2011 -2015 ước
501ha; sản lượng nuôi trồng ước 439 tấn
f. Lâm nghiệp: Đến nay đã thực hiện cơ bản việc giao đất, giao rừng cho các
hộ gia đình, cộng đồng; đã tập trung khoanh nuôi tái sinh, bảo vệ rừng, độ che phủ
rừng đạt 55,9%.
2.2. Sản xuất công nghiệp
Đã hoàn thành công trình nước sạch phục vụ nhu cầu sinh hoạt của người
dân tại trung tâm huyện, đưa điện lưới quốc gia tới trung tâm 11/11 xã. Công
nghiệp chưa có sự chuyển biến cơ bản vẫn là khai thác chế biến vật liệu xây dựng,
cà phê, dự án đầu tư Chợ trung tâm huyện, dự án đầu tư trồng cây rong riềng, dự
án khách sạn và dịch vụ doanh nghiệp tư nhân Đại Phong). Các dự án được thực
hiện đúng cam kết, thực hiện đầu tư thuận lợi đã cho thấy hướng phát triển trên địa
bàn.
- Phát triển các thành phần kinh tế: Tạo mọi điều kiện thuận lợi để khuyến
khích đầu tư của các doanh nghiệp vào địa bàn huyện, các hộ kinh doanh cá thể
phát triển.
2.6. Tài nguyên - môi trường
Chỉ đạo tăng cường quản lý nhà nước về đất đai, tài nguyên, khoáng sản;
tăng cường quản lý, bảo vệ tài nguyên rừng; tổ chức tuyên truyền bảo vệ môi
trường, thu gom rác thải Trung tâm huyện; thành lập Ban chỉ đạo giao đất giao
rừng, triển khai các phương án giao đất, giao rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất lâm nghiệp, gắn với chi trả dịch vụ môi trường rừng theo kế hoach
388/KH-UBND tỉnh. Hoàn thành việc đo vẽ bản đồ địa chính 11/11 xã. Thực hiện
quy hoạch huyện Mường Nhé đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất thời kỳ đầu
2011-2015.
3. Văn hóa - xã hội
3.1. Lao động, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, cai nghiện,
phòng chống HIV
- Lao động, giải quyết việc làm: Từ năm 2011 -2015 huyện đã giải quyết
việc làm mới được 2.807;ước xuất khẩu lao động 22 người; tỷ lệ lao động nông
thôn qua đào tạo cao nhất chỉ đạt 18%.
- Xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội: Đã tích cực thực hiện mục tiêu xóa đói
giảm nghèo; Thực hiện các chính sách hỗ trợ giảm nghèo gắn với các chính sách
an sinh xã hội; thực hiện tốt các chế độ đối với đối tượng chính sách; tỷ lệ hộ
nghèo tính đến hết năm 2014 ước còn 43,3%.
- Cai nghiện, phòng chống HIV: Từ năm 2011 – 2015 tổ chức cai nghiện cho
280 đối tượng (trong đó: cai nghiện tại cộng đồng 200 đối tượng, cai nghiện tập
trung 80 đối tượng); tuy nhiên số đối tượng nghiện hút các chất ma túy có dấu hiệu
gia tăng, vẫn còn hiện tượng tái trồng cây thuốc phiện ở một số nơi trên địa bàn.
vụ, hiểu biết pháp luật, kỹ thuật canh tác ... cho cán bộ và nhân dân. Chi trả đúng
đủ chế độ, chính sách cho học sinh, sinh viên theo quy định.
3.4. Văn hóa, thông tin, thể dục thể thao, phát thanh truyền hình
- Văn hóa, văn nghệ: Có nhiều chuyển biến tích cực, đã tập trung tuyên
truyền chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các sự kiện
chính trị lớn, đặc biệt là việc chia tách huyện góp phần nâng cao nhận thức và phục
vụ đời sống tinh thần cho nhân dân; mới có 27 bản tổ dân cư được công nhận văn
hóa đạt 27,8%, có 3.200 hộ gia đình được công nhận gia đình văn hóa, số cơ quan
đơn vị văn hóa chỉ đạt 90,9%; toàn huyện hiện nay mới chỉ có 18 nhà văn hóa bản,
chưa có nhà văn hóa cấp xã. Phong trào xây dựng đời sống văn hóa gắn với xây
dựng mô hình nông thôn mới luân được triển khai. Hàng năm Phối hợp với Sở
Văn hóa chiếu bóng phục vụ nhân dân ở những bản chưa có điện lưới, sóng truyền
hình. Tham gia các hoạt động văn hóa thể thao do tỉnh tổ chức đạt kết quả khá, ...
- Thể dục, thể thao: Phong trào luyện tập thể dục, thể thao được duy trì; tổ
chức các hoạt động thi đấu ... nhân các ngày lễ. Duy trì giải thể dục thể thao công
nông binh; tổ chức các giải thể thao như bóng đã, cầu lông chào mừng các ngày lễ
lớn các sự kiến chính trị quan trọng.
- Thông tin, phát thanh truyền hình: Khai thác, cập nhật thông tin tuyên
truyền, đưa - gửi tin bài kịp thời, chính xác. Chất lượng nội dung tin bài, chương
trình sản xuất được kiểm duyệt, kiểm tra, giám sát chặt chẽ, đảm bảo an toàn, an
ninh thông tin. Chú trọng sản xuất Trang truyền hình cơ sở phát trên truyền hình
tỉnh. Triển khai các trạm chuyển tiếp sóng phát thanh tới trung tâm các xã, tuy
nhiên số hộ được phủ sóng truyền hình tỉnh mới chỉ đạt 20% .
16
3.5. Công tác dân tộc, tôn giáo
Thực hiện tốt các chính sách Dân tộc theo chủ trương của Đảng và Nhà
nước, đã góp phần giải quyết các vấn đề cấp bách, đáp ứng cơ bản tâm tư, nguyên
vọng, góp phần giảm bớt khó khăn về đời sống, tinh thần của nhân dân đồng bào
tại nạn tảo hôn.
Hầu hết các đám tang vẫn đảm bảo theo quy định đã đề ra: lễ viếng thường đảm
bảo trang nghiêm, đơn giản, tiết kiệm, không gây mất trật tự, phiền hà cho khu dân cư;
việc phúng viếng bằng vòng hoa đã được hạn chế và chỉ dành cho tập thể; hiện tượng rắc
tiền thật, vàng mã đã được hạn chế; việc mai táng đảm bảo vệ sinh môi trường; các thôn,
bản, tổ dân phố đều có Ban tang lễ giúp gia chủ tổ chức đám tang chu đáo, trang nghiêm,
gọn nhẹ, tiết kiệm. Một số nơi đã quy hoạch nghĩa trang phù hợp với đặc điểm địa lý dân
17
cư. Tuy nhiên, một số đồng bào dân tộc ở vùng sâu, vùng xa vẫn còn lưu giữ một số hủ
tục lạc hậu; các khu nghĩa trang chưa có quy hoạch cụ thể, còn đặt ở vị trí gần dân, không
đảm bảo về vệ sinh môi trường và cảnh quan; việc rải vàng mã trên đường vẫn còn diễn
ra gây mất mỹ quan đô thị.
3. Bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa:
Huyện Mường Nhé có 4 lễ hội : Gạ ma thú, Tết cổ truyền của dân tộc Hà nhì
thuộc xã Sín Thầu, lễ cúng mừng cơm mới của dân tộc Si La thuộc xã Chung Chải, lễ
cúng tổ tiên của dân tộc Cống thuộc xã Nậm kè. Các lễ hội chủ yếu do thôn, bản đứng ra
tổ chức. Công tác quản lý và tổ chức lễ hội được thực hiện đúng theo quy định của pháp
luật, lành mạnh, tiết kiệm phù hợp với thuần phong mỹ tục.
4. Xây dựng đời sống Văn hóa cơ sở :
4.1. Hoạt động tuyên truyền lưu động :
Huyện có 01 đội Thông tin lưu động hằng năm đã xây dựng được 2 chương trình
mới, bình quân 50 buổi tuyên truyền, thu hút được trên 25 nghìn lượt người xem/năm.
4.2. Hoạt động biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp :
Hàng năm huyện đã phối hợp với Đoàn nghệ thuật Hoa ban trắng, Đội TTLĐ
tỉnh, tuyên truyền biểu diễn phục vụ nhân dân các dân tộc, thu hút khoảng 20 nghìn lượt
người xem mỗi năm. Kết quả tính trung bình mỗi năm mức hưởng thụ nghệ thuật chuyên
nghiệp đạt 0,1 lượt/người/năm.
4.3. Hoạt động văn nghệ quần chúng :
5. Những tồn tại hạn chế, nguyên nhân:
5. 1. Những tồn tại, hạn chế: Việc đầu tư, bảo tồn và phát huy hiệu quả văn hoá
truyền thống các dân tộc còn ít, dàn trải; phần lớn các mục tiêu, nhiệm vụ đến nay chưa
triển khai thực hiện được, việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống các
dân tộc còn khó khăn. Nhiều di sản văn hóa truyền thống của các dân tộc chưa được
nghiên cứu, đánh giá một cách khoa học. Một số giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp, tiêu
biểu của các dân tộc đang đứng trước nguy cơ mai một.
Đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa trong huyện hiện đang thiếu và yếu cả về số
lượng và chất lượng, Hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở còn rất ít, việc đầu tư xây dựng từ
ngân sách nhà nước còn chưa đáp ứng yêu cầu thực tế. Công tác nghiên cứu khoa học
chưa được triển khai tập trung và đồng bộ; ngân sách chi cho công tác này còn thấp;
chưa có chính sách huy động nguồn lực tài chính khác.
Sự chênh lệch về hưởng thụ văn hóa giữa các vùng còn lớn, các hoạt động văn
hoá, văn nghệ phục vụ đồng bào các dân tộc chưa đáp ứng yêu cầu; đối tượng hưởng lợi
từ chương trình sản xuất và cung cấp ấn phẩm cho địa bàn đặc biệt khó khăn hiện nay
mới chỉ giới hạn đến xã, không đến các thôn, bản; phong trào văn hoá, văn nghệ ở địa
bàn thôn, bản chưa đều cả về số lượng và chất lượng; việc gắn kết các chương trình, đề
án phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường với văn hóa còn bất cập.
5.2. Nguyên nhân
a) Nguyên nhân khách quan.
Huyện hiện vẫn đang là một huyện trẻ, bộ máy chính trị, chính quyền có nhiều
biến động do các đợt chia tách huyện, xã; có địa bàn rộng, địa hình núi cao, hiểm trở, dân
cư sống phân tán, giao thông đi lại khó khăn, tỷ lệ nghèo cao; kết cấu hạ tầng chưa đồng
bộ, nhất là giao thông, thuỷ lợi, điện, thông tin… Một số nơi còn tồn tại phong tục tập
quán lạc hậu, tình trạng du canh du cư, di cư tự do còn diễn biến phức tạp. Các thế lực
thù địch tiếp tục thực hiện chiến lược “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ, sử dụng các
chiêu bài dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, xuyên tạc để chống phá cách mạng,
chia rẽ đoàn kết dân tộc.
Kinh phí đầu tư, hỗ trợ của Nhà nước cho hoạt động văn hóa - xã hội, nhất là ở
cấp xã, thôn, bản còn hạn chế, chưa đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững, mới chỉ giải
của văn hóa được nâng lên đáng kể. Xây dựng con người huyện Mường Nhé có nhiều
tiến bộ; hình thành nhiều phong trào văn hóa, thu hút đông đảo quần chúng tham gia, góp
phần vào việc giữ vững ổn định chính trị, trật tự xã hội, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc,
thúc đẩy kinh tế phát triển. Có bước phát triển mới về văn học, nghệ thuật. Bước đầu đã
quan tâm đầu tư trang thiết bị, phương tiện cho hoạt động văn hóa tại các đơn vị, địa bàn
trọng điểm để tạo nguồn lực cho cơ sở; bảo tồn và phát huy di sản văn hóa có những
bước tiến đáng kể; chú trọng bảo tồn, phát huy văn hóa các dân tộc thiểu số; quan tâm
hợp tác, giao lưu văn hóa quốc tế. Các mặt kinh tế, văn hóa-xã hội tính tới thời điểm
hiện tại trên địa bàn huyện có những chuyển biến tích cực, chất lượng giáo dục,
chất lượng khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân được nâng lên.
Hoạt động văn hóa, thể dục thể thao được tổ chức thường xuyên từ huyện đến xã,
bản nhân các ngày lễ kỷ niệm trong năm.
Tuy nhiên huyện Mường Nhé là một huyện vùng sâu vùng xa. Nền kinh tế
trong những năm gần đây tuy có phát triển nhưng chưa thực sự vững chắc toàn
diện. Đời sống của khá đông người dân chưa vượt qua cảnh nghèo khó. Mặt khác
trên địa bàn của huyện tương đối rộng dân cư thiếu tập trung, cho nên việc xây
dựng môi trường văn hóa, việc tổ chức và đưa các phong trào văn nghệ, thể dục thể
thao và ngay tại cơ sở gặp rất nhiều khó khăn. Cũng chính từ đó, nên trong thời
gian qua Đảng bộ chính quyền địa phương đã có nhiều trăn trở về các giải pháp chỉ
20
đạo, điều hành, luôn gắn kết việc tăng trưởng kinh tế đi đôi với giải quyết các vấn
đề văn hóa xã hội. Song do nhận thức và vận dụng chủ trương của Đảng từng nơi,
từng cơ quan, đơn vị khác nhau, nên còn nhiều bất cập. Việc đầu tư nguồn lực để
xây dựng các thiết chế văn hóa còn quá ít, trong khi đó những biến động của đời
sống kinh tế, chính trị, xã hội đã ảnh hưởng đến hoạt động văn hóa ở cơ sở. Đời
sống kinh tế, xã hội vẫn còn phát triển chậm, trình độ dân trí còn thấp. Riêng đời
sống văn hóa tinh thần của một số đồng bào trên địa bàn còn rất nhiều hạn chế.
Trong đó sinh hoạt văn hóa mang đậm các sắc tộc bản địa đang dần bị mai một.
bản và quốc tế.
21
Các hoạt động văn hóa phải hướng về các xã, các bản. Nâng cao mức hưởng thụ văn
hóa, từng bước thu hẹp sự chênh lệch về hưởng thụ văn hóa giữa các vùng, quan tâm vùng
đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới.
Tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động văn hóa và dịch vụ
văn hóa nơi công cộng; nâng mức đầu tư của Nhà nước, đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt
động văn hóa, gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế với phát triển văn hóa.
Tăng cường, chủ động hợp tác và giao lưu quốc tế về văn hoá với huyện Giang
Thành tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) kết hợp với việc tổ chức các hoạt động giao lưu văn
hóa, nghệ thuật với quảng bá du lịch.
2 . Mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể
2.1. Nâng cao chất lượng và hiệu quả phong trào “Toàn dân đoàn kết xây
dựng đời sống văn hóa”
Tiếp tục củng cố về chất lượng; nâng cao tỷ lệ các chỉ tiêu đạt được trong giai
đoạn 2011 - 2015; phấn đấu đạt được các tiêu chí về xây dựng văn hóa nông thôn mới
cấp xã đạt gần 30% xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới; Đẩy mạnh và nâng cao chất
lượng phong trào “Xây dựng gia đình văn hóa; thôn, bản, tổ dân cư văn hóa”, cuộc vận
động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” trong giai đoạn mới;
xây dựng, công nhận cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa; xây dựng, công
nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới; Xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc
tang và lễ hội.
2.2. Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền
Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền; đổi mới mạnh mẽ công tác thông tin
tuyên truyền miệng, coi đây là một trong những kênh thông tin quan trọng và có hiệu
quả; nâng cao chất lượng các sản phẩm thông tin, tuyên truyền. Dùng tiếng nói các dân
tộc và chữ viết của các dân tộc có chữ viết trên các phương tiện thông tin đại chúng ở
vùng đồng bào dân tộc. Sản xuất, xuất bản các ấn phẩm, xuất bản phẩm nhằm giới thiệu,
văn nghệ/11 xã.
2.5. Xây dựng đời sống văn hóa, môi trường văn hóa gắn kết chặt chẽ những
hoạt động xây dựng đời sống văn hóa với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội phù
hợp với từng khu vực, từng vùng, từng dân tộc
Xây dựng hương ước, quy ước trong đời sống văn hóa, trong việc cưới, việc tang
và lễ hội của các dân tộc; đề xuất các giải pháp để xây dựng đời sống văn hóa và phát
triển kinh tế - xã hội. Nghiên cứu, sưu tầm và phát triển các loại hình nghệ thuật, nhạc cụ
truyền thống tiêu biểu các dân tộc thiểu số tại các khu bố trí ổn định dân cư như xã Sín
Thầu, xã Chung chải và xã Mường Toong. Tăng cường năng lực của các chủ thể văn
hoá, đề cao các nghệ nhân, người có uy tín trong cộng đồng để họ nhận thức, tham gia
với vai trò then chốt trong việc tự bảo tồn và phát huy văn hoá của dân tộc mình.
2.6. Triển khai Đề án phát triển hệ thống thư viện công cộng
- Xây dựng Thư viện huyện, Tiếp tục đầu tư nâng cấp phần mềm thư viện điện tử,
thư viện số tại Thư viện huyện. Tập trung sưu tầm, sao lục và phục chế tài liệu sách cổ
tỉnh Điện Biên, số hóa tài liệu địa chí, tài liệu quý hiếm, các công trình nghiên cứu khoa
học.
2.7. Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác đời sống văn hóa cơ sở
- Xây dựng 02-03 cụm/năm; 300 băng rôn, khẩu hiệu/năm; phục vụ 60 - 70 buổi
VNQC tại các xã, bản; phối hợp với các cơ quan, ban ngành tổ chức hội thi, liên hoan
cấp huyện, xã, bản. Xây dựng các chương trình tham gia hội thi, liên hoan các cấp, phục
vụ các sự kiện chính trị. Phát triển các loại hình câu lạc bộ, mở các lớp năng khiếu hè.
2.8. Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác phát hành sách
Xây dựng thị trường sách lành mạnh, phong phú, đa dạng về thể loại, có nội dung
tư tưởng tốt phục vụ nhu cầu hưởng thụ văn hoá ngày càng cao của nhân dân.
Phát hành bình quân 0,5 xuất bản phẩm/người dân/năm. Cửa hàng sách được đầu
tư xây dựng có đầy đủ trang thiết bị phục vụ công tác phát hành. Sử dụng quỹ đất nằm
trong quy hoạch cấp đất của tỉnh để xây dựng của hàng sách. Xây dựng ở khu trung tâm
23
- Thực hiện có hiệu quả việc lồng ghép giữa các chương trình dự án về phát triển
văn hóa các dân tộc và các chương trình phát triển kinh tế - xã hội với chương trình mục
tiêu quốc gia về văn hóa đã và đang triển khai. Đẩy mạnh huy động nguồn vốn xã hội
hóa, nguồn tài trợ từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.
III. NHỮNG KIẾN NGHỊ
Huyện ủy Mường Nhé: Tăng cường công tác chỉ đạo ra các chỉ thị, Nghị quết
chuyên đề về xây dựng và phát triển văn hóa nhằm thực hiện Chiến lược phát triển văn
hóa Việt Nam đến năm 2020 và tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (Khóa VIII)
và Kết luận Hội nghị Trung ương 10 (Khóa IX); Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp
24
hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam
đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.
UBND huyện Mường Nhé: Có kế hoạch xây dựng hệ thống thiết chế văn hóa, thể
thao của huyện, xã, bản; đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho Trung tâm Văn hóa huyện,
Thư viện huyện, các hiệu sách nhân dân cấp huyện.
Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ văn hóa và chuyên môn nghiệp vụ
cho cán bộ văn hóa xã. Quan tâm đào tạo cán bộ có trình độ chuyên môn cao.
Tăng biên chế có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực cao theo các lĩnh vực
tham mưu của cho bộ máy tổ chức của Phòng Văn hóa và Thông tin, đảm bảo đáp ứng
thực hiện nhiệm vụ trong tình hình mới.
25