BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
________________
Lê Thị Mỹ Trang
XÂY DỰNG HỆ THỐNG LÝ THUYẾT, BÀI TẬP
PHẦN HÓA LÝ DÙNG TRONG BỒI DƯỠNG
HỌC SINH GIỎI VÀ CHUYÊN HÓA THPT
Chuyên ngành : Lý luận và phương pháp dạy học hóa học
Mã số
: 60 14 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN THỊ SỬU
Thành phố Hồ Chí Minh - 2009
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BT
:
bài tập
:
hơi
HS
:
học sinh
HSG
:
học sinh giỏi
K
:
khí
KT
:
kiểm tra
L
sách giáo khoa
:
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa trong
thư gửi học sinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Non sông Việt Nam có trở
nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được vẻ vang sánh vai cùng các
cường quốc năm Châu hay không chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các
cháu”. Thực hiện lời dạy của Người, Đảng và Nhà nước ta luôn chăm lo đến sự
nghiệp giáo dục và đào tạo: “Giáo dục – Đào tạo cùng với khoa học công nghệ là
quốc sách hàng đầu”. Trong những năm qua, với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước,
toàn xã hội và sự nỗ lực phấn đấu của ngành giáo dục, sự nghiệp GD-ĐT đã có một
số tiến bộ mới: ngân sách đầu tư cho giáo dục nhiều hơn, cơ sở vật chất kĩ thuật
được tăng cường, quy mô giáo dục được mở rộng, trình độ dân trí được nâng cao.
Những tiến bộ ấy đã góp phần quan trọng vào công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc.
Chúng ta đang sống trong một thế giới diễn ra sự bùng nổ về khoa học và công
nghệ do đó sự nghiệp giáo dục và đào tạo nước ta đóng vai trò, chức năng quan
trọng trong việc “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” để thực
hiện thành công công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập với
quốc tế, sánh vai cùng các nước tiên tiến trên thế giới.
Từ thực tế đó đặt ra cho ngành giáo dục và đào tạo không những có nhiệm vụ
“giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ
năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành
nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm
công dân” mà còn phải có nhiệm vụ phát hiện, bồi dưỡng những học sinh có năng
khiếu, có tư duy sáng tạo nhằm đào tạo các em trở thành những nhà khoa học, nhà
dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ.
Thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá hiệu quả của hệ thống lý thuyết, bài tập và
phương pháp đã đề xuất.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được hệ thống kiến thức lý thuyết và bài tập đa dạng, phong phú,
có chất lượng kết hợp với phương pháp sử dụng hợp lí chúng trong dạy học thì sẽ
giúp học sinh nâng cao được kiến thức, rèn luyện khả năng tự học, tự nghiện cứu,
chủ động và sáng tạo góp phần nâng cao chất lượng bộ môn và hiệu quả của quá
trình bồi dưỡng học sinh giỏi và chuyên hóa học THPT.
5. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
5.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học hóa học ở trường THPT.
5.2. Đối tượng nghiên cứu
Hệ thống lý thuyết – bài tập phần nhiệt động lực học, cân bằng hóa học, động hóa
học và điện hóa học dùng trong bồi dưỡng học sinh giỏi và chuyên hóa học.
Các phương pháp sử dụng hệ thống lý thuyết – bài tập trong việc bồi dưỡng học
sinh giỏi và chuyên hóa học.
6. Phạm vi nghiên cứu
Nội dung: phần nhiệt động lực học, cân bằng hóa học, động hóa học và điện hóa
học.
Đối tượng: giáo viên dạy chuyên hóa và bồi dưỡng HSG; HS các lớp chuyên hóa
và đội tuyển HSG hóa học.
Địa bàn nghiên cứu: Trường THPT chuyên Lê Khiết; THPT Trần Quốc Tuấn và
THPT Sơn Tịnh; đội tuyển HSG quốc gia và đội tuyển HSG giải toán trên máy tính
cầm tay – tỉnh Quảng Ngãi.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa các nguồn tài liệu để xây dựng
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Các công trình nghiên cứu về bồi dưỡng học sinh giỏi và chuyên hóa
THPT
Trong công cuộc cải cách giáo dục hiện nay, việc phát hiện và đào tạo HSG
nhằm cung ứng nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước là một trong những
nhiệm vụ quan trọng ở bậc THPT. Xác định được nhiệm vụ quan trọng này, đã và
đang có nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề phát hiện, bồi dưỡng HSG ở tất cả các bộ
môn trong nhà trường.
Đối với môn hóa học, đã có 1 số luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ nghiên cứu
như:
“Xây dựng hệ thống bài tập hóa học nhằm rèn luyện tư duy trong việc bồi
dưỡng HSG hóa học ở trường THPT” Luận án Tiến sĩ của Vũ Anh Tuấn (2004)
ĐHSP Hà Nội.
“Xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập phần dung dịch, sự điện li và phản ứng
oxi hóa khử dùng cho HS khá, giỏi, lớp chọn, lớp chuyên hóa học ở bậc THPT”
Luận văn Thạc sĩ của Hoàng Công Chứ (2006) ĐHSP Hà Nội.
“Hệ thống lý thuyết xây dựng hệ thống bài tập phần kim loại dùng cho bồi
dưỡng học sinh giỏi và chuyên hóa học THPT” Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị
Lan Phương (2007) ĐHSP Hà Nội.
“Xây dựng hệ thống bài tập hóa học vô cơ nhằm rèn luyện tư duy trong bồi
dưỡng HSG ở trường THPT” Luận văn Thạc sĩ của Đỗ Văn Minh (2007) ĐHSP
Hà Nội.
“Phân loại, xây dựng tiêu chí cấu trúc các bài tập về hợp chất ít tan phục vụ
cho việc bồi dưỡng HSG Quốc gia” Luận văn Thạc sĩ của Vương Bá Huy (2006)
ĐHSP Hà Nội.
“Xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập phần cơ sở lý thuyết các phản ứng hóa
học dùng cho HS lớp chuyên ở bậc THPT” Luận văn Thạc sĩ của Lại Thị Thu
Thủy (2004) ĐHSP Hà Nội.
nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình
thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực”.
Nhiệm vụ quan trọng của ngành giáo dục là phát hiện những HS có tư chất thông
minh, khá giỏi nhiều môn học, bồi dưỡng các em trở thành những HS có tình yêu
đất nước, có ý thức tự lực, có nền tảng kiến thức vững vàng, có phương pháp tự
học, tự nghiên cứu, có sức khỏe tốt để tiếp tục đào tạo thành nhân tài đáp ứng yêu
cầu phát triển đất nước trong thời kỳ hội nhập quốc tế.
Do đó, việc phát hiện và bồi dưỡng HSG cũng đã được quan tâm, qua 45 năm
xây dựng và phát triển, hệ thống các trường THPT chuyên đã có những đóng góp to
lớn trong việc phát hiện, bồi dưỡng học sinh có năng khiếu, tạo nguồn nhân lực, đào
tạo nhân tài cho đất nước.
1.1.3. Mục tiêu của việc bồi dưỡng HSG [8], [68]
Theo các tài liệu đã xác định mục tiêu của việc bồi dưỡng HSG là
Phát triển phương pháp suy nghĩ ở trình độ cao phù hợp với khả năng trí tuệ
của trẻ.
Thúc đẩy động cơ học tập.
Bồi dưỡng sự lao động, làm việc sáng tạo.
Phát triển các kĩ năng, phương pháp và thái độ tự học suốt đời.
Nâng cao ý thức và khát vọng của trẻ về sự tự chịu trách nhiệm.
Khuyến khích sự phát triển về lương tâm và ý thức trách nhiệm trong đóng góp
xã hội.
Hình thành, rèn luyện và phát triển khả năng nghiên cứu khoa học, khả năng
hợp tác.
Tạo điều kiện tốt nhất để phát triển khả năng, năng khiếu của HS.
Định hướng nghề nghiệp.
Hình thành, rèn luyện và phát triển khả năng giao tiếp, ứng xử với mọi tình
huống xảy ra.
1.1.4. Những năng lực của HSG hóa học [6], [8]
1.1.6.1. Kích thích động cơ học tập của HS
Chuẩn bị cở sở dạy học
Xây dựng môi trường dạy học phù hợp.
Chuẩn bị tài liệu; phương tiện, thiết bị dạy học (máy tính, máy chiếu, tranh
ảnh, hình vẽ, băng hình, mô hình, dụng cụ, hóa chất thí nghiệm…) đầy đủ.
Cơ sở vật chất đầy đủ: phòng học, phòng thí nghiệm, phòng bộ môn…
Xây dựng niềm tin trong mỗi HS
Việc học trong đội tuyển trở thành niềm vui, niềm vinh dự cho bản thân, gia
đình và nhà trường.
Thường xuyên quan tâm, giúp đỡ và nắm bắt tâm lí của mỗi HS.
Giao các nhiệm vụ vừa sức cho HS và nâng dần độ khó của yêu cầu.
Cần khuyến khích và động viên kịp thời đối với từng HS (có chế độ khen
thưởng rõ ràng).
Cần kiểm tra, đánh giá năng lực của từng HS thường xuyên và từ đó uốn nắn,
điều chỉnh, bổ sung và nâng cao kiến thức, kĩ năng cho các em.
Có những chính sách ưu tiên của gia đình, thầy cô và nhà trường đối với HSG.
Giúp các em thấy được vai trò của hóa học đối với đời sống từ đó giúp các em
định hướng nghề nghiệp.
1.1.6.2. Soạn thảo nội dung dạy học và có PPDH phù hợp
Nội dung dạy học
Hệ thống lý thuyết phải được biên soạn chính xác, đầy đủ, rõ ràng, ngắn gọn,
dễ hiểu, bám sát yêu cầu của chương trình thi HSG quốc gia, quốc tế.
Hệ thống bài tập phong phú, đa dạng giúp HS đào sâu kiến thức, rèn luyện kĩ
năng kĩ xảo và phát triển tư duy cho HS.
PPDH
Kết hợp linh hoạt giữa các phương pháp thuyết trình; vấn đáp, đàm thoại; phát
hiện và giải quyết vấn đề; đàm thoại nêu vấn đề…
GV nên phát tài liệu trước để HS nghiên cứu ở nhà, khi đến lớp GV sẽ giải đáp
Bản thiết kế phải liệt kê ra những kết quả cần đạt (có thể theo mục tiêu, chuẩn kiến
thức, kĩ năng được nêu ra trong chương trình) và các phương pháp cần sử dụng để
kiểm tra các kết quả đó ví dụ như bài kiểm tra trắc nghiệm khách quan, viết
luận…
Thiết kế đề kiểm tra dưới nhiều hình thức: trắc nghiệm khách quan, trắc nghiệm tự
luận, xemina, đề tài nghiên cứu nhỏ…
Xây dựng “rubric” đối với kỹ thuật đánh giá hay đề kiểm tra chỉ ra những mong
đợi về các mức độ, thành tích cần đạt được trong đề kiểm tra hoặc kỹ thuật đánh
giá.
Học sinh thực hiện nhiệm vụ.
Người đánh giá áp dụng “rubric” để quyết định mức độ thành tích của mỗi học
sinh.
Đưa ra những thông tin phản hồi đến học sinh dựa trên những điều thể hiện ở “rubric”.
Hình 1.1. Mô hình tổ chức kiểm tra, đánh giá Rubric
(Rubric là một tập hợp các quy tắc nhằm giúp GV đưa ra những đánh giá về
HS thông qua những minh chứng có được từ kết quả học tập của HS thể hiện ở các
bài kiểm tra hoặc ở phần đánh giá chung. Mỗi phần đánh giá chung hoặc mỗi bài
kiểm tra đều phải có một rubric để có thể đưa ra những quyết định hợp lý và tin cậy
về kết quả học tập của HS).
Bồi dưỡng năng lực tự kiểm tra, đánh giá cho HSG: sau mỗi lần kiểm tra GV tổ
chức sửa đề kiểm tra rồi cho HS tự chấm điểm hoặc cho HS chấm chéo bài cho
nhau, sau đó GV rà soát lại. Nếu cách làm này lặp lại nhiều lần sẽ giúp cho HS học
Theo các nhà lý luận dạy học Liên Xô (cũ), bài tập bao gồm cả câu hỏi và bài
toán, mà trong khi hoàn thành chúng, HS nắm được hay hoàn thiện một tri thức
hoặc một kĩ năng nào đó bằng cách trả lời vấn đáp, trả lời viết hoặc có kèm theo
thực nghiệm. Hiện nay ở nước ta thuật ngữ “bài tập” được dùng theo quan điểm
này.
1.2.2. Phân loại
Có nhiều cách phân loại BT hóa học, nó phụ thuộc vào các cơ sở phân loại khác
nhau như: dựa vào chủ đề, khối lượng kiến thức, tính chất của bài tập, đặc điểm của
bài tập, nội dung, mục đích dạy học, phương pháp giải… Tuy nhiên, dựa vào nội
dung và hình thức có thể phân loại BT hóa học thành 2 loại: bài tập trắc nghiệm tự
luận và bài tập trắc nghiệm khách quan; trong mỗi loại đều có 2 dạng BT định tính
và BT định lượng. Sự khác nhau giữa 2 dạng BT này được thể hiện ở bảng sau:
BT trắc nghiệm tự luận
BT trắc nghiệm khách quan
HS phải viết câu trả lời, phải lập HS phải đọc, suy nghĩ lựa chọn đáp án
luận, chứng minh bằng ngôn ngữ của đúng trong 4 phương án đã cho.
mình.
Số lượng câu hỏi tương đối ít nhưng Số lượng câu hỏi nhiều nhưng có tính
tổng quát.
chuyên biệt.
HS mất nhiều thời gian để suy nghĩ HS mất nhiều thời gian để đọc và suy
và viết.
nghĩ.
1.3. Thuận lợi và khó khăn trong bồi dưỡng HSG hóa học THPT
1.3.1. Thuận lợi
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thành lập “Chương trình quốc gia bồi dưỡng nhân
tài giai đoạn 2008 2020 với những bước đi và mục tiêu cụ thể, đây là động lực
mạnh mẽ thúc đẩy việc bồi dưỡng, đào tạo nhân tài cho đất nước”[8].
SGK hóa học đã được bổ sung, cập nhật khá nhiều kiến thức mới đặc biệt là
các lý thuyết chủ đạo tạo điều kiện cho HS nghiên cứu hóa học sâu hơn, rộng hơn
và có tác dụng kích thích động cơ học tập, phát huy khả năng tự học của HS.
Các thầy cô giáo và học sinh rất tâm huyết với việc bồi dưỡng HSG.
1.3.2. Khó khăn
Theo quy định của Bộ GDĐT “HSG quốc gia không được tuyển thẳng vào
đại học” do đó động lực để các em tham gia học đội tuyển giảm sút trầm trọng, các
em không muốn tham gia vào đội tuyển vì lo sợ thi trượt đại học.
Đất đai, khuôn viên, cơ sở vật chất, phương tiện, thiết bị dạy học trong hệ
thống các trường chuyên chưa đồng bộ, còn quá nhiều khó khăn.
Kinh phí đầu tư cho trường chuyên còn nhiều hạn hẹp, chưa phù hợp với yêu
cầu phát triển, chưa tạo nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển tài năng của GV và
HS.
Chính sách đặc thù cho hệ thống các trường THPT chuyên chưa đủ mạnh, đặc
biệt là đối với các địa phương có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn. Thiếu chính
sách đồng bộ để liên thông đào tạo từ THPT đến ĐH, sau đại học đối với HS THPT
chuyên, đặc biệt đối với HS có thành tích xuất sắc trong các kỳ thi quốc gia, quốc
tế; thiếu cơ chế quản lý, phát triển, đãi ngộ, sử dụng nhân tài.
Đa số phụ huynh đều muốn con em mình thi đậu đại học nên không khuyến
khích hoặc không muốn cho con em mình tham gia đội tuyển HSG.
Chế độ chính sách cho GV bồi dưỡng HSG và HSG còn thấp, do đó không có
sức thu hút GV đầu tư nghiên cứu để bồi dưỡng HSG và HS không có động lực để
tham gia.
Định hướng
Giáo viên
Liên hệ ngược
Liên hệ
Học sinh
Thích ứng
Tư liệu hoạt
động dạy học
(Môi trường)
Tổ chức
Cung cấp tư
liệu tạo tình
huống
Hình 1.2. Sự tương tác trong dạy học
Như vậy, mặt tích cực của lí thuyết dạy học tương tác là đã chú ý đáng kể đến
yếu tố môi trường – đây là nơi diễn ra hoạt động dạy và hoạt động học, đồng thời
đã xác lập các tương tác của ba yếu tố trong quá trình dạy học. Do vậy, trong quá
trình tổ chức dạy học theo lí thuyết tương tác đòi hỏi phải chú ý tới một nhân tố mới
(thực ra nó vẫn tồn tại nhưng chưa được quan tâm đúng mức) của quá trình dạy
học đó là yếu tố môi trường.
1.4.3. Mô hình dạy học tương tác trong học tập
đang tìm hiểu.
Lựa chọn câu hỏi để khám phá: Các câu hỏi HS đặt ra càng nhiều chứng tỏ
HS tích cực tham gia vào quá trình suy nghĩ giải quyết vấn đề. Song để đạt được
kiến thức đã định, bằng cách tiếp cận kiến tạo GV thảo luận và phân tích cùng HS
để lựa chọn những câu hỏi có liên quan đến bài học mà có thể khám phá trong điều
kiện cho phép.
Khâu khám phá cụ thể: GV cung cấp phương tiện khám phá đã chuẩn bị
trước cho cá nhân hoặc nhóm và các phương tiện để HS xây dựng và tiến hành
khám phá vấn đề. GV quan sát HS làm việc, đinh hướng họ vào những vấn đề cần
tiến hành thí nghiệm, quan sát hiện tượng, cần đọc, hỏi hoặc báo cáo, … để trả lời
được các câu hỏi mà đã lựa chọn ở bước trước. Từ đó, GV biết được những điều HS
đang suy nghĩ, đang tìm cách giải quyết vấn đề học tập.