BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VỀ CHƯƠNG TRÌNH VÀ TÀI LIỆU DẠY - HỌC NGỮ NGHĨA HỌC
CHO SINH VIÊN, GIÁO VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC
TIỀU HỌC
Mã số: CS. 2007.19. 15
Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Thị Ly Kha
Tham gia thực hiện đề tài: TS. Vũ Thị Ân
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 6 năm 2008
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VỀ CHƯƠNG TRÌNH VÀ TÀI LIỆU DẠY - HỌC NGỮ NGHĨA HỌC
CHO SINH VIÊN, GIÁO VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC
TIỀU HỌC
Mã số: CS. 2007.19. 15
Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Thị Ly Kha
Tham gia thực hiện đề tài: TS. Vũ Thị Ân
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 6 năm 2008
Nguyễn Thị Kim Oanh
xuyên quận 6, Tp. HCM
cho giáo viên tiểu học
Hiệu trưởng
Trung tâm giáo dục thường
Bồi dưỡng nâng chuẩn
Huỳnh Đa Thật,
xuyên quận 9, Tp. HCM
cho giáo viên tiểu học
Hiệu trưởng
Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện
Bồi dưỡng nâng chuẩn
Lê Văn Thu,
Bù Đăng tỉnh Bình Phước
cho giáo viên tiểu học
NGÀNH GIÁO DỤC TIỂU HỌC .......................................................................................27
3.1. Xây dựng chương trình chi tiết .................................................................................27
3.2. Biên soạn giáo trình ..................................................................................................31
3.2.1. Bố cục của giáo trình .........................................................................................31
3.2.2. Nội dung của giáo trình......................................................................................32
3.3. Sự kế thừa và những điểm mới của giáo trình ..........................................................36
3.3.1. Những điểm kế thừa...........................................................................................36
3.3.2. Những điểm mới ................................................................................................46
KẾT LUẬN..............................................................................................................................70
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN ..........................................................................................................71
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ
CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
1. Tên đề tài:
VỀ CHƯƠNG TRÌNH VÀ TÀI LIỆU DẠY - HỌC "NGỮ NGHĨA HỌC CHO SINH VIÊN,
GIÁO VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC TIỀU HỌC
2. Mã số:
3. Thực hiện đề tài:
1/ Vũ Thị Ân, TS. Ngữ văn, Khoa Giáo dục Tiểu học, Trường ĐHSP TP. HCM
2/ Nguyễn Thị Ly Kha, TS. Ngữ văn, Khoa Giáo dục Tiểu học, ĐHSP TP. HCM
Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Thị Ly Kha, Tel: 0918257296.
E-mail:
4. Cơ quan chủ trì đề tài:
Khoa Giáo dục Tiểu học Trường Đại học Sư phạm Tp.Hồ Chí Minh.
Tên đơn vị
Trung tâm giáo dục Thường
Trưởng
6. Thời gian thực hiện: 12 tháng (từ tháng 4 năm 2007 đến tháng 4 năm 2008)
7. Mục tiêu:
7.1. Xây dựng chương trình chi tiết học phần "Ngữ nghĩa học" cho các hệ đào tạo giáo
viên tiểu học trình độ đại học (chính quy và không chính quy).
7.2. Biên soạn giáo trình "Ngữ nghĩa học" cho sinh viên, giáo viên ngành GDTH.
8. Nội dung chính:
8.1. Nghiên cứu chương trình, tài liệu giảng dạy học "Ngữ nghĩa học", xây dựng
chương trình chi tiết học phần, đề cương giáo trình.
6
8.2. Biên soạn giáo trình
8.3. Dạy thử nghiệm giáo trình; Điều tra kết quả dạy thử nghiệm;
8.4. Sửa chữa và hoàn tất việc biên soạn giáo trình, đưa xuất bản.
8.5. Hướng dẫn sinh viên nghiên cứu khoa học.
9. Kết quả chính đạt được (khoa học, ứng dụng, đào tạo, kinh tế - xã hội):
9.1. Giáo trình Ngữ nghĩa học (dùng cho sinh viên và giáo viên ngành giáo dục tiểu
học), 300 trang, NXB Giáo dục 11-2007, tái bản lần thứ nhất 7-2008.
9.2. Hai bài báo Từ xưng hô thuộc hệ thống nào?, Tạp chí Ngôn ngữ & đời sống, số 10,
2007; Sách tham khảo và giáo trình cho HS, SV ngành GDTH (nhìn từ góc độ người sử
dụng), Kỉ yếu Hội nghị tác giả NXB GD 12/2007.
9.3. Hai khoá luận tốt nghiệp ĐHSP ngành GDTH (2007 - Nguyễn Thị Thuận: SGK
Tiếng Việt 5 với mở rộng vốn từ cho học sinh, loại giỏi; 2008 - Nguyễn Hoàng Phương Trâm:
Xây dựng tài nguyên dạy học kiểu bài mở rộng vốn từ Tiếng Việt 4, loại giỏi).
9.4. Một đề tài giải Nhất SV NCKH cấp Trường 2008 đang chuẩn bị dự thi cấp Quốc
gia - Phạm Hải Lê, SV khoa Ngữ văn, Đỗ Minh Luân, SV Khoa GDTH: Xây dựng từ điển
điện tử giải nghĩa từ khó SGK "Tiếng Việt 2 ", giải nghĩa từ ngữ giáo khoa "Tự nhiên - xã hội
1, 2, 3 ".
Nghiên cứu chương trình, tài liệu dạy - học "Ngữ nghĩa học" cho sinh viên, giáo viên
bậc tiểu học sẽ góp phần thực hiện các yêu cầu cấp thiết của công cuộc đổi mới hiện nay ở
trường sư phạm, góp phần thiết thực vào việc nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo và bồi
dưỡng giáo viên ngành giáo dục tiểu học.
8
0.2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
0.2.1. Vấn đề ngữ nghĩa học
Ngữ nghĩa học không phải là vấn đề mới. Trong ngôn ngữ học truyền thống và trong
Việt ngữ học trước đây, vấn đề ngữ nghĩa thường chỉ dừng lại bình diện từ và đơn vị tương
đương với từ (thành ngữ, quán ngữ). Ở Việt Nam, khoảng 20 năm trở lại nay, bên cạnh
những công trình bàn về nghĩa của từ có không ít công trình bàn về nghĩa của câu, của ngôn
bản.
Trong các chuyên luận Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt (NXB GD 1983, Đại học Quốc
gia Hà Nội 1997), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng (NXB Giáo dục 1987), Các bình diện của
từ Tiếng Việt (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội 1998), GS Đỗ Hữu Châu đều dành nhiều trang
cho nghĩa của từ, như các thành tố nghĩa của từ (nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm, nghĩa biểu
thái, nghĩa liên tưởng), cấu trúc nghĩa của từ (cấu trúc nghĩa biểu vật, cấu trúc nghĩa biểu
niệm), các kiểu nghĩa của từ (nghĩa đen và nghĩa bóng, nghĩa gốc và nghĩa phái sinh, nghĩa
thuật ngữ và nghĩa thường dùng, nghĩa cổ và nghĩa mới, nghĩa từ điển và nghĩa tu từ, nghĩa từ
nguyên,...), các chiều hướng biến đổi nghĩa của từ (mở rộng nghĩa, thu hẹp nghĩa), quy luật
chuyển đổi nghĩa của từ (ẩn dụ từ vựng, hoán dụ từ vựng), mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các
từ (đồng nghĩa, trái nghĩa, đồng âm), trường từ vựng ngữ nghĩa (trường nghĩa biểu vật,
trường nghĩa biểu niệm, trường nghĩa tuyến tính, trường liên tưởng), v.v.. Có thể nói những
luận điểm về nghĩa của từ về trường từ vựng ngữ nghĩa, dạy học từ ngữ trong giờ giảng văn
mà GS Đỗ Hữu Châu trình bày trong các chuyên luận của ông là nền tảng lí luận cho các nội
dung dạy học về nghĩa của từ trong sách giáo khoa môn Tiếng Việt ở các bậc học từ tiểu học
đến trung học phổ thông và cũng là nền tảng cho các tài liệu giáo trình về từ vựng ngữ nghĩa
nghĩa học (Nhập môn Ngôn ngữ học, Bùi Khánh Thế, NXB GD 1983; Dẫn luận ngôn ngữ
học, Nguyễn Thiện Giáp - Đoàn Thiện Thuật - Nguyễn Minh Thuyết, NXB GD 1994; Đại
cương ngôn ngữ học, tập 1, 2, Đỗ Hữu Châu - Bùi Minh Toán, NXB GD 2001,...). Tuy nhiên
các nội dung ngữ nghĩa học trong các giáo trình ngôn ngữ học đại cương đều chủ yếu đề cập
đến nghĩa của từ. Trong cuốn Đại cương ngôn ngữ học, tập 2, GS. Đỗ Hữu Châu có đề cập
đến vấn đề nghĩa của phát ngôn trong chương ngữ dụng học. Có thể nói, ở Việt Nam, lần đầu
tiên trong một giáo trình ngôn ngữ học đại cương vấn đề ngữ nghĩa không chỉ dừng lại ở bình
diện từ mà còn được xét ở bình diện nghĩa của câu và của phát ngôn và được tách thành một
chương riêng - chương Ngữ nghĩa học. Đó là cuốn Giáo trình Dẫn luận ngôn ngữ học của
hai tác giả Hoàng Dũng - Bùi Mạnh Hùng (NXB Đại học Sư phạm, 2007). Trong cuốn giáo
trình này, PGS.TS. Hoàng Dũng đã tách ngữ nghĩa thành một chương riêng với các nội dung
chính là Ngữ nghĩa học từ vựng, Ngữ nghĩa học cú pháp, Ngữ dụng nghĩa học pháp nghĩa của
câu và nghĩa của phát ngôn. Người đọc có thể tìm thấy trong tài liệu này các vấn đề về nghĩa
và vật sở chỉ; nghĩa biểu hiện, nghĩa liên hệ và nghĩa liên tưởng; đa nghĩa và đồng âm, nét
nghĩa; quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ ngữ (đồng nghĩa, trái nghĩa, bao nghĩa, tổng - phân
nghĩa, giao nghĩa); trường từ vựng; ẩn dụ và hoán dụ; nghĩa biểu hiện và nghĩa logic ngôn
10
từ; các kiểu quan hệ ngữ nghĩa giữa các câu (quan hệ phỏng nghĩa, quan hệ tương phản trên,
tương phản dưới, quan hệ kéo theo); vai nghĩa; hành động ngôn từ; nghĩa hàm ẩn, tiền giả
định và hàm ý.
Với chuyên luận Dẫn luận ngữ nghĩa học (NXB GD 2006), PGS.TS. Nguyễn Văn
Hiệp đã cung cấp một bức tranh toàn cảnh về các vấn đề ngữ nghĩa từ những vấn đề đại
cương đến ngữ nghĩa của các bình diện từ, câu, phát ngôn,...
Và gần đây nhất với Ngữ nghĩa học (NXB GD 1-2008), GS. Lê Quang Thiêm giúp
người đọc giải đáp hàng loạt vấn đề ngữ nghĩa thiết yếu: Ngữ nghĩa và ngữ nghĩa học,
Khuynh hướng và nội dung của ngữ nghĩa học, Ngữ nghĩa học hình thức, ngữ nghĩa học tri
nhận có gì khác, Các cách tiếp cận ngữ nghĩa học, các tầng nghĩa và kiểu nghĩa ngôn ngữ
(chức năng từ vựng, phạm trù ngữ pháp, thành phần câu, tham tố nghĩa, nghĩa hiển ngôn và
mức tưởng có thể "đếm trên đầu ngón tay" (thí dụ, ở từ điển này, 2 mục E, Ê và U,Ư vẻn vẹn
có 3 từ, mục Y chỉ có 2, nhiều nhất là mục T: 57, các mục khác thường là một vài chục từ).
Nhưng các hư từ này khi vào vai các "tác từ cú pháp" (operators) chúng bỗng trở nên hết sức
"lợi hại" về mặt tạo nên các kết hợp ngữ nghĩa, nhiều khi biến ảo khôn lường. GS Hoàng
Trọng Phiến dẫn ra một câu thơ của Nguyễn Công Trứ: Cái tình là cái chi/ Dẫu chi chi cũng
chi chi với tình, để lí giải rằng, từ chi chi ở 3 vị trí khác nhau có 3 nghĩa khác nhau (cái chi
chi: cái gì, dẫu chi chi: dẫu thế nào (đi nữa), cũng chi chi: cũng vẫn thế (không thay đổi)).
Hoặc chỉ một từ thì thôi cũng có không biết bao nhiêu khả năng liên kết (Thì thôi thì thế/ Thế
thôi thì thôi thế thì thôi). Đây là cái hay và cái khó của ngôn ngữ tiếng Việt mà tác giả cần
miêu tả, ngắn gọn nhưng rõ ràng. Bởi nó không phải là cách giải nghĩa từ ngữ đơn thuần như
trong các từ điển tường giải khác. Rõ ràng, Hoàng Trọng Phiến đã giải nghĩa hư từ dưới con
mắt của một nhà ngữ pháp, tức là đặt các từ công cụ kia vào các kết hợp diễn ngôn để chỉ ra
các "vai nghĩa"của chúng. Từ các câu nói được hiện thực hóa, tác giả phát hiện ra giá trị biểu
đạt của một loạt các hư từ tiếng Việt.
Những công trình trên chính là những chỗ dựa lí thuyết và ứng dụng cho việc biên soạn
một giáo trình ngữ nghĩa học dùng cho việc đào tạo và bồi dưỡng giáo viên tiểu học mà
chúng tôi hướng tới.
0.2.2. Vấn đề ngữ nghĩa trong chương trình đào tạo giáo viên tiểu học
Năm 2001, lần đầu tiên những nội dung kiến thức về ngữ nghĩa cần được đưa vào
chương trình và sách giáo khoa Tiếng Việt được trình bày một cách hệ thống và tường minh
trong trong đề án xây dựng chương trình và tài liệu dạy học bộ môn Tiếng Việt cho các bậc
học phổ thông của Hội Ngôn ngữ học TP. Hồ Chí Minh (Cao Xuân Hạo, Hoàng Dũng, Bùi
Mạnh Hùng "Những tri thức và kĩ năng về tiếng Việt cần được dạy và học ở nhà trường
phổ thông", trong Tiếng Việt, văn Việt, người Việt, Cao Xuân Hạo. NXB Trẻ, 2001).
Việc đào tạo giáo viên tiểu học có trình độ đại học đã trải qua một chặng đường không
phải là ngắn. Khoa Giáo dục Tiểu học của Trường ĐHSP Hà Nội I đã có quá trình phát triển
trên 20 năm, Khoa Giáo dục Tiểu học của Trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh tuy thành lập sau
nhưng cũng đã có bề dày 13,14 năm... Song song với quá trình thành lập và triển ấy, chương
12
Tình hình trên cũng là một lí do để chúng tôi chọn vấn đề chương trình và tài liệu dạy
học học phần "Ngữ nghĩa học " cho sinh viên, giáo viên ngành giáo dục tiểu học làm đề tài
nghiên cứu.
13
0.3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu về chương trình và tài liệu dạy học học phần "Ngữ nghĩa học " cho sinh
viên, giáo viên ngành giảo dục tiểu học, chúng tôi nhằm mục đích xây dựng chương trình chi
tiết cho học phần Ngữ nghĩa học và ứng dụng vào dạy học Tiếng Việt ở tiểu học một cách
thiết thực và hiệu quả.
Đồng thời việc nghiên cứu về chương trình và tài liệu dạy - học học phần "Ngữ nghĩa
học" cho sinh viên, giáo viên ngành giảo dục tiểu học của chúng tôi còn hướng tới việc biên
soạn một giáo trình Ngữ nghĩa học chuyên ngành để có thể cung cấp cho sinh viên, giáo viên
ngành giáo dục tiểu học những kiến thức cơ bản, hệ thống hiện đại về ngữ nghĩa học; cung
cấp những hiểu biết về nội dung dạy học ngữ nghĩa trong chương trình và sách giáo khoa
Tiếng Việt tiểu học, hình thành và rèn luyện các biện pháp phân tích ngữ nghĩa cơ bản để vận
dụng vào dạy học ở tiểu học; góp phần đổi mới phương pháp đào tạo, nâng cao chất lượng
đào tạo và bồi dưỡng giáo viên tiểu học.
0.4. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU, GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Để đạt được mục đích nêu trên, chúng tôi thực các nhiệm vụ sau:
- Xây dựng chương trình chi tiết học phần "Ngữ nghĩa học" cho hệ đào tạo giáo viên
tiểu học trình độ đại học (chính quy và không chính quy).
- Biên soạn giáo trình "Ngữ nghĩa học" cho sinh viên, giáo viên ngành giáo dục tiểu
học.
Đối tượng hướng tới của đề tài này là giáo viên tiểu học và hoạt động dạy học ở bậc
tiểu học nên chương trình các học phần của bộ môn ngôn ngữ mà chúng tôi đề cập là chương
trình đào tạo giáo viên tiểu học, không phải là chương trình đào tạo giáo viên ngữ văn; giáo
chương trình, giáo trình đào tạo giáo viên, thực trạng nội dung chương trình, sách giáo khoa.
Thành thử ngoài phần Mở đầu và Kết luận, báo cáo của chúng tôi gồm ba chương. Từ những
khảo sát về nội dung ngữ nghĩa học trong chương trình và sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu
học, khảo sát về tài liệu hỗ trợ cho dạy học các nội dung ngữ nghĩa học ở tiểu học được thực
hiện ở chương một - Ngữ nghĩa học với giáo viên và học sinh tiểu học -, chúng tôi trình bày
kết quả khảo sát về chương trình, giáo trình ngữ nghĩa học trong chương trình đào tạo giáo
viên tiểu học các hệ, ở chương hai. Chương ba là chương trình bày về kết quả xây dựng
chương trình chi tiết và trình bày về bố cục, nội dung giáo trình, những điểm kế thừa và
những điểm mới của giáo trình Ngữ nghĩa học (dùng cho sinh viên và giáo viên ngành giáo
dục tiểu học). Do mục đích và tầm quan trọng của vấn đề mà dung lượng trang cho từng
chương mục sẽ không tương đương nhau. Chương ba là chương chính, thành thử số trang
dành cho chương này cũng nhiều nhất.
15
NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1: NGỮ NGHĨA HỌC VỚI HỌC SINH VÀ GIÁO VIÊN TIỂU
HỌC
Nội dung về ngữ nghĩa là một nội dung hoàn toàn quen thuộc với giáo viên và học sinh
tiểu học lâu nay. Điểm khác biệt nếu có về nội dung ngữ nghĩa trong bộ môn Tiếng Việt ở
nhà trường tiểu học trong những giai đoạn khác nhau của nền giáo dục Việt Nam những năm
qua, xét cho cùng chỉ là những khác biệt về tính nông sâu về phương diện rộng hẹp của vấn
đề mà thôi.
1.1. Ngữ nghĩa học trong chương trình Tiếng Việt ở tiểu học
Do tầm quan trọng của vấn đề ngữ nghĩa, chương trình môn Tiếng Việt ở trường tiểu
học ở các giai đoạn trước cải cách giáo dục, trong những năm cải cách và giai đoạn hiện nay
đều có những nội dung về ngữ nghĩa. Những nội dung về ngữ nghĩa được bố trí dạy cho học
sinh từ lớp 2 đến lớp 5, tích hợp trong các nội dung dạy học các phân môn từ ngữ, ngữ pháp,
đưa vào chương trình nội dung mới này sẽ có một hiệu quả đáng kể trong việc dạy học viết
câu, hiểu câu cho học sinh tiểu học.
Nghĩa của đoạn văn, văn bản được dạy học lồng ghép trong nội dung dạy học các loại
đoạn văn (xét theo chức năng: đoạn mở bài, đoạn thân bài, đoạn kết luận; xét theo cấu trúc:
đoạn diễn dịch, đoạn quy nạp, đoạn song hành, đoạn tổng phân hợp) ở chương trình hiện
hành. Chương trình mới chú trọng kĩ năng viết đoạn nên đã dành thời lượng đáng kể cho dạy
học nhận biết đoạn văn và luyện viết đoạn văn Nghĩa của văn bản được lồng ghép trong nội
dung chương trình các phân môn Tập đọc, Kể chuyện, Tập làm văn (các chương trình trước
đây cũng như chương trình hiện hành).
Ngoài ra, nghĩa tu từ cũng được đưa vào chương trình dạy học môn Tiếng Việt ở tiểu
học qua các bài học so sánh, nhân hóa,...
Việc tích hợp các nội dung ngữ nghĩa như nghĩa tu tò, nghĩa của các loại văn bản trong
chương trình các phân môn khác của bộ môn Tiếng Việt của các chương trình trước đây cũng
như chương trình hiện hành là điều có tính mặc nhiên. Sự tích hợp đó góp phần làm cho nội
dung dạy học, tài liệu dạy học đỡ cồng kềnh đồng thời phù hợp với đặc điểm hoạt động nhận
thức của học sinh tiểu học.
1.2. Ngữ nghĩa học trong SGK môn Tiếng Việt ở tiểu học
Có thể nói như việc trình bày các đơn vị kiến thức thuộc các phân môn khác, sách giáo
khoa Tiếng Việt các lớp tiểu học trình bày các đơn vị kiến thức ngữ nghĩa học cần cung cấp
cho học sinh hoàn toàn tương ứng với chương trình đã thiết kế theo nguyên tắc tương ứng 1
đối 1.
Trong sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học trước đây, các nội dung dạy học về từ ngữ
được sắp xếp tách rời với các nội dung dạy học về ngữ pháp. Thành thử những nội dung về
nghĩa của từ, từ đồng nghĩa, trái nghĩa, đồng âm, từ đa nghĩa cũng được bố trí ở những bài
17
học riêng biệt. Song song với sự tách biệt ấy là sự chú trọng vào việc nắm khái niệm, nắm
được sự khác biệt giữa các tiểu loại, tiểu nhóm. Hệ thống bài tập rèn luyện cũng như bài kiểm
Có thể nói tất cả các bài Tập đọc đều có mục giải nghĩa từ khó (theo kết quả thống kê của Phạm Hải Lê và Đỗ
Minh Luân, 93/93 bài Tập đọc trong Tiếng Việt 2 tập 1 , 2 đều có mục giải nghĩa từ khó - Xây dựng từ điển điện
tử từ khó Tiếng Việt 2 và từ điển điện tử từ ngữ giáo khoa Tự nhiên – Xã hội 2, Kỷ yếu Hội nghị SV NCKH
2008, ĐHSP TP HCM).
18
Bộ sách có tính chất công cụ cho thầy trò tiểu học là sách giáo khoa, sách bài tập cho
học sinh; sách giáo khoa, sách bài tập, sách giáo viên, sách thiết kế bài dạy cho giáo viên.
Các loại sách như sách giáo viên, sách thiết kế bài dạy, giúp dạy tốt,... như một "giáo án" có
sẵn giúp giáo viên giảng dạy các bài học trong sách giáo khoa. Giáo viên không chỉ tìm thấy
trong sách giáo viên những chỉ dẫn về cách thức tổ chức giờ học, tiến trình lên lớp, các đơn vị
kiến thức cần hình thành, phương pháp hình thành các đơn vị kiến thức đó mà còn tìm thấy ở
đấy các đáp án cho câu hỏi và bài tập trong sách giáo khoa. Tuy nhiên do giới hạn của số
trang, do mục đích và hình thức trình bày, nên nếu giáo viên muốn tìm hiểu sâu hơn rộng hơn
một vấn đề nào đó cho bài dạy thì những loại sách này khó có thể cung cấp được. Thành thử,
muốn tra cứu thêm về nghĩa thì sách hỗ trợ tốt cho họ là các loại từ điển. Phần lớn giáo viên
chỉ sử dụng các bài tập trong sách giáo khoa và sách bài tập, rất hiếm giáo viên tự ra bài tập
mới. Hiện tượng này có nguyên do từ nội dung mà nhiều người vẫn gọi là "quá tải" còn có
một nguyên do khác, có lẽ quan trọng hơn, đó là không ít giáo viên tiểu học không đủ "tự tin"
để tự thiết kế bài tập cho học sinh rèn luyện thêm ngoài các bài tập có sẵn ương sách giáo
khoa, có sẵn lời giải trong sách giáo viên (1) .
Các loại sách về phương pháp dạy học bộ môn cũng là một loại tài liệu tốt hỗ trợ cho
giáo viên khi dạy học. Song điều đáng tiếc là hình như giáo viên chỉ sử dụng những tài liệu
này khi họ đi học nâng cao hoặc bồi dưỡng hay chuẩn hóa.
1.4. Ý kiến của giáo viên tiểu học về sự cần thiết của tài liệu
Khảo sát ý kiến của 150 GV tiểu học ở các quận huyện TP HCM và ý kiến của 10 giáo
thời gian.
Trả lời câu hỏi tài liệu sẽ mang theo sau khi tốt nghiệp ĐH, 93% SV xếp giáo trình cơ
bản và giáo trình phương pháp vào vị trí số 1 và vị trí số 2.
67% GV, 55% SV xếp giáo trình môn chung và vở ghi vào vị trí số 1 và số 2 trong số
các loại tài liệu mà họ thường xuyên sử dụng khi học tập nâng cao trình độ, 33% GV và 45%
sv xếp giáo trình cơ bản và giáo trình phương pháp vào vị trí số 1 và số 2. Hiện tượng này có
nguyên nhân từ nguồn tài liệu và từ giá cả (giá tài liệu môn chung, nhất là tài liệu thuộc bộ
môn Lí luận chính trị thường rẻ hơn so với các tài liệu chuyên ngành, do được trợ giá và số
đầu sách, lượng sách nhiều hơn. Còn giáo trình chuyên ngành, nhất là ngành GDTH hiện nay
chưa nhiều, phần lớn GV và SV phải sử dụng giáo trình của các khoa cơ bản, như ngữ văn,
toán, lí, hóa,...). về giáo trình chuyên ngành, có 25% GV, 32% SV cho rằng giáo trình còn
thiếu, 5% GV và 7% SV cho rằng quá thiếu. 96% GV, 98% SV cho rằng giá giáo trình cao và
quá cao so với túi tiền của họ.
Qua khảo sát thực tế, chúng tôi được biết không ít giáo viên cho rằng họ rất cần đến
những tài liệu thuộc nhóm khoa học cơ bản khi cần tra cứu mở rộng hoặc đi sâu một đơn vị
kiến thức nào đó hoặc khi họ bị "bí" và họ không tìm được câu trả lời đủ tin cậy từ đồng
nghiệp về một nội dung nào đó. Cũng không ít sinh viên, giáo viên (đi học) bày tỏ nguyện
vọng muốn có những cuốn giáo trình phương pháp được viết theo kiểu tích hợp (không chỉ
dừng lại ở việc nói về phương pháp giảng dạy mà còn cần có những chỉ dẫn về việc xử lí các
đơn vị kiến thức) (1) .
(1)
Nguyễn Thị Ly Kha "Sách tham khảo và giáo trình cho HS, sv ngành GDTH (nhìn từ góc độ người sử
dụng)", Kỉ yếu Hội nghị tác giả NXB GD, Hà Nội 12/2007.
20