Các tội phạm tình dục theo quy định của luật hình sự việt nam và một số nước trên thế giới - Pdf 37

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

HOÀNG THỊ NGỌC BÍCH

CÁC TỘI PHẠM TÌNH DỤC THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÌNH
SỰ VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – NĂM 2016


Vũ Vinh Quang- KT33D048

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Nhóm D2-2

BLHS

: Bộ luật Hình sự

BLTTHS

: Bộ luật tố tụng hình sự

TNHS

kinh tế - xã hội ngày càng được cải thiện, đời sống nhân dân ngày được nâng cao.
Tuy nhiên, bên cạnh đó, hiện tượng tội phạm ngày càng gia tăng gây nhức nhối
trong xã hội, một trong số đó là vấn đề các tội xâm phạm tình dục có xu hướng
diễn biến hết sức phức tạp, gây quan ngại đối với toàn thể xã hội. Đây không chỉ là
vấn nạn ở Việt Nam mà còn là vấn nạn ở nhiều nơi trên thế giới. Theo thống kê của
Tòa án nhân dân tối cao, trên phạm vi toàn quốc, ngành tòa án đã xét xử trong năm
2011 là 1.352 vụ về các tội phạm tình dục với 1.568 bị cáo; năm 2012 đã xét xử
1.604 vụ với 1.864 bị cáo; năm 2013 đã xét xử 1.903 vụ với 2.140 bị cáo; năm 2014
đã xét xử 2.107 vụ về với 2.393 bị cáo; năm 2015 đã xét xử 1.846 vụ với 2.012 bị
cáo. Số liệu này cho thấy, giai đoạn từ năm 2011 – 2014 số vụ và số bị cáo bị đưa ra
xét xử về các tội phạm tình dục đều tăng liên tục. Riêng năm 2015 số vụ và bị cáo
đưa ra xét xử về các tội phạm này có sự giảm nhẹ, song không đáng kể. Như vậy, có
thể thấy tội phạm về tình dục ở nước ta rất đáng lo ngại. Mặt khác,“Theo Quỹ Nhi
đồng Liên Hiệp Quốc (Unicef), trên toàn thế giới, 1/5 nữ giới và 1/7 nam giới đã
từng bị xâm hại tình dục, 9% đến 25% trẻ em ở khu vực Châu Á đã phải chịu đựng
nhiều mức độ xâm hại thể chất khác nhau, theo khảo sát 30% cả bé trai và bé gái
đã từng phải chịu đựng cưỡng bức tình dục…”1
Để đấu tranh phòng chống tội phạm tình dục, nhà nước cần tiến hành đồng
bộ các biện pháp khác nhau, trong đó, biện pháp hình sự đóng vai trò vô cùng quan
trọng. BLHS năm 1999 (BLHS hiện hành) quy định về các tội phạm về tình dục đã
góp phần quan trọng vào đấu tranh phòng chống loại tội phạm này. Tuy nhiên, theo
thời gian, xã hội Việt Nam ngày càng biến đổi hết sức nhanh chóng, Bộ luật này đã
bộc lộ những bất cập nhất định. Những bất cập, tồn tại này cũng ảnh hưởng nhất
định đến việc áp dụng BLHS trên thực tế. Bên cạnh đó, trong xu thế hội nhập quốc
tế, nghiên cứu so sánh với quy định của pháp luật hình sự nước ngoài, từ đó học tập

1

Xem http://canhsatnhandan.vn/Home/Nghien-cuu-Trao-doi/1629/Dac-diem-cua-nan-nhan-trong-cac-vuxam-hai-tinh-duc-tre-em-va-giai-phap-phong-ngua


một số nước”, tác giả Bùi Thị Quyên, Luận văn Thạc sĩ luật học, Trường Đại học
Luật Hà Nội, 2013.
* Sách chuyên khảo gồm có:
+ “Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người”,
tác giả Trần Văn Luyện, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000;
*Bài viết trên tạp chí gồm có:
+ “Về các tội phạm tình dục trong luật hình sự Việt Nam”, tác giả Dương
Tuyết Miên, Tạp chí Luật học, số 06, năm 1998;
+“Một số ý kiến khi áp dụng tình tiết định khung “Nhiều người hiếp một
người”, tác giả Nguyễn Thị Tuyết, Tạp chí Toà án nhân dân, số 03/1999;

Nhóm D2-2

3

Khoa pháp luật kinh tế


Vũ Vinh Quang- KT33D048

+ “Các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người
– so sánh giữa BLHS năm 1999 và BLHS năm 1985”, tác giả Nguyễn Ngọc Hoà, Tạp
chí Luật học số 1, năm 2001;
+ “Những điểm mới cơ bản về các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân
phẩm, danh dự của con người trong Bộ luật Hình sự năm 1999”, tác giả Trần Văn
Luyện, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 3, năm 2001;
+“Hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về các tội xâm phạm tình
dục trẻ em”, Tác giả Phạm Mạnh Hùng, Tạp chí Toà án nhân dân, số 12/2002;
+“Về tội hiếp dâm quy định tại Điều 111 Bộ luật hình sự”, Tác giả Nguyễn
Hiển Khanh,Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 02/2004;

vướng mắc và kiến nghị”, tác giả Hoàng Quảng Lực, Tạp chí Toà án nhân dân, số
13/2014;
+ “Một số vướng mắc trong xét xử trường hợp phạm tội hiếp dâm trẻ em
chưa đủ 13 tuổi có tính chất loạn luân”, Tác giả Vũ Hải Anh, Tạp chí Nghề Luật,
số 01/2015;
+ “Về quy định đối với các tội hiếp dâm - hiếp dâm trẻ em”, Tác giả Trần Hà
Bảo Khuyên, Tạp chí Toà án nhân dân, số 11/2015;
+ “Bình luận về các tội phạm về tình dục trong chương các tội xâm phạm
tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự con người trong dự thảo Bộ luật hình sự
(sửa đổi)”, tác giả Dương Tuyết Miên, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Số chuyên
Sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự 2015.

+ “Một số điểm mới của Bộ luật hình sự năm 2015 về nhóm các tội phạm
tình dục”, tác giả Vũ Hải Anh, tạp chí Nghề luật, sô 3/2016.
Ngoài ra, các giáo trình của các cơ sở đào tạo luật trên cả nước đều đề cập đến
nhóm các tội xâm phạm tình dục như: Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam, tập 1 của
Trường ĐH Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2010; Giáo trình Luật Hình
sự Việt Nam của Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội,
2007; Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam, phần các tội phạm của Học viện Cảnh sát
nhân dân, Nxb Công an Nhân dân, Hà Nội, năm 2012. Một số sách bình luận khoa học
về BLHS cũng đề cập đến nhóm tội này…
Các công trình trên ở các mức độ khác nhau đã làm rõ về vấn đề lí luận cũng
như thực tiễn áp dụng, vướng mắc ở một sô tội phạm tình dục hoặc một tội nhất định.
Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện về các tội phạm tình dục theo
BLHS năm 1999 có so sánh với BLHS một số nước trên thế giới, đồng thời cũng có sự
liên hệ đánh giá quy định tương ứng của BLHS năm 2015, đề xuất những giải pháp góp
phần hoàn thiện quy định của các Bộ luật này. Vì lí do đó, việc tác giả lựa chọn đề tài
“Các tội phạm tình dục theo quy định của Luật hình sự Việt Nam và một số nước
trên thế giới” là hoàn toàn cần thiết.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

việc quy định về các tội phạm tình dục.
- Tìm ra được giải pháp hoàn thiện BLHS năm 1999 và đặc biệt là BLHS
năm 2015.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định của BLHS Việt Nam năm
1999, BLHS năm 2015 đối với các tội phạm tình dục. Bên cạnh đó, luận văn cũng
nghiên cứu qui định của BLHS của một số nước trên thế giới về các tội phạm tình dục.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dưới góc độ luật hình sự. Tác giả tập trung nghiên
cứu quy định của BLHS năm 1999 về các tội phạm tình dục. Bên cạnh đó, tác giả
cũng liên hệ đánh giá về quy định của BLHS năm 2015 về nhóm tội này.

Nhóm D2-2

6

Khoa pháp luật kinh tế


Vũ Vinh Quang- KT33D048

Tác giả cũng có nghiên cứu quy định của BLHS một số nước (Liên bang
Nga, Trung Quốc) về các tội phạm tình dục.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận tác giả sử dụng nghiên cứu luận văn là phương pháp luận của
chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh,
các quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về hình sự và cải cách tư pháp.
Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng là phương pháp phân tích, so
sánh, tổng hợp…

- Tội hiếp dâm (Điều 111 BLHS);
- Tội hiếp dâm trẻ em (Điều 112 BLHS);
- Tội cưỡng dâm (Điều 113 BLHS);
- Tội cưỡng dâm trẻ em (Điều 114 BLHS);
- Tội giao cấu với trẻ em (Điều 115 BLHS);
- Tội dâm ô đối với trẻ em (Điều 116 BLHS);
- Tội mua dâm người chưa thành niên (Điều 256 BLHS).
Sau đây, tác giả sẽ phân tích cụ thể từng tội danh.
1.1. Tội hiếp dâm, tội hiếp dâm trẻ em (Điều 111, Điều 112 BLHS)
1.1.1. Dấu hiệu định tội của tội hiếp dâm, tội hiếp dâm trẻ em
*Tội hiếp dâm (Điều 111 BLHS)
Căn cứ khoản 1 Điều 111 BLHS có thể hiểu: “Tội hiếp dâm là hành vi dùng
vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn
nhân hoặc bằng thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái ý muốn của họ”.3

2

Xem Dương Tuyết Miên, Về các tội phạm tình dục trong Luật hình sự Việt Nam, Tạp chí Luật học số
6/1998, tr44.
3
Xem Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (tập 1), Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội, 2010, tr423.

Nhóm D2-2

8

Khoa pháp luật kinh tế



trong các thủ đoạn sau:

Nhóm D2-2

9

Khoa pháp luật kinh tế


Vũ Vinh Quang- KT33D048

- Thủ đoạn dùng vũ lực là dùng sức mạnh vật chất đè bẹp sự kháng cự của
nạn nhân chống lại việc giao cấu như xô ngã, vật ngã, túm tóc, bóp cổ, trói, đánh,
đấm, đá, đạp…
- Thủ đoạn đe dọa dùng vũ lực là làm cho ý chí của người phụ nữ bị tê liệt,
buộc họ phải chịu sự giao cấu mà không dám kháng cự như dọa giết, dọa gây
thương tích cho nạn nhân...
- Thủ đoạn lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân là lợi
dụng người phụ nữ vì lý do nào đó không thể chống cự được hành vi giao cấu trái
với ý muốn của mình như lợi dụng người phụ nữ đang trong tình trạng ốm đau, bị
ngất, bị bệnh tâm thần, bị tàn tật…
- Thủ đoạn khác là những thủ đoạn (ngoài ba thủ đoạn trên) giúp cho người
phạm tội có thể thực hiện được việc giao cấu với nạn nhân trái ý muốn của họ. Theo
thực tiễn xét xử, những thủ đoạn này có thể là lợi dụng người phụ nữ đang trong
tình trạng không có khả năng biểu lộ ý chí đúng đắn như say rượu, bị cho sử dụng
các chất ma túy gây ảo giác, bị dùng chất kích dục… Tình trạng này có thể do hoặc
không do người phạm tội gây ra. Do không thể bao quát được hết các thủ đoạn mà
người phạm tội sử dụng để thực hiện việc giao cấu trái với ý muốn của nạn nhân,
nhà làm luật quy định về “thủ đoạn khác” là cần thiết tránh việc bỏ lọt tội phạm.
Đối với đa phần các tội phạm về tình dục, người phạm tội đều có hành vi

giới đưa miệng, tay, vật thể vào âm hộ hoặc hậu môn của phụ nữ ... thì quyền bất
khả xâm phạm về tình dục của nữ giới cũng đã bị xâm hại. Hoặc trong nhiều trường
hợp hành vi của người phạm tội về bản chất đã xâm phạm đến quyền bất khả xâm
phạm về tình dục của nạn nhân, khiến nạn nhân tổn thương sâu sắc nhưng lại không
bị xử lý hình sự hoặc bị xử lý về tội nhẹ hơn tội hiếp dâm. “Thực tế ở Việt Nam đã
xảy ra trường hợp nam giới dùng vũ lực có hành vi đưa dụng cụ tình dục, tay vào
âm đạo nạn nhân trái ý muốn của nạn nhân nhưng lại xử về tội làm nhục người
khác”6 trong khi thực chất hành vi này là phạm tội hiếp dâm theo quy định của
nhiều nước trên thế giới. Như vậy, rõ ràng việc quy định nội hàm của hành vi giao
cấu theo cách hiểu truyền thống như hiện nay không còn phù hợp với thực tiễn, dẫn
đến việc xử lý chưa nghiêm minh, bỏ lọt tội phạm. Cho nên, theo tác giả cần coi
những trường hợp nêu trên thuộc nội hàm của giao cấu và khái niệm giao cấu cần
phải được mở rộng để đáp ứng yêu cầu thực tiễn của tình hình tội phạm hiện này.
Mặt khác, chuẩn mực quốc tế khi đề cập đến tội hiếp dâm cũng như hiếp dâm trẻ
em cũng xác định giao cấu theo nghĩa rộng. Công ước của Hội đồng Châu Âu đã
mô tả về hành vi giao cấu của tội hiếp dâm cũng như hiếp dâm trẻ em là: hành vi
thực hiện một cách có chủ ý thuộc một trong các trường hợp: “a) ép buộc quan hệ
tình dục bằng cách thâm nhập âm đạo, hậu môn hay bằng miệng của người khác

4

Xem Tòa án nhân dân tối cao, Hệ thống hóa các văn bản về hình sự, Hà Nội, năm 1975, trang 389
Xem Bùi Thị Quyên, Bàn về một số dấu hiệu pháp lý của tội hiếp dâm, Tạp chí Tòa án nhân dân, số
12/2013, tr28-36
6
Xem Dương Tuyết Miên, Bình luận về các tội phạm về tình dục trong chương các tội xâm phạm tính mạng,
sức khỏe, nhân phẩm, danh dự con người trong dự thảo Bộ luật hình sự (sửa đổi), Tạp chí Dân chủ và pháp
luật, Số chuyên Sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự/2015, tr131
5


muốn thực hiện hành vi đó bằng việc sử dụng thủ đoạn dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ
lực, lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác.
Trong thực tiễn áp dụng luật hình sự đã từng có một số vụ án gây tranh luận
của giới chuyên môn liên quan đến việc giao cấu trái ý muốn người chuyển giới
bằng một trong các thủ đoạn nói trên. Tác giả xin nêu vụ án điển hình. Nguyễn Văn
Tình, Phạm Văn Ánh và Lê Quang Toản sau khi nhậu xong trở về nhà thì đã 11h30
đêm. Đến khu vực ngoại ô của thành phố Đồng Hới, bọn chúng nhìn thấy một phụ

7

Xem “Nghiên cứu các chuẩn mực quốc tế về xóa bỏ bạo lực đối với phụ nữ”, Tài liệu do UN Women và
UNODC phát hành, Bản tiếng Việt, tháng 12/2014.
8
Xem Dương Tuyết Miên, Về các tội phạm tình dục trong luật hình sự Việt Nam”, Tạp chí Luật học số
6/1998, tr47

Nhóm D2-2

12

Khoa pháp luật kinh tế


Vũ Vinh Quang- KT33D048

nữ đang đi một mình vừa đi vừa khóc. Cả ba tên đã bắt người phụ nữ lên xe máy
đưa đến cánh đồng vắng và dùng vũ lực thay nhau làm nhục nạn nhân, mặc cho nạn
nhân khóc lóc, van xin. Sau đó, bọn chúng để mặc nạn nhân một mình trên cánh
đồng vắng và bỏ đi. Sau đó, nạn nhân đã đến đồn công an trình báo. Cơ quan điều
tra xác minh nạn nhân gốc là nam giới nhưng đã phẫu thuật chuyển giới (giấy tờ

2006, trang 159.

Nhóm D2-2

13

Khoa pháp luật kinh tế


Vũ Vinh Quang- KT33D048

nam sang nữ giống như phụ nữ thực sự), do vậy, phải xác định 3 tên Tình, Ánh,
Toản phạm tội hiếp dâm mới đúng (thuộc trường hợp chưa đạt vô hiệu). Vì vậy, tác
giả đồng tình với quan điểm: “Các bị can đã nhầm đối tượng tác động. Trong ý chí
chủ quan của các bị can đã xác định nạn nhân là nữ nên mới hiếp...”11
*Tội hiếp dâm trẻ em (Điều 112 BLHS)
Căn cứ theo khoản 1 Điều 112 và Điều 111 BLHS có thể hiểu tội hiếp dâm
trẻ em là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không
thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với trẻ em từ đủ 13 tuổi
đến dưới 16 tuổi trái với ý muốn của họ hoặc lợi dụng tình trạng không có khả năng
thể hiện ý chí đúng đắn của trẻ em dưới 13 tuổi để giao cấu với họ.
Tội hiếp dâm trẻ em xâm hại đến quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ là
quyền bất khả xâm phạm về tình dục, danh dự, nhân phẩm của trẻ em. Đồng thời,
hành vi hiếp dâm trẻ em còn xâm phạm đến sự phát triển bình thường về tâm sinh lý
của trẻ em, làm băng hoại các giá trị đạo đức xã hội, gây nên sự bất bình trong nhân
dân. Ngoài ra, hành vi hiếp dâm trẻ em còn có thể gây ra những tổn thương về sức
khỏe và có trường hợp có thể nguy hiểm đến tính mạng của trẻ.
Tội hiếp dâm trẻ em là một trường hợp đặc biệt của tội hiếp dâm. Trước đây,
tội hiếp dâm trẻ em là một khung tăng nặng của tội hiếp dâm nhưng sau đó được
nhà làm luật tách ra thành tội độc lập nhằm thể hiện chính sách hình sự nghiêm

tuổi bằng thủ đoạn dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lợi dụng tình trạng không thể
tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác. Như vậy, BLHS hiện hành quy định
thái độ của trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi đối với hành vi giao cấu của người
phạm tội là “trái ý muốn” và quy định này giống với hành vi phạm tội ở tội hiếp
dâm.
Ví dụ: Nhờ quen biết nên Sáng xin được số điện thoại của My (15 tuổi), mục
đích để rủ My đi chơi. Khoảng 21 giờ 30 phút Sáng rủ My ra bờ ao chơi, My đồng
ý. Ngồi nói chuyện một lúc, Sáng quay lại ôm My, My giằng co với Sáng, van xin
Sáng bỏ ra và cho My về. Nhưng Sáng không nghe rồi vật My xuống bên đường
cạnh đống rơm của thôn Hưng Nông và hiếp dâm My. (Bản án số 01/2014/HSST
ngày 10/01/2014 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội)
+ Đối với trường hợp đối tượng bị xâm hại tình dục là trẻ em dưới 13 tuổi:
khoản 4 Điều 112 BLHS quy định: “Mọi trường hợp giao cấu với trẻ em chưa đủ
13 tuổi là phạm tội hiếp dâm trẻ em…”. Như vậy, có nghĩa là bất kể hành vi giao
cấu với trẻ em dưới 13 tuổi cho dù nạn nhân có trái ý muốn hay được sự đồng ý của
nạn nhân đều coi là hành vi hiếp dâm trẻ em. Quy định này xuất phát từ cơ sở khoa
học cho rằng ở độ tuổi dưới 13 tuổi, trẻ em nhận thức còn non nớt, chưa có khả
năng biểu hiện ý chí đúng đắn, dễ bị người khác lợi dụng, lôi kéo, rủ rê. Do đó, có
thể coi đây là một thủ đoạn của tội hiếp dâm trẻ em – thủ đoạn lợi dụng tình trạng
không thể biểu lộ ý chí đúng đắn của người dưới 13 tuổi. Quy định của Điều luật
cho thấy rằng hành vi giao cấu đối với nạn nhân càng nhỏ tuổi thì tính nguy hiểm
cho xã hội càng lớn và pháp luật cần phải bảo vệ một cách nghiêm khắc hơn.
Ví dụ: Do là bạn thân nên Nguyễn Văn Điệp thường đến nhà Hoàng Văn
Thắng chơi và ngủ lại qua đêm. Từ đó, giữa Điệp và cháu Hoàng Thị Hạnh. (12
tuổi, cháu của Thắng) nảy sinh tình cảm. Cuối tháng 8/2015, khi đến nhà bạn chơi,
thấy Hạnh ở nhà một mình nên Điệp nảy sinh ý định giao cấu và đã dụ dỗ Hạnh vào

Nhóm D2-2

15

phạm về tình dục, nhằm giảm đáng kể tội phạm này, tránh bỏ lọt tội phạm.
Thứ hai, nhà làm luật không mô tả dấu hiệu định tội của tội hiếp dâm trẻ em
trong Điều 112 mà trên thực tế, nội dung này được hiểu và áp dụng giống như ở tội
hiếp dâm. Tuy nhiên, để thuận lợi cho cơ quan áp dụng luật và đảm bảo nguyên tắc
“công khai, minh bạch” trong quy định, nhà làm luật cần mô tả rõ dấu hiệu định tội
của tội này trong Điều 112, không nên hành văn chung chung như quy định của
BLHS hiện hành.

Nhóm D2-2

16

Khoa pháp luật kinh tế


Vũ Vinh Quang- KT33D048

1.1.2. Đường lối xử lý đối với tội hiếp dâm, tội hiếp dâm trẻ em
*Đường lối xử lý đối với tội hiếp dâm
Thể hiện đường lối xử lý đối với tội hiếp dâm, BLHS quy định 4 khung hình
phạt khác nhau được phép áp dụng cho tội này với mức hình phạt thấp nhất là 02
năm tù và hình phạt cao nhất là tù chung thân.
Khung cơ bản có 2 mức. Mức phạt tù từ 2 năm đến 7 năm được áp dụng cho
trường hợp phạm tội không có tình tiết định khung tăng nặng và nạn nhân là người
thành niên. Mức phạt tù từ 5 năm đến 10 năm được áp dụng cho trường hợp phạm
tội không có tình tiết định khung tăng nặng và nạn nhân là người chưa thành niên
(đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi).
Khung tăng nặng thứ nhất có mức phạt tù từ 7 năm đến 15 năm. Khung này
được áp dụng cho trường hợp phạm tội có một trong những tình tiết định khung
tăng nặng sau:

Đây là trường hợp đồng phạm hiếp dâm trong đó có nhiều người có hành vi
giao cấu trái ý muốn với cùng một nạn nhân. Trong một vụ đồng phạm, nếu có từ
hai người trở lên cùng giao cấu trái với ý muốn với một nạn nhân thì áp dụng tình
tiết nhiều người hiếp một người, còn nếu có sự phân công chặt chẽ giữa nhiều người
như: người bịt mồm, người giữ chân tay, người thực hiện hành vi giao cấu với nạn
nhân thì áp dụng tình tiết phạm tội có tổ chức. Quy định tình tiết này trong khung
tăng nặng là cần thiết. Bởi lẽ, do có nhiều người cùng thực hiện hành vi giao cấu
trái với ý muốn của nạn nhân nên không những xâm phạm nghiêm trọng nhân
phẩm, danh dự của nạn nhân mà còn có khả năng gây tổn hại nghiêm trọng cho sức
khỏe của nạn nhân.
- Phạm tội nhiều lần (điểm d khoản 2 Điều 111 BLHS)
Xét về mặt lý luận, phạm tội nhiều lần là phạm cùng một tội từ hai lần trở lên
trong đó mỗi lần đều thỏa mãn CTTP và chưa lần nào bị đưa ra xét xử. Trường hợp
người phạm tội đã phạm tội nhiều lần mà nạn nhân ở những lần phạm tội là khác
nhau thì áp dụng cả hai tình tiết định khung tăng nặng: đối với nhiều người và phạm
tội nhiều lần.
- Đối với nhiều người (điểm đ khoản 2 Điều 111 BLHS)
Đây là tình tiết định khung tăng nặng mới được quy định trong BLHS năm
1999. Phạm tội đối với nhiều người là trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi
hiếp dâm từ hai nạn nhân trở lên và những lần phạm tội đó đều chưa bị đưa ra xét
xử. Nếu một người phạm tội thực hiện hành vi hiếp dâm với hai người trở lên và tất
cả các nạn nhân chỉ bị xâm hại một lần thì người phạm tội chỉ bị truy cứu trách
nhiệm hình sự theo khung tăng nặng này. Nếu có nạn nhân bị xâm hại một lần, có
nạn nhân bị xâm hại nhiều lần, thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự
về cả hai tình tiết tăng nặng là “phạm tội nhiều lần” và “phạm tội đối với nhiều
người”.
- Có tính chất loạn luân (điểm e khoản 2 Điều 111 BLHS)

Nhóm D2-2


không phải chịu trách nhiệm hình sự về tình tiết này.
- Gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến
60% (điểm h khoản 2 Điều 111 BLHS)
Căn cứ để áp dụng tình tiết tăng nặng này là kết quả giám định thương tật
của nạn nhân do Hội đồng giám định pháp y kết luận. Trong trường hợp này, cần
xác định rằng lỗi của người phạm tội đối với hậu quả gây thương tích là lỗi vô ý.
Nếu trước hoặc trong khi phạm tội hiếp dâm, người phạm tội còn cố ý gây ra
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân thì ngoài việc phải chịu

Nhóm D2-2

19

Khoa pháp luật kinh tế




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status