Quyển 4 – Sơ lược quá trình phát triển giáo dục của Việt Nam và một số nước trên thế giới - Pdf 17

Tài liệu tăng cường năng lực quản lý trường học

MỤC LỤC
LỜI GIỚI THIỆU 6
Chương 1. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VIỆT NAM 7
1. Quá trình phát triển giáo dục: Những mốc lịch sử và sự kiện quan trọng 7
2. Cơ cấu quản lý giáo dục ở Việt Nam 17
3. Hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam hiện nay 18
6. Phụ lục: 39
7. Tài liệu tham khảo 43
Chương 2. SƠ LƯỢC QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN 45
VÀ CẢI CÁCH GIÁO DỤC CỦA MỘT SỐ NƯỚC Ở KHU VỰC CHÂU Á 45
I. GIÁO DỤC TRUNG QUỐC: 45
1. Sơ lược quá trình phát triển của nền giáo dục Trung Quốc 45
2. Cơ cấu quản lý giáo dục 46
3. Khái quát hệ thống giáo dục Trung Hoa 47
47
4. Những cải cách giáo dục trong thời kỳ hiện đại hóa ở Trung Quốc 49
5. Tài liệu tham khảo 56
II. GIÁO DỤC SINGAPORE: HƯỚNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC 57
1. Tổng quan về phát triển giáo dục 57
2. Khái quát về hệ thống giáo dục Singapore: 58
3. Chương trình giáo dục phổ thông: Sự thay đổi về mục tiêu đào tạo 61
4. Những thay đổi tiêu biểu trong giáo dục từ năm 1997 63
5. Những thay đổi trong cơ cấu quản lý giáo dục 65
6. Các thay đổi trong chương trình giảng dạy của nhà trường và sắp xếp trong lớp
học 67
7. Mở rộng các cơ hội nghề nghiệp cho giáo viên 71
III. GIÁO DỤC MALAYSIA: 74
1. Sơ lược quá trình phát triển giáo dục của Malaysia từ những năm 1950 74
2. Khái quát về hệ thống giáo dục Malaysia 75

1. Sơ lược quá trình phát triển giáo dục Phần Lan 127
2. Cơ cấu quản lý giáo dục Phần Lan 128
3. Khái quát hệ thống giáo dục Phần Lan 129
4. Những cải cách trong hệ thống giáo dục 131
5. Phụ lục: Những lý giải cho thành công của Phần Lan trong PISA 132
6. Tài liệu tham khảo 137
1. Sơ lược quá trình phát triển của hệ thống giáo dục Hoa Kỳ 138
2. Quản lý giáo dục 138
3. Khái quát về hệ thống giáo dục Hoa Kỳ 141
4. Hệ thống thi cử và đánh giá 144
5. Những khuynh hướng cải cách giáo dục ở Hoa Kỳ từ những năm 1980 145
6. Phụ lục: Chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn về dân chủ trong giáo dục Hoa Kỳ 149
7. Tài liệu tham khảo 152
Quyển 4 – Sơ lược quá trình phát triển giáo dục của Việt Nam và một số nước trên thế giới
2
Tài liệu tăng cường năng lực quản lý trường học

LỜI NÓI ĐẦU
Dự án Hỗ trợ đổi mới quản lý giáo dục (Suport to the Renovation of Education
Management - viết tắt là SREM) do Cộng đ~ng Châu Âu tài trợ. Mục tiêu lớn của Dự án là hỗ
trợ Chính phủ th•c đ€y việc hoàn thành các mục tiêu đề ra trong Chiến lược phát triển giáo dục
của Việt Nam giai đoạn đến 2010.
Dự án có nhiệm vụ hỗ trợ Bộ GD-ĐT thực hiện đổi mới quản lý giáo dục thông qua việc
tăng cường khung pháp lý cho phân cấp quản lý và thực hiện Luật Giáo dục 2005 đ~ng thời xây
dựng Hệ thống thông tin quản lý giáo dục, thực hiện đổi mới phương th„c quản lý trên phạm vi
toàn ngành.
Dự án được ký kết chính th„c vào ngày 01/9/2005, triển khai thực hiện từ tháng 4/2006, kết
th•c vào năm 2010.
Các nhiệm vụ cụ thể bao g~m hỗ trợ Bộ đ€y nhanh tiến trình đổi mới quản lý và cải cách
hành chính thông qua các hoạt động tăng cường năng lực thể chế và quản lý ở các cấp QLGD;

Quyển 4 – Sơ lược quá trình phát triển giáo dục của Việt Nam và một số nước trên thế giới
3
Tài liệu tăng cường năng lực quản lý trường học

Bộ Tài liệu được biên soạn cho hiệu trưởng các trường phổ thông (kể cả các trường ngoài
công lập) và cũng sẽ rất bổ ích đối với các phó hiệu trưởng, tổ trưởng bộ môn, những người gi•p
hiệu trưởng thực hiện kế hoạch phát triển nhà trường. Một số độc giả khác, có thể là những giáo
viên, với hy vọng một ngày nào đó họ sẽ trở thành hiệu trưởng cũng có thể tham khảo tài liệu
này. Trong l•c chưa trở thành cán bộ quản lý, việc am tường các nhiệm vụ của hiệu trưởng cũng
gi•p họ có khả năng giám sát hoặc hỗ trợ hiệu trưởng tốt hơn trong quá trình quản lý đang ngày
càng được yêu cầu theo hướng công khai, minh bạch.
Dự án hy vọng các cơ sở đào tạo về quản lý giáo dục, thậm chí cả các trường sư phạm cũng
tìm thấy sự hữu dụng trong bộ tài liệu này khi thực hiện các khóa đào tạo sinh viên sư phạm.
Dự án tin rằng những người công tác trong ngành giáo dục, từ các cán bộ trong Bộ GD-ĐT,
cho tới các cán bộ công tác tại các Sở GD-ĐT, Phòng GD-ĐT và những ai tiến hành các hoạt
động nghiên c„u về việc nâng cao hiệu quả hoạt động của trường học cũng sẽ tìm thấy những nội
dung bổ ích trong Bộ Tài liệu này.
Bộ Tài liệu này sẽ hỗ trợ các hiệu trưởng nói riêng và các nhà quản lý giáo dục nói chung
phát triển năng lực quản lý của mình. Tuy nhiên, do điều kiện địa lý, kinh tế và giáo dục tại các
vùng miền của nước ta rất khác nhau, tài liệu có thể chưa bao quát và đáp „ng đầy đủ nhu cầu
thực tiễn quản lý cho từng địa phương. Điều này đòi hỏi sự sáng tạo của mỗi cán bộ quản lý
trong việc áp dụng linh hoạt kiến th„c quản lý giáo dục nói chung vào thực tiễn địa phương
mình, phù hợp với đặc thù nhà trường và đặc thù giáo dục của vùng miền.
Bộ tài liệu có thể được sử dụng cho nhiều mục đích: tự học, trao đổi thảo luận trong các
nhóm chuyên môn hoặc trong các hội thảo và cũng có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các
khóa đào tạo cán bộ quản lý ở các trường, hay các khoa sư phạm, trường sư phạm.
Phương pháp sử dụng tài liệu
Do mỗi người có một xuất phát điểm khác nhau về trình độ và kinh nghiệm chuyên môn
nên nhu cầu học tập của mỗi người là rất khác nhau. Cách sử dụng phù hợp nhất là tự học theo
những định hướng phát triển của bản thân (còn gọi là học tập theo lối mở). Có nghĩa là, người

tạo về quản lý giáo dục tiến hành.
Quản lý giáo dục là một lĩnh vực khó, liên quan đến sự phát triển toàn diện của nhà trường
cũng như của từng cá nhân, đòi hỏi kiến th„c sâu rộng, tích hợp nhiều kỹ năng và kinh nghiệm
thực tiễn của mỗi cán bộ quản lý, các nội dung được biên soạn trong tài liệu sẽ là những gợi ý
hữu ích cho những người làm công tác quản lý.
Dự án SREM chân thành cảm ơn sự cộng tác của hàng trăm hiệu trưởng và cán bộ quản lý
các cấp và các chuyên gia tư vấn quốc tế đã tham gia vào quá trình xây dựng Bộ tài liệu này
thông qua các cuộc hội thảo và các đợt làm việc. Danh sách các tác giả chính tham gia soạn thảo
và biên tập Bộ Tài liệu có thể tìm thấy trong mỗi cuốn.
Dự án đặc biệt cảm ơn vị Lãnh đạo cao nhất của ngành, Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân đã
gợi ý Dự án xây dựng Bộ Tài liệu này.
Dự án mong rằng Bộ Tài liệu sẽ đóng góp vào tiến trình đổi mới quản lý giáo dục nhằm
tăng hiệu quả giáo dục. Hiệu quả của Bộ Tài liệu này với việc nâng cao chất lượng trường học sẽ
chỉ được nhận thấy sau một thời gian, nhưng chắc chắn Bộ Tài liệu sẽ có tác động ngay tới các
Hiệu trưởng vì tính đầy đủ và thực tiễn của nó.

GIÁM ĐỐC DỰ ÁN
GS.TS Phạm Vũ Luận
THỨ TRƯỞNG BỘ GDĐT
Quyển 4 – Sơ lược quá trình phát triển giáo dục của Việt Nam và một số nước trên thế giới
5
Tài liệu tăng cường năng lực quản lý trường học

LỜI GIỚI THIỆU
Quyển 4: Sơ lược quá trình phát triển giáo dục của Việt Nam và một số nước trên thế giới
Mục đích của cuốn 4 trong Bộ Tài liệu hỗ trợ hiệu trưởng quản lý hiệu quả trường học
nhằm cung cấp một số thông tin tóm lược về quá trình phát triển giáo dục của Việt Nam, tình
hình phát triển giáo dục và những xu hướng cải cách của một số nước trên thế giới. Trong quản
lý giáo dục, giáo dục đối chiếu được xem là một phương th„c quan trọng gi•p nhà quản lý hiểu
được các hệ thống giáo dục khác nhau, nắm được các vấn đề cơ bản về cải cách giáo dục, đ~ng

về giáo dục rất gần gũi với Việt Nam. Những tài liệu mà ch•ng tôi sử dụng rất đa dạng và g~m
nhiều th„ tiếng khác nhau, nên chắc chắn trong quá trình biên soạn và tổng hợp không tránh khỏi
những thiếu sót. Rất mong sự lượng th„ của quý độc giả.

Thay mặt nhóm chuyên gia soạn thảo
Th.S Nguyễn Thị Thái
Phó Vụ trưởng, Phó GĐ dự án
Quyển 4 – Sơ lược quá trình phát triển giáo dục của Việt Nam và một số nước trên thế giới
6
Tài liệu tăng cường năng lực quản lý trường học

SƠ LƯỢC QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VIỆT NAM
VÀ CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
Chương 1. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VIỆT NAM
1. Quá trình phát triển giáo dục: Những mốc lịch sử và sự kiện quan trọng
1.1 Giáo dục Việt Nam trong thời phong kiến và thời thuộc địa
Giáo dục Việt Nam trong thời phong kiến:
Kể từ thời các vua Hùng dựng nước cho tới khi Ngô Quyền xưng vương, đánh tan quân
Nam Hán, chấm d„t hơn nghìn năm Bắc thuộc, hầu như không có tài liệu nói về giáo dục (với
nghĩa hẹp là dạy và học chữ). Tuy nhiên, căn c„ vào việc sử sách ca ngợi công lao của thái th•
Sỹ Nhiếp mở mang việc học tại Giao Chỉ và một số đoạn nói về một vài người Việt đỗ đạt và
làm quan ở phương Bắc, có thể nói trong thời Bắc thuộc đã có một tầng lớp người Việt biết chữ.
[1] Hơn nữa, cùng với việc du nhập đạo Phật, chắc chắn chùa chiền phải là nơi dạy chữ để đào
tạo các nhà sư và truyền bá kinh kệ.
Bắt đầu từ thiên niên kỷ th„ hai, cùng với việc xây dựng và bảo vệ đất nước, tổ tiên ta đã
dành nhiều công s„c phát triển nền giáo dục dân tộc. Cơ sở giáo dục đầu tiên của nhà nước
phong kiến Việt Nam (được ghi nhận trong sử sách) là Quốc Tử Giám Thăng Long, do vua Lý
Nhân Tông cho thành lập vào năm 1076. [1] L•c đầu Quốc Tử Giám chỉ nhằm dạy con cái vua
quan, sau mở rộng dần cho những thanh thiếu niên có tư chất và đủ trình độ trong dân gian. Vào
năm 1483, Quốc Tử Giám đã có 300 xá sinh (sinh viên nội tr•) g~m con em gia đình quý tộc,

cử dù ở bất kỳ cấp bậc nào cũng đều bị trừng trị nghiêm khắc. Bằng việc tuyển chọn nhân tài
thông qua thi cử, tuy hết s„c khắt khe nhưng lại mang yếu tố dân chủ vì đã tạo được cơ may cho
con cái tầng lớp bình dân. Một điều đặc biệt lý th• là, trong giai đoạn mới thành lập, vương triều
Trần cũng đã tính đến điều kiện học tập không đ~ng đều giữa các địa phương từ đó quy định một
kỳ thi có hai trạng nguyên: kinh trạng nguyên cho khu vực thuận lợi và trại trạng nguyên cho khu
vực khó khăn.
Trong hệ thống giáo dục quốc dân thời phong kiến, bên cạnh một số lượng không nhiều các
trường công, tại nhiều làng xã, đã có những gia đình mời thầy đến ở trong nhà, dạy con em mình
và thanh thiếu niên trong làng. Nhà chủ chịu trách nhiệm chu cấp cho thầy. Như vậy, từ xa xưa
dạy học đã là một nghề. Hơn nữa, theo Nho giáo, đối với mỗi con người, vị trí của ông thầy chỉ ở
dưới vua và trên cả cha mẹ (quân - sư - phụ). Trong xã hội Việt Nam, quan niệm phổ biến của
không ít người là “dù nghèo, cũng cố cho con học dăm ba chữ để làm người”. Còn để trở thành
người lãnh đạo, theo cách lựa chọn quan lại của hầu hết các triều đại, nhất thiết phải học giỏi và
đỗ đạt trong các kỳ thi (thi văn hoặc thi võ). Cũng nên nhớ rằng, cùng với các kỳ thi chọn tiến sỹ,
nhà nước phong kiến còn tổ ch„c các kỳ thi lại viên, tuyển chọn những người biết chữ, biết tính
toán, để làm thuộc lại ở các sảnh, viện, gi•p việc cho các quan đầu triều. [1], [2]
Suốt cả nghìn năm, người Việt Nam học chữ Hán (đọc chữ Hán theo cách phát âm riêng
của người Việt) và sử dụng chữ Hán làm văn tự chính th„c để ghi chép. Mặc dầu vậy, nhờ phát
triển giáo dục, duy trì và hun đ•c ý th„c độc lập dân tộc, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, người
Việt đã không bị Hán hoá. Bên cạnh việc sử dụng chữ Hán, người Việt Nam còn dựa theo chữ
Hán chế tác chữ nôm để ghi chép, biểu đạt bằng tiếng Việt. Người đầu tiên, được sách sử ghi tên,
có công đối với việc phát triển chữ nôm là Nguyễn Thuyên. Ông đã dùng chữ nôm làm bài văn tế
đuổi cá sấu, được vua Trần Nhân Tông cho đổi sang họ Hàn-Hàn Thuyên, ví ông như Hàn Dũ,
văn sỹ đời Hán bên Tàu cũng đã làm văn đuổi cá sấu. [3] Bản thân vua Trần Nhân Tông cũng có
bài ph• Cư trần lạc đạo viết bằng chữ nôm. Sau này, nhiều tác ph€m văn chương, lịch sử, y học,
khoa học có giá trị rất lớn đã được viết bằng chữ nôm. Tiêu biểu là Quốc âm thi tập của Nguyễn
Trãi, bản dịch Chinh phụ ngâm kh•c của Đoàn Thị Điểm, Truyện Kiều của Nguyễn Du.
Giáo dục VN thời thuộc Pháp.
Từ cuối thế kỷ XIX và gần nửa thế kỷ XX, trong hơn 80 năm nước ta bị thực dân Pháp xâm
lược. Dưới chế độ thuộc địa, nền giáo dục Nho học được thay thế dần bằng nền giáo dục Pháp -

trào truyền bá chữ quốc ngữ còn đào tạo được nhiều cán bộ trung kiên, có kinh nghiệm về chống
nạn thất học, đã cung cấp cho cách mạng một số cán bộ và chiến sĩ để sau này, qua rèn luyện đã
trở thành những cán bộ quản lý chủ chốt của ngành giáo dục, của bộ máy chính quyền mới. [4]
1.2. Từ ngày độc lập đến kháng chiến thứ nhất thắng lợi (1945-1954)
Trong năm đầu của chế độ Dân chủ - Cộng hòa
Sau khi nhân dân giành được chính quyền và tuyên bố nền độc lập của đất nước, ngay tại
phiên họp đầu tiên của Chính phủ cách mạng lâm thời (3-9-1945), Chủ tịch H~ Chí Minh đã xác
định: “chống giặc đói, chống giặc dốt, chống giặc ngoại xâm” là ba nhiệm vụ trọng yếu của
Chính phủ và nhân dân ta l•c đó [5]. Ngày 6-9-1945, Người đã gửi thư cho học sinh nhân dịp
khai giảng năm học 1945-1946, khẳng định sự ra đời của một nền giáo dục mới với s„ mệnh
phục vụ công cuộc giữ gìn độc lập và phục hưng đất nước, trong đó chỉ rõ mục đích học tập của
thế hệ trẻ mà cũng là nhiệm vụ chiến lược của nền giáo dục mới là làm cho “non sông Việt Nam
trở nên tươi đẹp”, “dân tộc Việt Nam sánh vai với các cường quốc năm châu”. [5]
Xuất phát từ triết lý “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, ngày 8-9-1945, Chính phủ ban
hành các văn kiện pháp lý quan trọng: Sắc lệnh số 17-SL: "Đặt ra một bình dân học vụ trong
toàn cõi Việt Nam", Sắc lệnh số 19-SL: "Trong toàn cõi Việt Nam sẽ thiết lập cho nông dân và
thợ thuyền những lớp học bình dân học buổi tối" và Sắc lệnh số 20-SL: "Trong khi chờ đợi lập
được nền tiểu học cư‡ng bách, việc học chữ quốc ngữ từ nay bắt buộc và không mất tiền cho tất
cả mọi người"
1
. [5] Tiếp đó, vào đầu tháng 10-1945, Chủ tịch H~ Chí Minh lại ra Lời kêu gọi
toàn dân chống nạn thất học. [5]
Thực hiện chủ trương của Chính phủ và hưởng „ng lời kêu gọi của Chủ tịch H~ Chí Minh,
chỉ trong vòng chưa đầy một năm, cả nước đã có gần 75 ngàn lớp học bình dân với gần 96 ngàn
giáo viên (người biết chữ dạy người không biết chữ) gi•p cho hơn 2,5 triệu người thoát khỏi nạn
mù chữ. [5] Như vậy, ngay khi nền cộng hoà dân chủ vừa được thành lập, xoá nạn mù chữ và nâng
cao trình độ học vấn của toàn dân đã trở thành một quốc sách và việc học tập để biết đọc, biết viết,
biết tính toán đã được nhân dân tiếp nhận làm một tiêu chí biểu hiện văn hoá. Từ đó, qua suốt
nhiều thập kỷ, Việt Nam kiên trì thực hiện xoá mù chữ và nâng cao trình độ học vấn của toàn dân.
Song song với việc tổ ch„c để các trường mở cửa, tiếp tục công việc giảng dạy, học tập, Bộ

Mặc dầu Chính phủ Dân chủ Cộng hòa tìm mọi cách để giữ gìn nền độc lập trong mối quan
hệ hữu nghị với nước Pháp, nhưng thực dân Pháp lại muốn duy trì ách thống trị đối với Việt
Nam cũng như toàn cõi Đông Dương. Do đó nhân dân ta buộc phải tiến hành cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp.
Tại vùng tự do, các trường học tiếp tục hoạt động. Để tạo ngu~n đào tạo cán bộ phục vụ
kháng chiến và xây dựng đất nước sau ngày kháng chiến thắng lợi, năm 1950, chính phủ chính
th„c thông qua đề án cải cách giáo dục. [5]
Mục tiêu đào tạo của nhà trường khi đó được xác định là: giáo dục, b~i dư‡ng thế hệ trẻ
thành những người công dân lao động tương lai, trung thành với chế độ dân chủ nhân dân, có đủ
năng lực phục vụ nhân dân, phục vụ kháng chiến. [5] Để phù hợp với hoàn cảnh chiến tranh, nội
dung chủ yếu của cuộc cải cách lần này là thay đổi cơ cấu giáo dục phổ thông (r•t bớt số năm
học) và điều chỉnh quan hệ giữa các bộ phận của hệ thống giáo dục để thống nhất với sự thay đổi
đó. Theo đó, cơ cấu giáo dục phổ thông g~m 3 cấp, thực hiện trong 9 năm: cấp I có 4 lớp, không
kể lớp v‡ lòng (học đọc và viết chữ Việt); cấp II có 3 lớp; cấp III có 3 lớp. [5] Về nội dung giảng
dạy, tạm gác lại một số môn học (như ngoại ngữ, âm nhạc, vẽ, nữ công gia chánh); bổ sung một
số môn học mới (như thời sự, chính sách, giáo dục công dân, tăng gia sản xuất). [4] Do chương
trình phổ thông tạm r•t ngắn, sau khi tốt nghiệp lớp 9, để vào đại học, học sinh phải qua trường
dự bị đại học (l•c đầu là 2 năm sau đổi thành 1 năm). Đ~ng thời, hệ thống giáo dục bình dân và
giáo dục chuyên nghiệp cũng thay đổi (sau chương trình xoá mù chữ, có chương trình tiểu học
bình dân và trung học bình dân ). Trường đại học y dược, trường đại học khoa học (chủ yếu là
văn khoa và toán học) vẫn tiếp tục hoạt động. [5]
Tại vùng tạm chiếm, các trường học giảng dạy, học tập theo một chương trình 12 năm, căn
bản dựa trên một chương trình được canh tân bởi một số học giả yêu nước từ đầu năm 1945
(Chương trình Hoàng Xuân Hãn), khi Đông Dương thuộc Pháp bị người Nhật xâm chiếm
3
. Đặc
trưng của nền giáo dục ở vùng tạm chiếm là giảm bớt màu sắc của của nền giáo dục thuộc địa,
tiếng Việt được thay thế cho tiếng Pháp trong giảng dạy ở giáo dục phổ thông, nhiều nội dung có
yếu tố dân tộc đã được đưa vào chương trình. Tuy nhiên, chương trình vùng tạm chiếm vẫn chịu
ảnh hưởng nặng nề của nền giáo dục của Pháp.

.
Hệ thống này ít nhiều mô phỏng theo hệ thống giáo dục của Liên Xô l•c đó.
Để đáp „ng nhu cầu học tập của nhân dân, Chính phủ chủ trương “Tận lực phát triển giáo
dục phổ thông”. Đến cuối kỳ kế hoạch 5 năm (1961-1965), mạng lưới trường lớp được mở rộng:
phần lớn các xã có trường cấp I; hai hoặc ba xã có một trường cấp II; phần lớn các huyện có
trường cấp III. Loại trường vừa dạy tri th„c phổ thông, vừa dạy kỹ thuật sản xuất ra đời như
trường phổ thông công nghiệp ở thành phố, trường phổ thông nông nghiệp ở nông thôn, trường
thanh niên dân tộc vừa học vừa làm ở các tỉnh miền n•i. Thực hiện chủ trương của Chính phủ, ở
hầu hết các xã trên miền Bắc, nhân dân thành lập “Ban bảo trợ học đường”, huy động s„c người,
s„c của xây dựng các trường cấp I, cấp II, đề cử người ở địa phương làm giáo viên, tự định m„c
đóng góp để trả lương thầy, từ đó xuất hiện hình th„c trường dân lập. Chính phủ quy định: giáo
viên dân lập và giáo viên quốc lập hưởng mọi chính sách, chế độ như nhau, chỉ khác tiền lương
của giáo viên dân lập do ngân sách địa phương đài thọ, có sự hỗ trợ thích đáng của nhà nước. [5]
Cũng trong thời gian này, bên cạnh các trường đại học Y-Dược, Sư phạm, Tổng hợp, có
thêm các trường đại học mới: Nông Lâm, Bách khoa, Kinh tế , hệ thống giáo dục đại học được
củng cố, hoàn chỉnh một bước nhằm đào tạo đội ngũ trí th„c mới. Các trường trung học chuyên
nghiệp, dạy nghề được thành lập, trong đó đặc biệt quan trọng là những lớp dạy nghề bên cạnh xí
nghiệp đã góp phần cung cấp nhân lực cho công cuộc xây dựng miền Bắc, bảo vệ Tổ quốc, thống
nhất đất nước.
Điều đáng lưu ý là, các trường phổ thông công nghiệp và trường phổ thông nông nghiệp đã
có chương trình giảng dạy, học tập giàu tính thực hành, tiếc rằng khi quân đội Mỹ mở rộng chiến
tranh bằng không quân ra miền Bắc, các loại trường này không có điều kiện để duy trì.
Song song với việc triển khai cải cách giáo dục ở phổ thông, Chính phủ thành lập Ban lãnh
đạo trung ương thanh toán nạn mù chữ, xác định giáo dục bình dân là một bộ phận không thể
thiếu trong kế hoạch nhà nước
5
và phát động thực hiện kế hoạch 3 năm thanh toán nạn mù chữ
(1956-1958). Kết quả, đến năm 1959 đã có 2.161.362 người đã thoát nạn mù chữ, hầu hết dân cư
trong các tỉnh đ~ng bằng biết đọc, biết viết; đưa tỷ lệ dân số biết chữ trong độ tuổi 12-50 lên
93,4%. [5] Tuy vậy, kết quả xoá mù chữ lần này, cũng như về sau này, không bền vững, do

giáo dục đã được Chính phủ xác định là: tiếp tục phát triển, bảo đảm an toàn cho học sinh, gắn
hơn nữa hoạt động của nhà trường với đời sống, sản xuất và chiến đấu. Trường, lớp từ giáo dục
phổ thông, giáo dục nghề nghiệp đến giáo dục đại học được sơ tán ra khỏi thành phố, thị xã, các
đầu mối giao thông và những điểm tập trung dân cư lớn, tiếp tục duy trì hoạt động dạy và học.
Thành công lớn nhất trong thời gian này là, nhà trường ở tất cả các cấp đã giáo dục, rèn luyện
được một thế hệ thanh thiếu niên sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ công dân trong thời chiến, góp
phần tạo ra một hệ thống giá trị về tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc và niềm tin vào lý
tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Ở miền Nam
Trong thời kỳ 1954-1975, ở vùng do chính quyền Sài Gòn kiểm soát, cũng như về sau này
ở vùng giải phóng, hoạt động giáo dục vẫn diễn ra để đáp „ng nhu cầu học tập của người dân và
đảm nhiệm ch„c năng đào tạo nhân lực. Tuy nhiên, hoạt động giáo dục ở hai vùng có đặc điểm
riêng, thậm chí đối nghịch nhau.
Ở vùng do chính quyền Sài Gòn kiểm soát, nền giáo dục chuyển dần từ chỗ chịu tác động
và ảnh hưởng của nền giáo dục Âu Pháp sang chịu tác động và ảnh hưởng của nền giáo dục Bắc
Mỹ. Hệ thống giáo dục phổ thông trải qua một vài lần thay đổi, song vẫn theo cơ cấu khung: tiểu
học (5 năm), trung học cấp thấp (4 năm), trung học cấp cao (3 năm) g~m nhiều ban. Giáo dục đại
học vẫn có thiên hướng hàn lâm nhiều hơn thực hành, tập trung vào vào các ngành khoa học cơ
bản, luật, kinh tế, hành chính. Các trường đại học thuộc các ngành này phát triển nhanh hơn các
trường kỹ thuật, công nghệ, nông - lâm - s•c. Mặt khác, tiếp x•c với nền giáo dục Bắc Mỹ, một
số nhà giáo dục cũng đã học tập, tiếp thu được một số kinh nghiệm giáo dục Hoa Kỳ, trên cơ sở
đó đề xuất một số sáng kiến góp phần canh tân giáo dục nhất là về xây dựng chương trình và
phương pháp dạy học. Điều đặc biệt là, suốt trong thời gian đô thị miền Nam nằm trong sự kiểm
soát của chính quyền Sài Gòn, mặc dù chịu tác động và ảnh hưởng của nền giáo dục Bắc Mỹ,
tuổi trẻ học đường vẫn duy trì tinh thần phản kháng và đã có những đóng góp đáng kể vào sự
nghiệp chống ngoại xâm của dân tộc. [5]
Ở vùng giải phóng, Bộ Giáo dục trong Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt
Nam đã ban hành chương trình phổ thông 12 năm, với loại sách giáo khoa khác hẳn sách giáo
6
Theo cuốn “Escalade de guerre et du crime par Nixon au Việt Nam” (Cuộc leo thang chiến tranh và tội ác do

cuộc cải cách giáo dục nhằm tiến tới một nền giáo dục quốc dân thống nhất phù hợp với chiến
lược tái thiết và phát triển đất nước.
Ngày 11-1-1979, Bộ Chính trị BCH Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết số 14-
NQ/TW về cải cách giáo dục, [5] [7] theo đó, những định hướng có tính nguyên tắc cho cuộc cải
cách giáo dục lần th„ ba này là:
- Về mục tiêu giáo dục: Chăm sóc, giáo dục thế hệ trẻ từ tuổi ấu thơ cho đến l•c trưởng
thành nhằm tạo cơ sở ban đầu cho con người phát triển toàn diện; thực hiện phổ cập giáo dục
toàn dân nhằm tạo điều kiện thực hiện 3 cuộc cách mạng (về quan hệ sản xuất, về khoa học - kỹ
thuật và về văn hoá - tư tưởng); đào tạo và b~i dư‡ng với quy mô ngày càng lớn đội ngũ lao
động phù hợp yêu cầu phân công lao động xã hội. [5] [7]
- Về nội dung giáo dục, hướng vào việc “Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện [đ„c, trí,
thể, mỹ], tạo ra những lớp người lao động mới làm chủ tập thể, đủ s„c gánh vác sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân …” [5] [7]
- Về nguyên lý giáo dục, yêu cầu học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động, nhà
trường gắn liền với xã hội. [5] [7]
- Về hệ thống giáo dục, thay thế hệ thống phổ thông 12 năm ở miền Nam và hệ thống 10 năm
ở miền Bắc bằng một hệ thống giáo dục phổ thông 12 năm mới, trong đó, trường cấp I và trường
cấp II được sáp nhập thành trường phổ thông cơ sở (chín năm), đ~ng thời chu€n bị phân ban ở
trung học phổ thông. Nhiều trường đại học chuyên ngành được xây dựng và phát triển. [5] [7]
7
Trong chế độ cũ có tới 2500 trường tư thục, trong đó một nửa do các tổ ch„c tôn giáo mở.
Quyển 4 – Sơ lược quá trình phát triển giáo dục của Việt Nam và một số nước trên thế giới
13
Tài liệu tăng cường năng lực quản lý trường học

Đ~ng thời với việc ra nghị quyết xác định phương hướng cải cách giáo dục, Bộ Chính trị
cũng đã quyết định thành lập Uỷ ban Cải cách giáo dục của Trung ương và Chính phủ. [7] Tổ
ch„c này có ba nhiệm vụ:
- Chỉ đạo nghiên c„u và xây dựng các đề án về chủ trương, kế hoạch và biện pháp thực hiện;
- Kiểm tra, đôn đốc các ngành, các địa phương;

chuyên nghiệp cũng không đủ ngân sách tối thiểu cần thiết để duy trì các hoạt động bình thường.
Học sinh trung học chuyên nghiệp và sinh viên đại học ra trường không có việc làm, giảng viên
theo đuổi những công việc xa lạ với nghề nghiệp để có thêm thu nhập. Bị trói buộc trong cơ chế
cũ, các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp thiếu hẳn điều kiện về ngu~n lực và
khả năng tự quản. [9]
Để đất nước vượt qua cuộc khủng hoảng, Đại hội lần th„ VI của Đảng CSVN (tháng 12-
1986) đã chủ trương đổi mới kinh tế- xã hội, chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ
chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Thực hiện đường lối đổi mới của Đại hội Đảng lần
thứ VI, đối với lĩnh vực giáo dục, điều căn bản là phải điều chỉnh những quan niệm và giải pháp
không còn thích hợp, mạnh dạn đề xuất và thực hiện những giải pháp mới nhằm chặn đà suy
thoái, ổn định tình hình, củng cố hệ thống, tạo thế và lực để tiếp tục phát triển. Phương hương
và giải pháp đổi mới giáo dục lúc đó là: xã hội hoá, dân chủ hoá, đa dạng hoá, hiện đại hoá;
vận động xã hội, gia đình và nhà trường cùng chăm sóc thế hệ trẻ. [5] [9] Theo phương hướng
Quyển 4 – Sơ lược quá trình phát triển giáo dục của Việt Nam và một số nước trên thế giới
14
Tài liệu tăng cường năng lực quản lý trường học

đó, ngành giáo dục đã nỗ lực duy trì, củng cố, tiếp tục phát triển nền giáo dục quốc dân, tập trung
chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, xem đội
ngũ là yếu tố quyết định hàng đầu trong việc thực hiện chất lượng và hiệu quả giáo dục.
Đối với giáo dục phổ thông, định hướng đổi mới là: Tiếp tục triển khai đ~ng thời điều
chỉnh cải cách giáo dục về mục tiêu, nội dung chương trình, sách giáo khoa và cả về quan niệm,
cách làm giáo dục. Từng bước thực hiện chất lượng toàn diện theo cách làm và m„c độ phù hợp
từng loại đối tượng, từng loại trường và từng địa phương; gắn giáo dục phổ thông với giáo dục
nghề nghiệp. Tiếp tục khẳng định mạnh mẽ trách nhiệm của nhà nước, đ~ng thời thực hiện xã
hội hoá giáo dục. Trong khi xã hội hóa ngu~n lực, điều quan trọng là khắc phục tâm lý ỷ lại và
thái độ khoán trắng cho nhà nước. [5] [9]
Một số giải pháp được triển khai nhằm thực hiện định hướng đổi mới giáo dục phổ thông
l•c đó là: Chính phủ cho phép thu học phí ở tất cả các cấp học, trừ tiểu học vì là cấp phổ cập;
cho phép tổ ch„c trường/lớp tư thục ở giáo dục tiền học đường; các trường/lớp bán công, dân lập

kết quả đáng kể. Vào năm học 1993-1994, qui mô giáo dục ở tất cả các bậc học từ giáo dục mầm
non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp đến giáo dục đại học đã được mở rộng, vượt năm
cao nhất của thời kỳ trước đổi mới.
Riêng ở bậc tiểu học, tỷ lệ bỏ học giảm từ 12,7% vào năm 1989-1990 xuống 6,58%
8
và tỷ
lệ lưu ban giảm từ 10,6% vào năm 1989-1990 xuống 6,18%. Đến giữa những năm 90 (của thế kỷ
8
Năm 2004, tỷ lệ lưu ban ở TH là 1,01%; ở THCS là 0,83%; ở THPT là 1,34%
Quyển 4 – Sơ lược quá trình phát triển giáo dục của Việt Nam và một số nước trên thế giới
15
Tài liệu tăng cường năng lực quản lý trường học

trước), tổng số học sinh tiểu học là trên 10 triệu, số học sinh trung học cơ sở là 3,7 triệu, số học
sinh trung học phổ thông là 86 vạn. [9] [19] Sau 5 năm, các địa phương đã vận động hơn 1,7
triệu trẻ em thất học đến lớp trong đó có 200 nghìn em đã đạt được chu€n phổ cập, hàng trăm
nghìn trẻ em bỏ học đã quay trở lại nhà trường; hơn 1,2 triệu người lớn đi học xoá mù chữ trong
đó gần nửa triệu đã biết chữ ở trình độ tương đương lớp 3.
9
[9] [19]
Về giáo dục nghề nghiệp, lưu lượng học sinh học nghề ngắn hạn đã tăng từ 95.500 (1993)
lên 128.700 (1994). [9] [19] Chương trình trung học nghề đã được 50 trường tổ ch„c thực hiện,
nhiều học sinh tốt nghiệp đã ra làm việc tại các cơ sở kinh tế
10
. Việc thí điểm đào tạo kỹ thuật
viên cấp cao đã thực hiện ở 6 trường trung học chuyên nghiệp thuộc các ngành bưu chính viễn
thông, kỹ thuật công nghiệp nhẹ, giao thông vận tải, kỹ thuật mỏ, hoá chất và văn hoá nghệ
thuật. Khó khăn lớn là về tổ ch„c quá trình đào tạo (thiếu giáo viên nên phải dạy d~n, một giáo
viên dạy nhiều môn ), lại thiếu cơ sở thực nghiệm cho các môn học nên không đảm bảo chất
lượng đào tạo cao đẳng Việc đào tạo theo mô đun kỹ năng hành nghề (MES) đã được triển

hạn. Tốc độ tăng quy mô ở trung học chuyên nghiệp tăng bình quân 14,7%/năm. [9] [19] Về giáo
dục đại học, từ 1998 đến 2004, quy mô đại học, cao đẳng tăng từ 760 nghìn sinh viên lên hơn 1,3
9
Đầu năm 1990 cả nước có khoảng 2,1 triệu trẻ em 6-14 tuổi thất học, 2 triệu người lớn ở độ tuổi 15-35 bị mù chữ.
10
Khó khăn lớn nhất đối với loại hình này là, chỉ phát huy tính ưu việt khi các kiến th„c, kỹ năng phổ thông và kỹ
thuật được dạy song song; lý thuyết chuyên môn và thực hành nghề được cấu tr•c theo hướng tích hợp ch„ không
theo một phép cộng giản đơn chương trình giáo dục bổ t•c với đào tạo nghề. Vì không vượt qua được khó khăn này
và vì thiếu điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị chương trình trung học nghề đã không được duy trì.
Quyển 4 – Sơ lược quá trình phát triển giáo dục của Việt Nam và một số nước trên thế giới
16
Tài liệu tăng cường năng lực quản lý trường học

triệu, tốc độ tăng bình quân 6,4%/năm. [9] [19] Giáo dục không chính quy được đ€y mạnh, mạng
lưới trung tâm giáo dục thường xuyên phủ khắp các quận huyện trong cả nước, số lượng trung
tâm học tập cộng đ~ng đã được phát triển ở quá nửa số xã phường. Cùng với sự phát triển đáng
kể về quy mô, việc cung „ng một cách công bằng về cơ hội giáo dục đã có bước tiến bộ quan
trọng. Khoảng cách về cơ hội tiếp cận giáo dục giữa các nhóm dân tộc được thu hẹp. Số lượng
học sinh con em dân tộc thiểu số ở trung học cơ sở tăng bình quân 7,3%/năm, ở trung học phổ
thông tăng bình quân 26,1%/năm. [9] [19]
Tuy nhiên, bên cạnh những tiến bộ đã đạt được, giáo dục nước ta vẫn còn nhiều yếu kém,
bất cập mà đáng quan tâm nhất là chất lượng và hiệu quả giáo dục còn thấp. Một số biểu hiện
tiêu cực, thiếu kỷ cương chậm được khắc phục đang gây lo lắng, b„c x•c trong xã hội. Vì thế
giáo dục trở thành một chủ đề thảo luận sôi nổi trên các phương tiện thông tin đại ch•ng, ở nhiều
cuộc hội nghị, hội thảo và cả trong các kỳ họp Quốc hội. Trước những đổi thay mạnh mẽ về
khoa học - công nghệ và kinh tế - xã hội, đặc biệt là trong bối cảnh toàn cầu hoá và yêu cầu phát
triển kinh tế tri th„c, các nhà lãnh đạo cũng như dân ch•ng đều không hài lòng về thực trạng và
yêu cầu có sự đổi mới mạnh mẽ hơn nữa trong lĩnh vực giáo dục.
2. Cơ cấu quản lý giáo dục ở Việt Nam
Khái niệm quản lý được đề cập ở đây bao g~m cả quản lý nhà nước và quản lý chuyên

(thường được gọi là mạng lưới trường/ lớp).
Về cơ cấu hệ thống giáo dục. Luật giáo dục 2005 quy định tại Điều 4
- “Hệ thống giáo dục quốc dân g~m giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên.” Như
vậy, giáo dục thường xuyên vừa có thể hiểu như một phương th„c giáo dục, vừa có thể xem là
một tiểu hệ thống/ phân hệ của hệ thống giáo dục quốc dân.
- Các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân bao g~m:
a) Giáo dục mầm non, có nhà trẻ và mẫu giáo;
b) Giáo dục phổ thông, có 3 cấp học: tiểu học (từ lớp 1 đến lớp 5), trung học cơ sở (từ lớp 6
đến lớp 9), trung học phổ thông (từ lớp 10 đến lớp 12);
c) Giáo dục nghề nghiệp, g~m 3 trình độ đào tạo: sơ cấp, trung cấp (trung cấp chuyên
nghiệp và trung cấp nghề), cao đẳng;
d) Giáo dục đại học, g~m 4 trình độ đào tạo: cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ.
Quyển 4 – Sơ lược quá trình phát triển giáo dục của Việt Nam và một số nước trên thế giới
18
Tài liệu tăng cường năng lực quản lý trường học

Quyển 4 – Sơ lược quá trình phát triển giáo dục của Việt Nam và một số nước trên thế giới
19
Tài liệu tăng cường năng lực quản lý trường học

Về mạng lưới trường/ lớp, theo nguyên tắc phân bố trường gần dân, đến nay trên các địa
bàn dân cư đều có các cơ sở giáo dục. Cụ thể là:
- Mỗi xã, phường hoặc thị trấn đều có ít nhất một cơ sở giáo dục mầm non, một trường tiểu
học, một trường trung học cơ sở hoặc một trường liên cấp tiểu học và trung học cơ sở (hình th„c
này chỉ có ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn); phần lớn các xã có trung tâm học tập cộng
đ~ng.
- Mỗi quận, huyện, thị xã hoặc thành phố thuộc tỉnh đã có một hoặc một số trường trung
học phổ thông, có một trung tâm giáo dục thường xuyên của huyện. Các thị xã, các quận và
nhiều huyện đã có trung tâm kỹ thuật tổng hợp-hướng nghiệp. Các huyện miền n•i, hải đảo đều
có một trường trung học cơ sở nội tr• dành cho học sinh dân tộc thiểu số

do tư nhân thành lập (cơ sở tư thục).
- Các cơ sở giáo dục mầm non công lập chỉ được thành lập tại các xã thuộc địa bàn kinh tế
- xã hội đặc biệt khó khăn, vùng cư tr• của các dân tộc thiểu số.
11
Cấp trung học cơ sở
Quyển 4 – Sơ lược quá trình phát triển giáo dục của Việt Nam và một số nước trên thế giới
20
Tài liệu tăng cường năng lực quản lý trường học

- Các cơ sở giáo dục mầm non dân lập chủ yếu được thành lập tại nông thôn. Dân cư trong
cộng đ~ng đóng góp xây dựng trường sở, mua sắm thiết bị và bảo đảm kinh phí hoạt động, chính
quyền địa phương có trách nhiệm hỗ trợ về ngu~n lực.
- Chính phủ khuyến khích tư nhân thành lập các cơ sở giáo dục tiền học đường tư thục. Các
trường này được hưởng các chính sách ưu đãi như được giao hoặc cho thuê đất, được giao hoặc
cho thuê cơ sở vật chất, được hưởng ưu đãi về thuế và tín dụng.
Về quy mô giáo dục mầm non, trong năm học 2007-2008, cả nước có 3.057.718 trẻ em
được bố mẹ gửi vào 11.620 cơ sở giáo dục mầm non; trong đó có 5.678 cơ sở giáo dục mầm non
công lập tiếp nhận 1.336.824 trẻ em, 5.942 cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập tiếp nhận
1.720.894 trẻ em. [13] [19]
Mục tiêu phát triển của giáo dục mầm non đến 2010 là:
- Nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ em trước 6 tuổi. Giảm tỷ lệ suy dinh dư‡ng
của trẻ em trong các cơ sở giáo dục tiền học đường xuống dưới 15%
12
.
- Mở rộng hệ thống nhà trẻ, trường mẫu giáo trên mọi địa bàn dân cư, đặc biệt ở nông thôn
và vùng khó khăn để hệ thống này có thể thu h•t 18% trẻ em dưới 3 tuổi, 67% trẻ em trẻ em từ 3
đến 5 tuổi. Riêng đối với trẻ em 5 tuổi, cố gắng thu h•t 95%
13
để chu€n bị cho các em vào học
lớp một.

Năm 2005 các chỉ tiêu này là15%, 58% và 85%.
1
7
Năm học 2001-2002, số học sinh mtiểu học là 9.311.010. Như vậy, mỗi giảm trung bình gần 400-500 nghìn học
sinh.
Quyển 4 – Sơ lược quá trình phát triển giáo dục của Việt Nam và một số nước trên thế giới
21
Tài liệu tăng cường năng lực quản lý trường học

Mục tiêu phát triển của giáo dục tiểu học đến 2010 là: Thực hiện phổ cập giáo dục đ•ng
độ tuổi (thu h•t 99% trẻ em trong độ tuổi đi học, giảm thiểu tỷ lệ lưu ban, bỏ học), nâng cao chất
lượng và hiệu quả, tiến tới thực hiện dạy và học 2 buổi/ ngày, đưa ngoại ngữ vào học từ lớp 3,
giảm tỷ lệ hs/gv và quy mô các lớp học. [13]
3.4. Giáo dục trung học:
Giáo dục trung học có hai cấp, cấp trung học cơ sở và cấp trung học phổ thông. Trung học
cơ sở g~m 4 lớp (từ lớp 6 đến lớp 9). Mục tiêu giáo dục của cấp trung học cơ sở là củng cố và
phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những
hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, hoặc học
nghề (trung cấp chuyên nghiệp/ trung cấp nghề), hoặc đi vào cuộc sống lao động. [12]
Trung học phổ thông g~m 3 lớp (từ lớp 10 đến lớp 12). Mục tiêu giáo dục của cấp trung
học phổ thông là gi•p học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở,
hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp,
có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, hoặc học lên đại học, cao
đẳng, hoặc học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động. [12]
Năm học 2007-2008, cả nước có 10.491 trường trung học cơ sở với 5.791.229 học sinh;
trong đó, số trường công lập là 10.458 với 5.791.229 học sinh và số trường ngoài công lập là 33
với 68.297 học sinh. Cũng trong năm học này, số trường trung học phổ thông là 2.476 với
3.070.023 học sinh; trong đó, số trường công lập là 1.826 với 2.238.141 học sinh và số trường
ngoài công lập là 831.882 học sinh. [13] [19]
Tại các tỉnh có đông người dân tộc thiểu số (tỉnh miền n•i và tỉnh có huyện miền n•i) trong

môn, nghiệp vụ. [12]
Giáo dục nghề nghiệp có ba trình độ đào tạo: sơ cấp, trung cấp và cao đẳng. Đào tạo trình
độ sơ cấp thực hiện trong thời gian dưới một năm; đào tạo trình độ trung cấp và cao đẳng thực
hiện trong thời gian từ một đến ba năm tuỳ theo đặc điểm, yêu cầu nghề nghiệp và trình độ của
người học ở đầu vào. [12]
Cơ sở giáo dục nghề nghiệp bao g~m các trường trung cấp chuyên nghiệp thuộc quyền
quản lý của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các trường dạy nghề và các trung tâm dạy nghề thuộc
quyền quản lý của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Theo thống kê năm 2006, trong cả
nước có 1.688 cơ sở dạy nghề phân bố ở tất cả các tỉnh, bao g~m 236 trường dạy nghề (tăng gấp
đôi so với năm 1998), 404 trung tâm dạy nghề và trên 1.000 các lớp dạy nghề
18
. [19] [20] Trong
hệ thống các trường dạy nghề, ngoài các trường công lập, có trường tư thục, trường có vốn đầu
tư của nước ngoài và trường của quân đội để thực hiện việc dạy nghề cho bộ đội xuất ngũ. Về
các trường trung học chuyên nghiệp (thuộc quyền quản lý của Bộ Giáo dục và Đào tạo), mặc dầu
nhiều trường mạnh lần lượt chuyển thành trường cao đẳng nhưng trong 5 năm (từ 2001 đến
2005) tổng số các trường trung học chuyên nghiệp vẫn tăng. Cụ thể, năm học 2001 có 253
trường đến năm học 2005 có 285 trường, với 283.335 học sinh. Trong đó, có 238 trường công
lập và 47 trường tư thục; có trường thuộc các bộ và có trường thuộc địa phương, mỗi tỉnh trung
bình có từ 3 đến 5 trường (trừ 3 tỉnh mới thành lập)
19
. [19] [20]
Mục tiêu phát triển của giáo dục nghề nghiệp đến năm 2010 là:
- Thiết lập hệ thống đào tạo nghề nghiệp thực hành đáp „ng yêu cầu phát triển kinh tế - xã
hội, ch• trọng đào tạo nghề ngắn hạn và đào tạo công nhân lành nghề, đội ngũ kỹ thuật viên và
cán bộ chuyên môn ở trình độ cao đẳng từ những người tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp và
trung cấp nghề.
- Thu h•t 30% học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở vào học các trường trung cấp
14
và 10%

14
Trong Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 quy định: Thu h•t 15% học sinh tốt nghiệp THCS vào THCN
(theo Luật giáo dục 2005 là TCCN) và 15% vào học trường dạy nghề dài hạn, ở đây xin gộp chung thành 30% vào
học trung cấp (TCCN và TC nghề)
Quyển 4 – Sơ lược quá trình phát triển giáo dục của Việt Nam và một số nước trên thế giới
23
Tài liệu tăng cường năng lực quản lý trường học

nghiệp tương x„ng với trình độ đào tạo, có s„c khỏe, đáp „ng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc. [12]
Các cơ sở giáo dục đại học của nước ta g~m:
- Các trường cao đẳng (junior college);
- Các trường đại học (university), trong đó có đại học g~m nhiều trường thành viên
(colleges), có đại học chỉ có các khoa;
- Các học viện;
Theo thống kê năm 2006, cả nước có 322 trường đại học, cao đẳng với 1.53.846 sinh viên;
trong đó có 275 trường công lập với 1.310.375 sinh viên và 193.471 sinh viên. Về đào tạo sau
đại học có gần 150 cơ sở với 38.461 học viên cao học
20
và 4.518 nghiên c„u sinh
21
. Tỷ lệ sinh
viên trên một vạn dân là 179. [19]
Mục tiêu phát triển của giáo dục đại học đến 2010 và 2020 là:
- Mở rộng quy mô đào tạo, đạt tỷ lệ 200 sinh viên/1 vạn dân vào năm 2010 và 450 sinh
viên/1 vạn dân vào năm 2020, trong đó có 70-80% sinh viên theo học các chương trình nghề
nghiệp - „ng dụng và khoảng 40% sinh viên thuộc các trường ngoài công lập. [17]
- Bảo đảm đến năm 2010 đạt 40% giảng viên đại học, cao đẳng có trình độ thạc sĩ và 25%
có trình độ tiến sĩ; tỉ lệ sinh viên/giảng viên của cả hệ thống giáo dục đại học không quá 20. [17]
- Áp dụng các phương th„c và công nghệ quản lý hiện đại trong các cơ sở giáo dục đại học,

Quyển 4 – Sơ lược quá trình phát triển giáo dục của Việt Nam và một số nước trên thế giới
24
Tài liệu tăng cường năng lực quản lý trường học

- Chương trình đào tạo, đào tạo lại và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ;
- Chương trình giáo dục để lấy văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân. [11]
Hệ thống tổ ch„c thực hiện giáo dục thường xuyên g~m các trung tâm giáo dục thường
xuyên cấp tỉnh, các trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện và các trung tâm học tập cộng
đ~ng. Đ~ng thời các cơ sở giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học cũng
tham gia thực hiện chương trình giáo dục thường xuyên. [12]
Trong năm học 2008-2009, tính chung cả nước có 66 trung tâm giáo dục thường xuyên cấp
tỉnh, 583 trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện, 24 trường bổ t•c văn hoá, 1.300 trung tâm
tin học, ngoại ngữ và 10.997 trung tâm học tập cộng đ~ng ở xã (thuộc địa bàn nông thôn). [13]
[19]
Mục tiêu của giáo dục thường xuyên đến 2010 và 2015 là:
- Nâng cao kết quả xoá nạn mù chữ, tăng tỷ lệ người biết chữ trong độ tuổi 15-35;
- Mở rộng cơ hội học tập cho người lớn, người lao động, gi•p mọi người tiếp cận và thụ
hưởng các chương trình b~i dư‡ng, nâng cao hiểu biết, khả năng lao động và chất lượng cuộc
sống
- Phấn đấu để mạng lưới cơ sở giáo dục thường xuyên phủ kín các địa bàn trong cả nước.
[13]
4. Những thách thức đối với giáo dục Việt Nam
4.1. Chất lượng giáo dục và việc đổi mới chương trình giáo dục
Đối với phổ thông
Việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông được chính th„c bắt đầu từ năm 2000
15
. Đến
nay, chương trình đã được ban hành và sách giáo khoa mới đã được sử dụng để giảng dạy và học
tập ở tất cả các khối lớp ở tiểu học và trung học cơ sở; chương trình trung học phổ thông (phân
ban) và sách giáo khoa đi kèm đã được áp dụng từ năm học 2006-2007.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status