BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
-----------------------------------
Nguyễn Thị Kim Anh
NHỮNG THÀNH TỰU
CỦA THƠ BANG GIAO
THỜI TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành : Văn học Việt nam
Mã số : 60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
PGS.TS. Lê Thu Yến
Thành phố Hồ Chí Minh - 2006
Lời cảm ơn
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn khoa học tận
tình, chu đáo của PGS.TS Lê Thu Yến - người đã trực tiếp hướng dẫn
chúng tôi hoàn thành luận văn khoa học này.
Nhân đây, chúng tôi muốn gởi lời cảm ơn sâu sắc đến Ban
Giám hiệu, tập thể các thầy cô giáo khoa Ngữ văn và Phòng khoa
học công nghệ Sau đại học Trường Đ.H.S.P Thành phố Hồ Chí Minh,
đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình
học tập và nghiên cứu.
Chúng tôi cũng xin trân trọng bày tỏ sự thâm tạ về những đóng
góp quý báu của tất cả quý thầy cô trong Hội đồng thẩm đònh luận
vóc dáng tiến trình văn học nước nhà không thể không nói đến dòng văn học bang giao này.
Thơ bang giao còn là một bộ phận quý giá trong di sản văn học dân tộc. Sứ giả nước Việt
thời cổ, đặt chân lên Bắc quốc kể có hàng trăm. Thơ văn bang giao, đi sứ kể có hàng vạn bài.
Thời xưa, người đi sứ luôn có dũng khí bảo vệ lợi ích và uy tín dân tộc; có nhân cách và học
vấn. Họ xứng đáng đại diện cho nền văn hiến dân tộc. Thơ đi sứ của Nguyễn Tông Khuê được
nhân só Triều Tiên – Lý Bán Thôn khen: “Cách luật nghiêm chỉnh, âm điệu cao siêu, nắn nót
từng câu từng chữ, thảy đều theo đúng khuôn phép thònh Đường. Dẫu Trung Hoa có tiếng hay thơ
cũng không hơn được” [64, tr. 42]. Thơ đi sứ của cụ Bảng Đôn cũng lừng danh ở cõi Bắc, trời
Nam. Phan Huy Chú (1782 – 1840) khen thơ của Đoàn Nguyễn Thục thì “phong nhã, điêu luyện,
thanh tao, phóng khoáng”. Những nhà thơ nổi tiếng thời Lê trung hưng như Phùng Khắc Khoan,
Nguyễn Tông Khuê, Nguyễn Kiều, Nguyễn Huy Oánh, Hồ Só Đống, Lê Q Đôn… đều là những
đại gia trong làng văn. Thời Tây Sơn, thơ đi sứ của Đoàn Nguyễn Tuấn, Ngô Thì Nhậm, Phan
Huy Ích, Võ Huy Tấn… thường thấm đẫm khí thế chiến thắng giặc thù, tự tin tự hào… Bấy lâu,
chất ngọc ấy bò lớp bụi vô hình của thời gian phủ mờ. Rọi lại trong văn học dân tộc, dòng văn
học bang giao, đi sứ dường như đã bò lãng quên trong các bộ sách lòch sử văn học Việt Nam.
Thực tế cũng có một số học giả đề cập đến. Song các bài viết ấy dường như chưa có một phác
thảo chung về diện mạo mà chỉ mới hướng tới một mặt, một vấn đề nào đó. Để nền văn học dân
tộc được toàn bích, thiển nghó việc tìm hiểu dòng thơ bang giao trung đại rất cần thiết đối với
thế hệ hôm nay.
Mặt khác, bang giao từ xưa đến nay luôn là một phương diện quan trọng đối với sự an
nguy, tồn vong, phát triển của một quốc gia. Thời đại hôm nay là thời đại của giao lưu, hoà nhập
khu vực và thế giới. Ngoài học vấn uyên bác, có văn tài, các vò sứ thần Đại Việt còn là những
người giỏi về ứng xử, có cốt cách và dũng khí. Việc tìm hiểu thơ bang giao chính là sự tích luỹ
cho mình những bài học ngoại giao khéo léo, tài tình cũng như tâm huyết và khí phách hào hùng
từ cha ông.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Thơ bang giao không kém về chất lượng, số lượng tác giả, thi tập, tác phẩm so với các bộ
phận thơ khác. Theo bước đầu tìm hiểu của nhóm biên soạn tập Thơ đi sứ thuộc Viện Hán Nôm
nhiều mặt của thơ bang giao: khái quát những đặc điểm chủ yếu của các giai đoạn thơ bang
giao; điểm qua những nội dung của thơ bang giao; vài nhận xét rất tinh tế về nghệ thuật: “Thơ đi
sứ nhiều bài có tứ thơ cao lời thơ lạ, cảm hứng thanh thoát đẹp đẽ thoát ra khỏi khuôn sáo”, “đi
sâu vào dòng thơ ấy, chúng ta sẽ thấy cái phong phú của hình thức nghệ thuật, tính nhiều vẻ của
phong cách, tính sáng tạo qua những đề tài cổ điển.”. Tuy vậy, với tính chất là một Lời giới thiệu
cho tập thơ nên bài viết chỉ dừng ở mức độ khái quát, gợi mở chưa phải là một công trình nghiên
cứu lớn hoàn chỉnh.
Ngoài ra, còn có một số bài nghiên cứu mà nội dung liên quan ít nhiều đến thơ bang giao
như:
Văn chương Bùi Văn Dò của Nguyễn Đình Chú đăng trong Tạp chí Văn học, số 8-1996.
Sứ thần Việt Nam Cao Bá Quát và nhận thức của ông qua chuyến đi công cán vùng Hạ
Châu của Claudine và Tạ Trọng Hiệp đăng trong Tạp chí Nghiên cứu lòch sư,û số 5-1996 và số 11997.
Góp thêm vài điểm về Nguyễn Trung Ngạn và cuốn Giới hiên thi tập của Hoàng Hiệu
đăng trong Tạp chí Văn học, số 4-1975.
Thơ Phạm Sư Mạnh của Hoàng Lê đăng trong Tạp chí Văn học, số 2-1973.
Một vài nét về Đoàn Nguyễn Tuấn qua Hải ông thi tập của Nguyễn Tuấn Lương đăng
trong Tạp chí Văn học, số 2-1978.
Nguyễn Tông Quai, sứ giả nhà thơ nổi tiếng thế kỷ XVIII của Bùi Duy Tân đăng trong
Tạp chí Văn học, số 6-1993.
Lạng Sơn trong hành trình thơ đi sứ của Trần Thò Băng Thanh đăng trong Tạp chí Văn
học, số 11-1996.
…..
Nhìn chung, các bài nghiên cứu về thơ bang giao chưa nhiều lắm và dường như còn đang
bỏ ngõ. Bài giới thiệu của tập Thơ đi sứ là đáng chú ý hơn cả vì tính chất bao quát và toàn diện
của nó. Còn lại các bài viết khác tuy chưa hoàn chỉnh nhưng vẫn là những bài viết có giá trò.
Những bài này đã gợi mở nhiều hướng đi, luận điểm, nội dung, có ý nghóa khoa học đối với mục
đích nghiên cứu của luận văn, là điểm tựa cho người viết luận văn đi đến đích. Vì thế, người
viết luận văn nghó rằng việc nghiên cứu đề tài Những thành tựu chủ yếu của thơ bang giao trung
nhưng khi thực hiện luận văn, người viết mở rộng thêm đối tượng tìm hiểu: bộ phận thơ tặng
tiễn sứ thần hoặc thơ đối đáp giữa các sứ thần nước ngoài với sứ thần nước ta và bộ phận thơ
của một số sứ thần đi công cán, hiệu lực nước ngoài. Hướng khảo sát này cũng phù hợp với
quan điểm của nhóm biên soạn tập Thơ đi sứ.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu giới hạn trong những vấn đề có liên quan đến thơ bang giao trung đại
Việt Nam, cụ thể gồm ba nội dung chính:
Hành trình lòch sử của thơ bang giao.
Những thành tựu chủ yếu về mặt nội dung.
Những thành tựu chủ yếu về mặt nghệ thuật.
4.3. Phương pháp nghiên cứu:
4.3.1. Phương pháp xã hội học:
Thơ bang giao là một bộ phận trong văn học trung đại Việt Nam và mang tính đặc trưng
của văn học trung đại: văn – sử bất phân. Hay nói cách khác, văn học quấn qt chặt chẽ với
điều kiện lòch sử và không ở đâu mối quan hệ văn học – lòch sử lại thể hiện rõ rệt hơn ở dòng
thơ bang giao. Nhờ phương pháp này, ta có thể nhận ra được các giai đoạn thơ bang giao: thời
Trần, thời Lê – Tây Sơn, thời Nguyễn tuy có những điểm chung nhưng giữa chúng vẫn có những
điểm dò biệt. Điều này chủ yếu do hoàn cảnh lòch sử, thời đại quy đònh.
4.3.2. Phương pháp loại hình:
Thơ bang giao nói riêng và thơ ca trong văn học trung đại nói chung, phần lớn các tác giả
dùng chữ Hán hay chữ Nôm làm phương tiện sáng tác và đều sử dụng thể thơ Đường luật. Vì
thế, phương pháp khảo sát, phân tích thơ bang giao không giống cách phân tích tìm hiểu thơ hiện
đại. Người viết sử dụng phương pháp loại hình để thấy được đặc trưng của thơ bang giao là sử
dụng thể thơ Đường luật cổ kính trang nghiêm.
4.3.3. Phương pháp cấu trúc – hệ thống:
Ngoài những quan hệ hướng ngoại, tác phẩm văn học luôn tồn tại quan hệ hướng nội: quan
hệ giữa các yếu tố trong một chỉnh thể nghệ thuật. Mặt khác, thơ bang giao là một bộ phận của
1.1. Khái niệm thơ bang giao:
Văn học viết từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX chiếm một số lượng lớn là các thi tập lấy đề tài
từ lónh vực ngoại giao với các tên bắt đầu bằng Hoa trình 華程 như Hoa trình khiển hứng
華程遣興 của Hồ Só Đống 胡士棟 (1739 – 1785), Hoa trình ngẫu bút lục 華程偶筆錄 của Lê
Quang Viện, Hoa trình thi tập 華程詩集 của Nguyễn Gia Cát, Hoa trình tiêu khiển tập
華程消遣 của Nguyễn Đề, Hoa trình tục ngâm 華程俗吟 của Phan Huy Chú (1782 – 1840)
hoặc Sứ trình 使程 như Sứ trình chỉ lược thảo, Sứ trình đồ bản của Lý Văn Phức李文馥 (1785 –
1849), Sứ trình tân truyện của Nguyễn Tông Khuê, Sứ trình thi tập 使程詩集 của Phan Thanh
Giản 潘清簡 (1796 – 1867), Sứ trình vạn lý tập 使程萬里集 của Nguyễn Văn Siêu, Sứ trình yếu
thoại khúc của Bùi Quỹ… Đó là loại thơ do các sứ thần sáng tác trong khi đi sứ, phản ánh hoạt
động quan trọng trong lòch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.
Bên cạnh đó, thơ bang giao còn bao gồm cả bộ phận thơ tặng tiễn sứ thần nước ngoài của
vua quan và sứ thần đời Trần như: Tống Bắc sứ Trương Hiển Khanh của Trần Thái Tông, Tống
Bắc sứ Lý Trọng Tân của Trần Nhân Tông, Tống Bắc sứ Ngưu Lượng của Trần Nghệ Tông, Tống
Sài Nghiêm Khanh của Trần Quang Khải… hoặc thơ đối đáp với các sứ thần nước ngoài như Đáp
Kiều Nguyên Lãng vận của Trần Nhân Tông, Hoạ Minh quốc sứ Dư Quý, Hoạ Minh sứ Nhò Hà
dòch của Phạm Sư Mạnh… và cả những bài thơ của một số nhân vật đi công cán, hiệu lực nước
ngoài chứ không phải làm trên đường đi sứ dưới triều Nguyễn như Cao Bá Quát đi Indonésia,
Hà Tông Quyền 何宗權 (1798 – 1839) đi Nam Dương.
Đề tài thơ bang giao rất phong phú: tình yêu đất nước, tả cảnh, vònh sử, hoài cảm về quê
hương, nỗi buồn u ẩn… Đề tài không mới nhưng đi sâu vào nội dung của từng đề tài thì thơ bang
giao vẫn có nét đặc thù. Chẳng hạn, nói về niềm tự hào dân tộc thì loại thơ nào cũng có nhưng
trong thơ bang giao vì được nảy sinh trong hoàn cảnh đặc biệt nên nội dung cũng khác biệt. Đi
sứ là dòp để các sứ thần thực hiện một cuộc đấu tranh về văn hoá hay một cuộc biểu dương văn
hoá. Việc ứng đối và thù tạc trong bang giao đã trở thành vấn đề hết sức hệ trọng, không thể
xem thường. Khi đứng trước sân rồng Bắc quốc uy nghi cũng là lúc mà trí tuệ và bản lónh của
người đi sứ được thăng hoa cao nhất và vì thế, niềm tự hào dân tộc được biểu hiện trên nhiều
bình diện khác nhau, sáng tạo và linh hoạt.
sai Lý Giác sang nước ta. Vua Lê Đại Hành biết Lý Giác là người giỏi văn thơ nên đã sai sư Đỗ
Pháp Thuận giả làm người chèo đò ra đón sứ Lý Giác. Sư Đỗ Pháp Thuận cùng Lý Giác ngâm
bài thơ Vònh Nga. Cũng năm ấy, vua sai Khuông Việt đại sư làm bài thơ tiễn chân Lý Giác.
Nhưng đấy chỉ là truyền thuyết, là giai thoại dân gian. Thực sự chỉ từ sau cuộc kháng chiến
chống Nguyên Mông lần thứ nhất, nước Đại Việt bước vào giai đoạn quan hệ ngoại giao khó
khăn và phức tạp trong suốt hai mươi sáu năm (từ 1258 đến 1284). Trong thời gian đó, Đại Việt
cử đi khoảng ba mươi đoàn, sứ Mông Cổ sang nước ta khoảng ba mươi lăm đoàn, có năm vua
Trần cử hai đoàn sang, sứ Mông Cổ sang ba đoàn dồn dập. Như vậy, có thể nói từ thời Trần việc
đi sứ và đón tiễn sứ thần phương Bắc diễn ra thường xuyên hơn và một khối lượng lớn thơ đi sứ,
thơ tặng tiễn các sứ thần xuất hiện. Và thơ bang giao trung đại được tính từ đây. Mãi đến khi
Nguyễn Ánh lên ngôi và các vua kế vò vẫn đều đặn cử các sứ bộ sang triều Thanh. Đến năm
1853 thì tạm ngưng do quân Thái Bình Thiên Quốc chiếm các tỉnh Hoa Nam đường đi bò cắt đứt.
Đến năm 1868, việc bang giao mới bình thường trở lại và đến năm 1884 nước Việt Nam trở
thành thuộc đòa của Pháp mất hết chủ quyền độc lập. Triều đình chỉ là bù nhìn, mọi việc bang
giao đều do thực dân Pháp quyết đònh, không còn các sứ bộ ngoại giao nữa. Như vậy, trong
mười thế kỷ trung đại, việc bang giao chính thức được thiết lập từ thời Trần (1258) đến cuối
triều Nguyễn (1884). Căn cứ vào mốc thời gian đó, thơ bang giao có thể tạm chia làm 3 giai
đoạn:
Thơ bang giao thời Trần.
Thơ bang giao thời Lê – Tây Sơn.
Thơ bang giao thời Nguyễn.
1.2.1. Thơ bang giao thời Trần (thế kỷ XIII đến thế kỷ XIV).
Trong lòch sử ngoại giao giữa nước ta và Trung Quốc, cuộc bang giao giữa nhà Trần và
nhà Nguyên là giai đoạn đặc biệt khó khăn phức tạp. Tồn tại bên cạn h một nước lớn luôn tìm
cách xâm chiếm và đô hộ nước ta nên chính sách đối ngoại của các triều đại phong kiến Việt
Nam phải mềm dẻo, khôn khéo ngay từ khi lập quốc. Một mặt phải luôn giữ gìn độc lập, chủ
quyền dân tộc; mặt khác phải nhún nhường để giữ vững hoà bình. Vì vậy, từ vua Trần cho đến
các sứ thần Đại Việt đón tiếp sứ thần Mông Cổ hay đi sứ sang Mông Cổ đều tuân thủ những
là bài Bắc sứ đăng Hoàng Lâu tẩu bút thò Đại Nguyên thò độc Dư Tân Gia. Bài thơ này Phạm Sư
Mạnh phóng bút viết khi lên Hoàng Lâu để đưa cho quan thò giảng nhà Nguyên là Dư Tân Gia
xem. Trước thiên nhiên hùng vó, trước những di tích về các nhân vật cự phách văn võ một thời
và trước quan của thượng quốc, ông vẫn hiên ngang tự khẳng đònh vò trí, nhân cách cá nhân
mình, tư thế đại diện quốc gia của mình. Tứ thơ thật hào hùng, sâu sắc:
Ngã gia viễn tại Giao Nam đầu,
Thủ trì ngọc tiết đăng Hoàng lâu.
Ma sa thạch khắc Pha công tự,
Như kim bất phụ bình sinh du.
(Bắc sứ đăng Hoàng Lâu tẩu bút thò Đại Nguyên thò độc Dư Tân Gia)
(Nhà ta xa tận đầu đất Giao Nam
Tay cầm tiết ngọc lên lầu Hoàng.
Tay sờ chữ Tô Đông Pha,
Như ta nay chẳng phụ chí du lòch bình sinh.)
Nói về thơ bang giao đời Trần phải nói đến những vần thơ tiếp sứ của dòng dõi vua Trần.
Đây đều là những vần thơ đẹp. Bằng phong độ lòch thiệp, tao nhã và lời thơ xướng hoạ tống tiễn
của nước nhỏ đối với thượng quốc, bài thơ đã khẳng đònh chủ quyền, truyền thống văn hoá dân
tộc mình một cách rất tế nhò như Đáp Kiều Nguyên Lãng vận (Trần Nhân Tông), Tống Bắc sứ
Ngưu Lượng (Trần Nghệ Tông), Tống Sài Nghiêm Khanh (Trần Quang Khải)… Trong đó, người
đọc không quên bài thơ chứa đựng hàm ý sâu xa lý thú, ý tại ngôn ngoại của vò tướng – vò anh
hùng dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông:
Nhất đàm tiếu khoảng, ta phân duệ,
Cộng xướng thù gian, tích đối sàng.
Vò thẩm hà thời trùng đòch diện,
Ân cần ác thủ tự huyên lương.
(Tống Sài Nghiêm Khanh - Trần Quang Khải)
(Vừa chốc lát nói cười, đã than thở dứt áo ra đi!
Trong cuộc ngâm nga thù xướng, tiếc khi giường đối diện nhau.
Quy kỳ hữu hạnh toàn quân mệnh,
Trung hiếu sơ tâm thỉ mỹ tha.
(Bắc sứ thuật hoài – Nguyễn Quý Đức)
(Khi về may mắn làm tròn sứ mệnh nhà vua
Trung hiếu niềm xưa thề không đổi khác.)
Phụng mệnh hoàng hoa thượng thận chiên,
Bất từ nan sự sự xu tiên.
(Quá quan thư hoài - Trần Lô)
(Vâng mệnh vua đi sứ, phải rất thận trọng,
Việc khó không dám từ mà còn tranh làm trước mọi người.)
Dù đất khách là nơi phồn hoa đô thò, cảnh sắc say đắm lòng người nhưng tấm lòng lữ
khách luôn tróu nặng hướng về Nam với một ước muốn một khát vọng được trở về nhà khi hoàn
thành sứ mệnh vua giao:
Bắc Nam kim khánh nhất gia đồng,
Vạn lý quan hà sứ đạo thông.
(Nam sứ lưu đề – Phùng Khắc Khoan)
(Nay mừng Nam Bắc chung một nhà
Quan hà muôn dặm đường sứ lưu thông.)
Tình ý trên trở đi trở lại trong nhiều bài thơ của Phùng Khắc Khoan 馮克寬 (1528 – 1613)
(Nam sứ lưu đề, Quá quan), Nguyễn Quý Đức (Động đình tứ sắc, Bắc sứ thuật hoài), Nguyễn
Tiến Sách (Đăng chu), Nguyễn Kiều (Giang châu lữ khách), Nguyễn Tông Khuê (Lạng thành
hình thắng, Quá quan tự thuật), Nguyễn Huy Oánh (Quá La sơn phố cảm tác), Đoàn Nguyễn
Thục (Hồi quá Dương châu tái du)…
Thời Lê trung hưng, thơ bang giao là một hiện tượng văn học nổi bật với khối lượng lớn và
nhiều nhà thơ nổi tiếng: Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Công Hãng, Nguyễn Kiều, Nguyễn Quý
Đức, Nguyễn Tiến Sách, Đặng Đình Tướng, Nguyễn Tông Khuê, Nguyễn Huy Oánh, Hồ Só Đống...
Mỗi tác giả thời trung hưng đã đem lại những tìm tòi sáng tạo riêng, có nhiều đóng góp quý giá
đáng trân trọng. Trong đó phải kể đến nhà bác học, nhà văn hoá, nhà thơ Lê Quý Đôn 黎貴惇
hoa triêu, Hà Nam lộ trung lập thu, Hồ Nam đạo trung chu hành tạp vònh, Sứ bộ xuất Nam quan
hồi quốc khẩu chiếm…). Tinh thần yêu nước, niềm tự hào dân tộc cũng được bộc lộ sâu đậm
trong thơ bang giao thời Nguyễn như Sứ bộ xuất Nam quan hồi quốc khẩu chiếm (Trònh Hoài
Đức); Đề lầu Hoàng Hạc, Dạ Điểu, Phong tục ngâm, Đáp Cát Ngạn Anh tặng thi (Ngô Thì Vò);
Hồng Mao hoả thuyền ca (Cao Bá Quát); Lạng Sơn đạo trung (Nguyễn Văn Siêu); Để Hà Nội
(Bùi Dò)…Nhưng đến đây, thơ bang giao đã có những bước chuyển mới hẳn. Thời Nguyễn là một
giai đoạn, một triều đại phong kiến phản động, mục nát trong lòch sử Việt Nam. Vì thế, thơ
bang giao thời Nguyễn vang lên tiếng nói tố cáo hiện thực. Trên đường đi sứ hoặc khi ở Bắc
quốc, ngoài việc miêu tả những di tích thắng cảnh các sứ thần cũng không quên phản ánh xã hội
lầm than. Họ cảm thông với tình trạng đau khổ của lớp người nghèo dưới đáy xã hội. Ngoài bản
cáo trạng độc đáo Đoạn trường tân thanh, Nguyễn Du vẫn sử dụng ngòi bút sắc bén để khắc hoạ
những cảnh sống bi đát trong Bắc hành tạp lục – tập thơ đi sứ của ông. Nguyễn Văn Siêu cũng
thường dựng lại ở những cảnh sống đau khổ: Nguy cơ chết đói của dân chúng Ba Lăng, Lưỡng
Hồ rất đáng thương:
Trường đoạn Ba Lăng khất thực ca,
Lưỡng Hồ bách tính tại phong ba.
Quân Sơn thượng hữu trường sinh tửu,
Sổ túc như châu khả nại hà!
(Ba Lăng ca giả duyên lưu vãng lai văn chi cảm hoài – Nguyễn Văn Siêu)
(Nghe tiếng hát người ăn xin ở Ba Lăng cảm động đứt ruột,
Dân chúng Lưỡng Hồ đang trong cơn sóng gió.
Trên núi Quân Sơn còn có rượu trường sinh,
Nhưng thóc nước Sở đắt như hạt châu thì biết làm sao?)
Bùi Dò cũng thốt lên những lời than vãn thay vì ca ngợi thượng quốc. Bài thơ dài Hoàng
Hà cơ dân dục tử hành nói chuyện dân bán con tại vùng sông Hoàng Hà. Lời thơ có cái nhìn đau
xót. Mặt khác, các nhà thơ đi sứ cũng đã lớn tiếng lên án xã hội phong kiến thối nát bên ấy. Đó
là những đám quan liêu miệng ăn thòt người, đè đầu cưỡi cổ dân nghèo ( Phản chiêu hồn của
Nguyễn Du), là cảnh bọn quan lại kéo vây cánh, hối lộ, cầu cạnh, ức hiếp người (Phong tục
các quan lại đòa phương ra đón, làm thơ thù tạc với các quan lại trong triều, làm thơ mừng chúc
thọ vua, làm thơ đi đón tiếp sứ thần nước ngoài, làm thơ tiễn biệt… Biết làm thơ là một biểu hiện
của thần dân một nước có văn hiến. Việc làm thơ của các sứ thần thì có lẽ không lấy gì làm khó
khăn vì các sứ thần đều là những người đỗ đại khoa và vì thế lực lượng sáng tác thơ bang giao
rất phong phú. Đáng kể nhất trong lực lượng sáng tác là Nguyễn Trung Ngạn 阮忠彥 (1289 –
1370), Phạm Sư Mạnh 范師孟, Đỗ Cận 杜覲, Giáp Hải, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan,
Nguyễn Quý Đức 阮貴德 (1648 – 1730), Nguyễn Tông Khuê, Nguyễn Kiều, Đinh Nho Hoàn, Lê
Quý Đôn, Nguyễn Huy Oánh, Hồ Só Đống 胡士棟 (1739 – 1785), Đoàn Nguyễn Tuấn, Ngô Thì
Nhậm, Nguyễn Đề, Phan Huy Ích, Trònh Hoài Đức 鄭懷德 (1765 – 1825), Ngô Nhân Tónh, Lê
Quang Đònh 黎光定 (1760 – 1813), Ngô Thì Vò, Nguyễn Du 阮攸 (1765 – 1820), Phan Huy Chú
(1782 – 1840), Nguyễn Văn Siêu 阮文超 (1799 – 1872), Cao Bá Quát 高伯适 (? – 1854)…
Một điều hết sức thú vò trong lực lượng sáng tác thơ bang giao là ngoài các sứ thần vốn là
thi só vừa kể trên còn có cả vua, tướng lónh cũng là những thi só. Họ đã làm nên những vần thơ
thù tiếp và tống tiễn được các sứ thần phương Bắc hết lời khen ngợi và cảm phục. Đó là những