Tiểu luận :NHỮNG THÀNH TỰU CỦA NỀN VĂN MINH TRUNG QUỐC doc - Pdf 11

Lịch sử văn minh thế giới

Nhóm Glory 1

Tiểu luận NHỮNG THÀNH TỰU CỦA NỀN
VĂN MINH TRUNG QUỐC.


ảnh hưởng đến các dân tộc châu Á,mà còn có những đóng góp lớn cho tiến trình phát
triển của văn minh loài người.Những phát minh lớn của Trung Quốc trong lịch sử
khoa học -kĩ thuật của thế giới.những phát minh đó đã làm thay đổi bộ mặt thế
giới,loại thứ nhất trên bình diện văn học , loại thứ hai trên bình diện chiến tranh, loại
thứ ba trên bình diện hàng hải…
Từ một nước nghèo nàn ,lạc hậu thì Trung Quốc đã phấn đấu đi lên thành một
nước có chỉ số phát triển đầu người cao nhất thế giới. Chính trị từ khủng hoảng đến
ổn định.
Những đóng góp của văn minh Trung Quốc cho nhân loại là rất lớn,chúng ta
không thể phủ nhận nó.Thực tế đã cho thấy điều đó.
Ảnh của nền văn minh Trung Quốc là rất lớn,trong đó không thể ngoại trừ Việt
Nam.Việt Nam cần học tập con người Trung Quốc về sự nhạy bén với thời cuộc,sáng
tạo hơn nữa trong các lĩnh vực.
Với những thành tựu đó,ngừơi Trung Quốc hoàn toàn có thể ngẩng cao đầu
trên trường quốc tế,ngừơi Trung Quốc có thể tự hào về con ngừơi và đất nước
mình.Trung Quốc xứng đáng để cả thế giới ngưỡng mộ và học tập.
Lịch sử văn minh thế giới

Nhóm Glory 3

Thư pháp

NHỮNG THÀNH TỰU CỦA NỀN VĂN MINH TRUNG QUỐC.
1/Chữ viết
Cũng giống như các quốc gia khác, ban đầu phương tiện giao tiếp chủ yếu để
biểu đạt tình cảm, truyền đạt tin tức, trao đổi kiến thức và kinh nghiệm của người
Trung Quốc cổ xưa là cách truyền miệng vào các thời trước thời Hoàng Đế.
Đến thời Hoàng Đế người ta đã kết dây thừng (thắt dây), tức là dùng dây thắt
nút để ghi nhớ điều gì đó. Việc lớn thì thắt nút lớn,
việc nhỏ thì thắt nút nhỏ. Đây là một phương pháp sơ

đó là giai đoạn quá độ để phát triển thành chữ chân tức là chữ Hán
ngày nay.
Chữ giáp cốt

Lịch sử văn minh thế giới

Nhóm Glory 4

Chữ Hán đã nhiều lần cải tiến từ chữ tượng hình thành chữ phù hiệu làm nó
thoát li đồ họa thành văn tự, từ nét không đều hoặc cong queo thành nét đều tròn, từ
hình chữ không có định thành cố định, từ kết cấu phức tạp thành đơn giản. Không chỉ
dừng lại ở đó, do xuất phát từ yêu cầu tìm tòi nghệ thuật mà chữ hán đã trở thành một
mĩ thuật biểu cảm dân tộc, thể hiện tâm tư và nguyện vọng của con người, có tác
dụng thẩm mỉ và giá trị mĩ học cao.Thư pháp Trung Quốc thật sự thu hút sự chú ý
của loài người. Chữ Trung Quốc đã có lúc trở thành “ Quốc gia văn tự” đối với các
nước Đông Á và Việt Nam.
Ra đời từ thiên nhiên kỉ thứ II tr CN, chữ viết Trung Quốc là hệ chữ duy nhất
hiện còn được sử dụng và ngày càng đổi mới để đáp ứng nhu cầu cuộc sống ngày
nay.

2.Văn học

Văn học là lĩnh vực phát triển từ rất sớm ở Trung Quốc,Trung Quốc có một
nền văn học rất phong phú. Từ thời Xuân Thu Chiến Quốc , văn học Trung Quốc đã
bắt đầu phát triển. Đến thời Tây Hán tư tưởng Nho gia được đề cao. Đến thời Tùy
Đường chế độ khoa cử bắt đầu ra đời, trong đó văn chương trở thành thước đo chủ
yếu của tài năng; do đó văn học Trung Quốc càng có nhiều thành tựu lớn lao. Văn
học Trung Quốc thời kì này có nhiều thể loại như thơ ,từ, phú, kịch, tiểu
thuyết,….trong đó tiêu biểu nhất là kinh thi thơ Đường và tiểu thuyết Minh Thanh.
a/ Kinh thi

tính cao ngạo, coi thường quyền quý, lớn tiếng đã kích các thế lực phong kiến đen
tối,….Nhưng bên cạnh những áng thơ kinh điển, ông cũng có những bài thơ “ đắm
mình “ trong rượi và thoát tục du tiên. Dặc điểm nghệ thuật : thơ Lý Bạch đẹp, hào
hùng, bút thế linh hoạt. Ông đã lại trên 1200 bài thơ, tiêu biểu nhất là bài : hàn lộ
nan, xa ngắm thác núi lư, mộng du thiên mu ngâm lưu biệt,….
Đỗ Phủ (712-770) tự Tử Mỹ, hiệu Thiếu Lăng Dã Lão, tổ tiên người Tương
Dương ( Hồ Bắc). Ông sinh ra ở huyện Cũng( Hà Nam) trong một gia đình quan lại
nhỏ sa sút. Ông đi thi nhiều lần nhưng không đỗ, 40 tuổi mới làm chức quan nhỏ
trong 7 năm. Ông sống trong thời đại mà xã hội thời Đường đi từ thịnh đến suy. Thơ
Đỗ Phủ phản ánh chân thực các mặt đời sống trước và sau loạn An Sử, chan chứa
lòng yêu thương tổ quốc và tình cảm nồng hậu với nhân dân. Đỗ Phủ là nhà thơ hiện
thực vĩ đại trong lịch sữ văn học Trung Quốc. Bên cạnh nội dung tư tưởng sâu sắc, là
nghệ thuật biểu hiện siêu phàm, ảnh hưởng rất lớn nđến sự phát triển thơ ca sau này.
Trong số 1400 bài thơ truyền đời của ông, tiêu biểu nhất là các tác phẩm : Phó
Phụng Tiên huyện Vinh Hoài, NGũ bách tự, Bắc chinh, Thạch Hào lại (Viên lại ở
Thạch Hào)…
Lý Bạch và Đỗ Phủ được ví như hai ngôi sao sáng chói trên thi đàn cổ điển
Trung Quốc.
Bạch Cư Dị (772-846) tự Lạc Thiên, quê Hạ Khuê (Thiểm Tây), xuất thân
trong một gia đình quan lại, đậu tiến sĩ làm quan to trong triều, sau bị giáng chức
xuống làm Tư Mã Giang Châu. Ông là người đề xướng dùng thể tân nhạc để viết
những đề tài mới về thời sự. Bạch Cư Dị chủ trương thơ ca phải phản ánh nổi thống
khổ của nhân dân, đồng thời vạch trần cuộc sống hoang dâm và nền chính tị lừa bịp
của giai cấp thống tri…Số lượng thơ ông khá nhiều: 2800 bài, tiêu biểu là các bài
Mại tháng ông, Khinh phì , Thượng Dương bạch phát nhân. Đỉnh cao của thơ Bạch
Cư Dị là hai bài Trường hận ca và Tùy bà hành.

c/ Tiểu thuyết thời Minh,Thanh.
Thời Minh, Thanh đả ra đời một loạt những tiểu thuyết tiếng tăm bất hủ. Dựa
vào các câu chuyện lưu truyền trong dân gian, các nhà văn đã viết thành tiểu thuyết

Từ đầu nhà Thanh đến những năm cuối đời vua Càn Long là thời kì tiểu thuyết
cực thịnh. Tiêu biểu có các tác phẩm Liêu trai chí dị, Thủy Hử hậu truyện, Tỉnh thế
nhân duyên truyện, Nho lâm ngoại sử, Hồng lâu mộng.
Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh (1640-1715) là tập đoãn thiên tiểu thuyết có
490 truyện chia làm 4 loại…Tác giả đã mượn chuyện Hồ Ly Ma Quái để chỉ không
khí hiện thực hắc ám đương thời, bày tỏ tình nhân thế thái. Tác phẩm này đạt đỉnh
cao của đoản thiên tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc
Nho lâm ngoại sử của Ngô Kính Tử (1705-1754) là bộ tiểu thuyết châm biếm
nhằm đã kích nền luân lý phong kiến thời cổ và chế độ khoa cử thời đó
Hồng lâu mộng do Tào Tuyết Cần và Cao Ngạc sáng tác đã miêu tả cảnh
hưng suy của một gia đình phong kiến và chuyên tình của đôi nam nữ Giả Bảo Ngọc-
Lâm Đại Ngọc. Tác phẩm khắc họa rõ nết bộ mặt phong kiến Trung Quốc mạc kì,
phê phán chế độ thi cử, quan trường và lễ giáo phong kiến, nêu khác vọng tự do…Nó
có tác dụng chống lại ý thức hệ phong kiến. Hồng lâu mộng là tiểu thuyết có giá trị,
xứng đáng là một kiệt tác của nhân loại.

3/ Sử học
Một trong những đặt điểm của văn hóa cổ đại Trung Quốc là sử học rất phát
triển. Đây là một lĩnh vực đạt nhiều thành tựu to lớn. Dân tộc Trung Quốc có ý thức
cao về lịch sử và rất giàu kinh nghiệm trong biên soạn lịch sử. Chế độ sử quan chưa
hề gián đoạn, ghi chép lịch sử liên tục, phong phú về hình thức, đa dạng về thể loại.
Từ thời Tây Hán, sử học mới trở thành một lĩnh vực độc lập và ngày càng phát triển.
Th
ủy Hử

Lịch sử văn minh thế giới

Nhóm Glory 7

Người đặt nền móng cho sử học Trung Quốc là Tư Mã Thiên. Sau đây xin điểm qua

Kim sử được đánh giá cao…
Nhưng bộ sử có ảnh hưởng đời sau nhất là bộ Tư trị thông giám của Tư mã
Quang.
Lịch sử văn minh thế giới

Nhóm Glory 8

Tư Mã Quang ( 1019-1086) đã để ra 19 năm trời để soạn bộ thông sử theo thể
biên niên, khác với cách biên niên sử từng thời trước đó. Thực ra đây là một công
trình tập thể của Tư Mã Quang, Lưu Thư, Lưu Du và Phạm Tổ Ngu. Các tác giả đã
tham khảo nhiều loại tài liệu và ý kiến của 310 nhà viết tạp sử… Tư mã Quang là
người viết bản thảo cuối cùng. Bộ sách ghi từ thời chiến quốc ( 403 TCN) đến Ngũ
đại(959), tổng cộng là 354 cuốn ( kể cả 30 cuốn mục lục).
Thông giám ghi sự kiện lịch sử theo thứ tự thời gian với thư pháp truy
thuật(thuật lại) và chung ngôn (lời sau) để nói rõ nguyên nhân hậu quả của các sự
kiện. Cách ghi này dễ gây ấn tượng và có hệ thống rõ ràng. Đặc biệt Thông giám có
thái độ phê phán mê tín, tôn giáo…đây là tiến bộ quan trọng của tư tưởng sử học
Trung Quốc.
Tư trị thông giám có ảnh hưởng lớn, thúc đẩy việc viết sử theo kiểu biên niên.
Sau này, xuất hiện nhiều tác phẩm cùng loại như Tư trị thông giám Cương mục của
Chu Hy ( Nam Tống). Hồ Tam Tĩnh ( giữa Tống – Nguyên) chú giải Thông giám,
còn Vương Phu Chi ( giữa Minh – Thanh) bàn về Thông giám…Đã dẫn đến hình
thành cả một hệ thống “ Thông giám học” .
Thời Minh – Thanh các bộ sử lớn được biên soạn như Minh sử, Thanh thực
lục, Đại Thanh nhất thống trí, Tứ khố toàn thư…các bộ sách trên đều là nhưng di sản
văn hóa vô giá của nhân dân Trung Quốc
4.Nghệ thuật
Nghệ thuật Trung Quốc có một lịch sử lâu đời với phong cách dân tộc đậm đà
và đạt được những thành tựu huy hoàng.

Giai đoạn 3 (từ năm 907 đến 1368), đặc trưng của
giai đoạn này là hình thứ khéo léo tinh vi, nhà cửa, chùa
chiên, vườn tược đều được chú ý trang trí cẩn thận, xây
dựng công phu, công trình tiêu biểu là điện Mâu Ni ( Hà
Bắc), các tháp Xá Lợi, Tây Hạ ( Nam Kinh ), tháp chùa
Thiên Minh ( Bắc Kinh ), tháp Giang Thiên (Giang Tô );
giai đoạn 4 ( từ 1368 đến 1849 ) là giai đoạn kiến trúc
Đương - Tống được nâng lên một mức cao hơn, công
trình tiêu biểu là quần thể kiến trúc nổi tiếng Cố Cung,
Viên Minh viên.

Kiến trúc cổ đại Trung Quốc có đặc điểm là thường dùng vật liệu kết cấu bằng
gỗ, bố trí thành quần thể kiến trúc, ở giữa là sân, bốn phía là nhà vây lại, lấy gian nhà
làm đơn vị cơ bản. Cung điện, đền chùa, miếu mạo đều xây dựng theo một dạng như
vậy, chỉ khác về quy mô, kiểu dáng mà thôi. Gia công nghệ thuật ngay trên cấu kiện
của kiến trúc như tạo dáng hình cong với những phù điêu các con vật quý, tạo cho bộ
mặt kiến trúc Trung quốc một vẻ độc đáo. Sự bố trí các màu tong một bố cục tương
phản tôn tạo lẫn nhau, sự phản ánh đời sống tam linh của người Trung Quốc như:
lòng tin vào thánh thần, tôn thờ trời đất, thuyết Âm dương ngũ hành… đã ảnh hưởng
đến hình thức và nội dung các công trình kiến trúc cổ xưa, tạo nên đặc điểm trong
kiến trúc Trung Quốc.
Những công trình kiến trúc nổi tiếng :
CỐ CUNG
Thành Lạc Dương cổ Thành Đô Trung Quốc
Lịch sử văn minh thế giới

Nhóm Glory 10


năm 1421 đến 1911 ). Tử Cấm
Thành xây dựnh trên khu đát chữ
nhật rộng 7200000m, xung
quanh có tường cao 10m bao bọc, có
hào rộng 52m, ven tường 4 góc có 4
tháp canh, 4 mặt có các cửa: Ngọ
Môn. Thần Vũ, Đông Hoa, Tây Hoa.
Thành được xây từ thời Minh- Vĩnh
Lạc thứ 4 (1406), gồm hơn 1000 ngôi nhà và cung điện. Điện Thái Hoà là điện
lớn nhất, diên tích 3270 m, cao 36m, có 12.654 con rồng uốn lươn theo các tư
thế…Cách xây dựng Tử Cấm Thành tỏ rõ sự sáng tạo tài hoa của nhân dân
Trung Quốc.

Vạn Lý Trường Thành
Tử Cấm Thành
Lịch sử văn minh thế giới

Nhóm Glory 11

b/Điêu khắc
Nghệ thuật điêu khắc của Trung Quốc đã có từ lâu đời và chiếm địa vị khá đặc
biệt trong nền nghệ thuật nước này.
Cách đây 6000 năm, người Trung quốc dã biíet dùng ngọc để chế thành đố
trang sức để đeo trước cổ. đây là kĩ thuật ngọc điêu sớm nhất ở trung Quốc cung như
trên thế giới
Thuật điêu khắc đá ( thạch điêu )cũng có từ cuối
thời Thương. đến thời Tần, Hán, Đường, thạch điêu
khắc đạt được trình độ kĩ thuật cao, tiêu biểu là cặp
tượng “Tần Ngẫu” đời Tần, tượng danh tướng Hoắc
Khứ Bệnh chống Hung nô “ Mã đạp Hung nô” thời tây

đến nay vẫn được coi là mẫu mực về hoạ pháp. Hội hoạ phát triển, những tác phẩm
lý luận về hội hoạ cũng nối tiếp nhau ra đời. “ Lục pháp luận” của Tạ Hách nêu 6
Tượng Lạc Sơn Đại Phật
Lịch sử văn minh thế giới

Nhóm Glory 12

yêu cầu : thần vận, sinh động, cứng cáp, vẽ giống, tô màu đúng chỗ, bố cục đẹp;
trong đó thần vận, sinh đông, tức là biểu hiên ttrạng thái nhân vật là quan trọng nhất.
tác phẩm này là tổng kết kinh nghiệm sáng tác từ thời Hán về sau. Thời Tuỳ, Đường
hội hoạ vượt hẳn các triều đại trước, đạt dỉnh cao của nền hội hoạ Trung Quốc, đông
thời ảnh hưởng đến nền hội hoạ các nước phương đông.
Thời đường các hoạ gia vẽ người là chủ yếu. Ngô Đạo Tử, Diêm Lập Bản,
Trương Tyuên, Chu Phòng là các bậc thầy về môn này. Ngô đạo Tử vẽ hơn 300 bức
tranh ở vùng Trường An, Lạc Dương. Ông vẽ mỗi người mỗi vẻ, đường nét biến hoá,
màu sắc phong phú. Ông được khen là “ Bách hoạ đại gia”( Thánh hoạ trăm đời ).
Tranh sơn thuỷ kế thừa thời Nguỵ- Tấn nay thành một môn độc lập. Triển Tử
Kiền ( thời Tuỳ ) vẽ “ Du xuân đồ” là bức tranh hoa điểu sớm nhất, đạt đỉnh cao
trong thể loại này. Biên Loạn và Điêu Quang dân là hoạ gia vẽ tranh hoa điểu nổi
tiếng. Vương Duy được người sau tôn thờ là thuỷ tổ của thi, thư, hoạ, vì tranh của
ông “ thi trung hữu hoạ, hoạ trung hữu thi”( trong thơ có hoạ, trong hoạ có thơ)
Bích hoạ đời Đường hết sức thịnh vượng. Các động Mạc Cao, Đôn Hoàng còn
giữ được lại nhiều báu vật này.
Thời Minh- Thanh đề tài phần lớn là thiên nhiên. Tranh sơn thuỷ, mai, lan, trúc
thạch, hoa lá cỏ cây được thể hiện nhiều. Tác phẩm Khổ Qua hoà thượng hoạ ngũ lục
của Thạch Thọ là cuốn sách nói về lịch sử hội hoạ có ảnh hưỏng đến nền hội hoạ hoạ
thời sau.
5. Khoa học tự nhiên
a/ Toán học
Trung Quốc là nước biết sử dụng phép tính thập phân sớm nhất trên thế giới.

tinh tú như bộ Cam Thạch tinh kinh. Đây là quyển sách ghi chép về các hành tinh
sớm nhất thế giới, ghi được chừng 800 vì tinh tú, trong đó xác định vị trí 120 vì tinh
tú. Phải đến thế kỉ II TCN người Hi Lạp mới soạn được tinh biểu.
Thế kỉ VII TCN, người Trung Quốc đã biết dùng cọc đứng để đo bóng Mặt
Trời gọi là thổ khuê, từ đó họ xác định được ngày hạ chí, đông chí để tính lịch ngày
càng chính xác hơn. Kế thừa những thành tựu của người đi trươc, Trương Hành (78 -
139) thời Đông Hán đã nghiên cứu và biết rằng ánh sáng Mặt Trăng là do nhận của
Mặt Trời. Ông còn chế tạo ra mô hình thiên thể là Hồn thiên nghi và làm ra dụng cụ
đo động đất gọi là Địa động nghi có thể xác định nơi xỷ ra động đất cho dù ở rất xa
Ngay từ thời Ngũ Đế, người Trung Quốc đã biết làm lịch để phục vụ sản xuất
và đời sống. Qua nhiều lần điều chỉnh và sửa đổi, đến đời Hạ, lịch Mặt Trăng đã
tương đối hoàn chỉnh : năm bình thường 12 tháng, thánh đủ 30 ngày ( thiếu 29 ngày);
ăm nhuận 13 tháng, cứ 3 năm có một tháng nhuận, sau 5 năm lại có nhuận 2 lần. Vì
lịch này dựa vào sự vận hành của Mặt Trăng nên gọi là âm lịch, còn có tên là hạ lịch
vì dược dùng tư thời nhà Hạ. Đến nay Trung Quốc và Việt Nam vẫn còn dùng lịch
này song song với dương lịch. Thời Xuân Thu chia lịch ra làm 4 phần, một năm có 8
tiết là đông chí, hạ chí, xuân phân , thu phân, lập xuân, lập hạ, lập thu, lập đông, còn
quy định trong 19 năm có 7 tháng nhuận. Thời Tây Hán, Tư Mã Thiên cùng Xạ Tính
và Đặng Bình soạn ra Lịch Thái Sơ rất nổi tiếng. Lịch Thái sơ chỉ ra chu kì nhật thực
là 135 tháng, chia 1 năm ra 24 tiết, cách chia này có ý nghĩa quan trọng đối với sản
xuất nông nghiệp
Thời Nguyên, Quách Thủ Kính soạn ra Thụ thời lịch vào năm 1320. Đây là bộ
lịch chính xác nhất của Trung Quốc lúc đó. Một năm chia ra 365,2425 ngày; so với
công lịch công bố năm 1582 thì công lịch ra đời chậm hơn Thụ Thời lịch 300 năm.

c/ Y dược học
Đông y của Trung Quốc ra đời và phát triển trong quá trình thực tiễn và đạt
được nhiều thành tựu đáng khâm phục.
Lí luận về Đông y từ thời Chiến Quốc đã hình thành về cơ bản và được đúc kết
trong cuổn Hoàng đế Nội kinh. Pho sách này được các nhà Đông y từ xưa đến nay

biết được 844 loại dược liệu nhờ đọc cuốn Tân tu bổn thảo. Đây là cuốn từ điển dược
liệu sớm nhất Trung Quốc và thế giới do Nhà nước tổ chức soạn thảo. Đến năm
1082, một người nhà Tống là Đường Thuận Vi đã soạn ra cuốn Kinh sử chứng loại bị
cấp bổn thảo, giới thiệu 1700 loại dược liệu.
Nổi bật hơn là Bổn thảo cương mục của Lý Thời Trân ( thời Minh), gồm 52
cuốn, ghi 1892 loại dược liệu, 1162 bức tranh, cách chế 11096 loại thuốc. cuốn sách
đã phê phán và kế thừa tinh túy của các học thuyết về thuốc của các thời Tống,
Nguyên dồng thời giới thiệu những dược liệu mới như Tam thất, Man đà la, Đại
phong tử. Cuốn sách nổi tiếng này được dịch ra tiếng Latin và các thứ tiếng khác
năm 1659. Darwin coi Bổn thảo cương mục như một bộ sách Bách khoa toàn thư của
Trung quốc cổ đại.
6. Địa lý học
Tìm hiểu và viết sách địa lý cũng thu gút sự quan tâm của người trung Quốc từ
xa xưa. Trong lĩnh vực này họ đạt được những thành công đáng ghi nhận.
Về địa lí tự nhiên tiêu biểu nhất là Sơn Hải kinh viết cuối thời Xuân Thu, gồm
13 cuốn, chia 2 phần. Sách này lấy núi sông làm đối tượng nghiên cứu chính, phản
ánh quan niệm xưa của người Trung Quốc. Cuốn Vũ Cống được biên soạn thành sách
vào thời Chiến Quốc, Tập thượng có giá trị cao, là tư liệu nghiên cứu lịch sử dịa li
thời Tiên Tần, thu hút sự chú ý của nhiếu học giả.
Địa đồ học là ngành quan trọng và có từ lâu đời. Thời Chu đã có bản đồ nhưng
không bảo tồn được. Năm 1986, người ta phát hiện ở mộ Tần Thuỷ Hoàng, chôn năm
238 TCN, 7 tấm bản đồ được khắc trên gỗ; niên đại này sớm hơn niên đại tấm bản đồ
có sớm nhất thế giới từ thời đế quốc La Mã hơn 300 năm. Bùi Tú (224-271), người
Lịch sử văn minh thế giới

Nhóm Glory 15

nước Tấn được xem là người đầu tiên trong kịch sử Trung Quốc đã giới thiệu phương
pháp vẽ bản đồ, đặt nền móng cho khoa học bản đồ Trung Quốc. Thời Đường có Giả
Đam (730-805), thời tống có Thẩm Quát, các ông đã để lại những tác phẩm quý giá

công cụ. Đến thời Minh, Từ Quang Khải – nhà toán học thiên văn và là nhà nông học
hàng đầu – đã viết Nông chính toàn thư gồm 60 cuốn, phân ra làm 12 mục, trên 50
vạn chữ, bàn về nông bản, chế độ ruộng đất, việc nhà nông, thủy lợi…và những kiến
giải về việc nghiên cứu thuộc tính động thực vật, kỹ thuật trồng ghép cây ăn quả,
thuần hóa động thực vật…Nông chính toàn thư là tác phẩm đạt đỉnh cao nhất của nền
nông học cổ đại Trung Quốc.

8/ Bốn phát minh quan trọng
Trung Quốc là quê hương của nhiều phát minh kỹ thuật. Từ thế kỷ XVI đến
thế kỷ XI TCN, kỹ thuật luyện đồng đã được phổ biến và ngày càng phát triển. Từ
Lịch sử văn minh thế giới

Nhóm Glory 16

thế kỷ XI TCN, người Trung Quốc không chỉ nắm được kĩ thuật luyện sắt mà còn
tìm ra gang, luyện thép thành công, do đó đã thúc đẩy nhiều ngành nghề khác phát
triển theo…Nhưng tiêu biểu nhất là 4 phát minh thời Trung đại: thuốc nổ, kim chỉ
nam, giấy và nghề in.
- Thuốc nổ:
Thuốc nổ được người Trung Quốc gọi là “ Hỏa dược” (thuốc lửa). Đó là
hợp chất gồm lưu huỳnh, diêm tiêu và than trộn lẫn với nhau rồi đốt. Do ngẫu
nhiên mà các nhà luyện đan thời cổ đại phát hiện ra tính chất dễ cháy nổ của
hợp chất và đã ghi lại để người đời sau chú ý đề phòng.
Đầu thế kỷ X, “ Hỏa dược” được dùng làm vũ khí, đến thời Tống thì được
ứng dụng rộng rãi vào việc chế tạo các loại vũ khí thô sơ như tên lửa, cầu lửa,
đạn bay…làm cho hệ thống vũ khí và cả khoa học quân sự biến đổi hẳn.
Từ thế kỷ XIII về sau, thuốc súng được truyền sang phương Tây qua con
đường chinh phục Châu Âu của người Mông Cổ. Người Ả Rập học kỹ thuật
chế thuốc súng đầu tiên; các nguyên liệu được họ gọi là “ tuyết Trung Quốc”.
Ở châu Âu, phát huy các tác dụng to lớn. Về ý nghĩa của phát minh này, F.


truyền bá chữ viết, trao đổi tư tưởng và phổ biến kiến thức. Giấy được nhân
loại tiếp thu nhanh chóng ( thế kỷ II truyền sang Việt Nam, thế kỷ IV truyền
sang Triều Tiên…, năm 1690 sang Mỹ). Như vậy, Trung Quốc đã biết là ra
giấy trước châu Âu hàng nghìn năm.
- Nghề in:
Tiếp theo nghề làm giấy, nghề in được xem là một cuộc cách mạng lớn lao
của nhân đan Trung Quốc thời Cổ đại. Trước đó, họ đã có nghề truyền thống là
khắc vào đá. Khoảng thời Tùy, nghề in khắc bản xuất hiện, lúc đầu là khắc và
in tượng Phật, sau đó mới khắc in các loại sách khác. Cách in bàn bản khắc
mất nhiều công sức và thời gian nên nên người ta nghĩ ra cách in cải tiến . Đầu
thế kỷ XI, một người bình dân tên Tất Thăng (1041 - ?) đã phát minh ra cách
in chữ rời bằng đất sét nung, Thẩm Quát cungc thử in chữ rời bằng gỗ nhưng
không thành, nhưng sau đó, Vương Trinh đã thành công. Ngoài cách in chữ rời
bằng đất nung và gỗ, người ta tiếp tục cải tiến đúc chữ rời bằng thiếc ( thời
Nguyên), bằng đồng, chì ( thời Minh). Từ thời Đường, thuật in của Trung
Quốc đã truyền sang Nhật Bản, Triều Tiên, sau đó sang Ba Tư, Ả Rập, châu
Âu. Năm 1456, người Đức đã dùng chữ rời để in thành bản Thánh kinh…
Người Trung Quốc đã đi trước họ 400 năm trong lĩnh vực in ấn này.
Bốn phát minh trên có giá trị to lớn về mặt lịch sử phát triển khoa học kỹ
thuật của thế giới. Fraincis Bacon đã chỉ rõ: nghề in, thuốc súng, kim chỉ nam
– “ ba loại này đã thay đổi bộ mặt thế giới, loại thứ nhất trên bình diện văn
học, loại thứ hai trên bình diện chiến tranh, laoij thứ ba trên bình diện hàng
hải ” K.Marx cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của những phát minh đó đối
với sự ra đời của chủ nghĩa tư bản.

11/ Ảnh hưởng của nền văn minh Trung Quốc tới các nước và thế giới.

mạnh của dân tộc Trung Hoa, đồng thời nó đã trở thành một bộ phậncủa nền văn
minh nhân loại. Có ảnh hưởng sâu sắc, to lớn đến nền văn minh của các dân tộc khác
trên thế giới, đặc biệt là Việt Nam và các nước Đông Á.
Để góp phần hiệu quả và rõ hơn trong việc nghiên cứu về nền văn minh Trung
Quốc cổ trung đại nói chung và lịch sử văn minh nói riêng. Chúng em hy vọng thông
qua bài thảo luận này sẽ có cái nhìn toàn diện hơn và sâu sắc hơn. Một nền văn minh
rực rỡ và lượng kiến thức thì rất rộng nên trong quá trình làm bài nhóm không thể
tránh được những thiếu sót, nên mong cô và các bạn nhận xét và đóng góp ý kiến để
bài thảo luận được hoàn chỉnh hơn.

Lịch sử văn minh thế giới



LỜI KẾT Trang 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO Trang 18
LỜI NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN Trang 19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status