Trường Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh
Khoa Đào Tạo Sau Đại Học
Lớp Cao Học Quản Trị Kinh Doanh 2008 Môn Quản Trị Thay Đổi Bài dịch chương 13
N
N
h
h
ữ
ữ
n
n
g
gl
l
ý
ýt
t
h
u
á
át
t
r
r
ì
ì
n
n
h
h
t
t
h
h
a
a
y
yđ
t
ổ
ổc
c
h
h
ứ
ứ
c
c
dịch từ
HANDBOOK OF ORGANIZATIONAL CHANGE
AND INNOVATION
của
Marshall Scott Poole & Andrew H. Van de Ven Giảng viên: Ts. Nguyễn Hữu Lam
Ths. Trần Hồng Hải
Nhóm 11: Trần Ngọc Minh Sơn
Hứa Hoàng Oanh
Lê Bích Ngọc
ýt
t
h
h
u
u
y
y
ế
ế
t
tc
c
ủ
ủ
a
ac
c
á
á
c
yđ
đ
ổ
ổ
i
iv
v
à
àđ
đ
ổ
ổ
i
im
m
ớ
ớ
i
hình ảnh trong sự khai trí này, để phân biệt những dấu vết và những thay đổi từ đó tạo nên
hình thức của nó.
Cẩm nang này làm nổi bật một trạng thái muôn màu muôn vẻ đáng kinh ngạc của các
phương pháp tiếp cận để giải thích sự thay đổi và phát triển tổ chức, bao gồm các mô hình
giai đoạn, những quá trình tiến hóa, những nguyên mẫu tương tác, những căng thẳng biện
chứng và những mâu thuẫn, những cú xóc từ môi trường, những phân tích thể chế, các mô
hình những hệ thống đa cấp, và lý thuyết phức tạp. Trong vài trường hợp, hai hoặc nhiều
cơ chế sinh ra đó được kết hợp. Các lý thuyết và các mô hình được nhìn ở nhiều cấp độ
khác nhau của việc phân tích và một số cấp độ giao nhau. Nhưng đôi khi, ngay cả những
công thức phức tạp có vẻ quá giản đơn hóa và đem lại sự phát triển của chính các lý thuyết
phức tạp hơn. Làm thế nào chúng ta biết ý nghĩa sự đa dạng này của những khả năng trên
lý thuyết? Mục tiêu của chương này là cung cấp một khuôn khổ chung trả lời cho câu hỏi
này bằng cách mở rộng mô hình của chúng tôi trước đây về những lý thuyết thay đổi (Van
de Ven và Poole, 1995; Poole và Van de Ven, 1989/2001).
Thay vì đặt giả thuyết để qui định một lý thuyết như là lý thuyết tốt nhất về thay đổi hoặc
để suy ra một lý thuyết đơn tích hợp khái quát về sự thay đổi, chúng tôi tin rằng sẽ hiệu
quả hơn khi xem xét một loạt các lý thuyết và mô hình có thể được áp dụng để hiểu về sự
thay đổi và đổi mới. Theo Popper (1962) lập luận, khoa học hầu như có tiến bộ khi có mặt
một loạt các lý thuyết và các quan điểm. Theo Popper hình dung, trong một số trường hợp,
sẽ có cạnh tranh thay thế; trong khi ở những trường hợp khác, những thay thế sẽ có thể
tương thích và thậm chí bổ sung.
Những giải thích của các quá trình thay đổi trong các tổ chức thường phải bắc qua nhiều
hơn một cấp độ của các phân tích, liên quan đến nhiều người tham gia hay nhiều quan
điểm và nhiều cơ chế sinh ra năng động hợp nhất. Họ cũng phải đưa vào những đặc điểm
Trang 3
lợi ích của thay đổi tổ chức như sự phụ thuộc vào đường dẫn; sự ảnh hưởng mạnh mẽ mà
không kịp thở. Chúng tôi tin tưởng rằng trách nhiệm của các học giả cũng là hiểu biết và
giải quyết sự phức t ạp của thay đổi và đổi mới t ổ chức.
Trong khi các lĩnh vực như sinh học và vật lý đã phát triển mạnh mẽ các phương pháp tiếp
cận hiện tượng phức tạp, điều này chỉ vừa mới bắt đầu trong các nghiên cứu tổ chức (và
Trang 4
trong các ngành khoa học xã hội nói chung). Xu hướng này được minh họa bởi các cuộc
thảo luận của lý thuyết phức tạp (Anderson, 1999; Dooley, 2002; Olson và Eoyang, 2001;
Poole, Van de Ven, Dooley và Holmes, 2000), những động lực hệ thống (Sterman, 2000),
những động lực tiến hóa (Baum và McKelvey, 1999) và trước đó nó đã được phát triển bởi
những người theo trường phái lý thuyết các hệ thống (Katz và Kahn, 1978; Miller, 1978).
Đây cũng là điều hiển nhiên trong những chương của quyển sách này.
Trong các bài báo trước (Van de Ven và Poole, 1995; Poole và Van de Ven, 1989/2001),
chúng tôi đã trình bày một nền tảng cho lý thuyết về các quá trình phức tạp của thay đổi và
đổi mới tổ chức. Chúng tôi xác định bốn lý thuyết phân biệt quá trình: thuy ết vòng đời,
thuyết mục đích luận, thuyết biện chứng và thuyết tiến hóa. Mỗi lý thuyết dựa trên một cơ
chế sinh ra khác nhau hoặc động lực điều khiển quá trình thay đổi. Các quá trình thay đổi
phức tạp được tạo ra bởi sự tương tác của nhiều hơn một các lý thuyết quá trình này. Thật
vậy, rất ít các lý thuyết được áp dụng trong sự thay đổi, phát triển hoặc đổi mới đã được
xây dựng xung quanh một lý tưởng đơn lẻ, loại lý thuyết được định nghĩa bởi Van de Ven
và Poole (1995). Hầu hết liên quan đến hai lý thuyết hoặc nhiều hơn cùng vận hành với
nhau, ở các cấp độ khác nhau hoặc trong suốt những khoảng thời gian khác nhau. Trong
các bài báo trước đó của chúng tôi, chúng tôi mạo hiểm đề nghị một số gợi ý về cách các
loại động lực khác nhau có thể phù hợp với nhau trong các lý thuyết quá trình phức t ạp.
Trong chương này, chúng tôi cố gắng mở rộng khuôn khổ của chúng tôi khi chỉ rõ một
cách phức tạp hơn bằng cách nào mà các lý thuyết trái ngược của sự thay đổi có thể được
xây dựng bởi tập hợp các tương tác của các động lực thay đổi mà có thể vận hành ở các
cấp độ tổ chức khác nhau, các khoảng cách thời gian, và những cấp độ phụ thuộc lẫn nhau.
có thể kết hợp vai trò của lực lượng lao động trong thay đổi m à không làm giảm vai trò
với các điều khoản thuộc quan hệ nhân quả.
Một mô hình mở rộng của các lý thuyết của sự thay đổi và đổi mới
Hình 13.1 minh họa bốn loại lý thuyết lý tưởng được xác định bởi Van de Ven và Poole
(1995). Như các ô nhỏ của hình này minh họa, mỗi lý thuyết xem quá trình của phát triển
như là hé mở trong một tiến bộ khác nhau cơ bản của những sự kiện thay đổi, và như được
quản lý bởi một cơ chế sinh ra khác nhau hoặc động lực.
Theo bảng 13.1 phác thảo, các lý thuyết cũng có thể được phân biệt bằng cách: (1) bất kỳ
tình trạng kết thúc nào của quá trình cũng có thể được dự đoán từ đầu, (2) nếu đường dẫn
của sự phát triển được định trước, (3) nếu quá trình là hội tụ hay phân kỳ, và (4) nếu thời
gian là dựa trên các sự kiện hoặc các chu kỳ. Các biến thể của từng lý thuyết cơ bản cũng
sẽ được thảo luận.
Trang 6 Hình 13.1 mô hình của các lý thuyết của sự thay đổi và đổi mới. Lưu ý: mũi tên trên các tuyến đại
diện cho chuỗi các sự kiện, khôn g phải quan hệ nhân quả giữa các sự kiện. Nguồn: Van de Ven và
Poole (1995). Trang 7 Bảng 13.1 Sự so sánh về bốn lý thuyết điển hình về thay đổi tổ chức
Các đặc điểm
Lý thuy
Quá trình thay đổi
Đặt trình tự của
các giai đoạn
Trình tự đầy đủ
gồm các giai
đoạn khởi đầu,
tăng trưởng, suy
thoái, kết thúc
Tổ chức có vấn đề
hoặc cơ hội
Đặt mục tiêu, hành
động để đạt mục
tiêu, giám sát kết
quả
Tổ chức thay đổi
thông qua sao chép
hoặc nhờ vào ảnh
hưởng của những
xung đột căng thẳng
hoặc những mâu
thuẫn
T
ổ chức thay đổi
thông qua các biến số
ngẫu nhiên hoặc có kế
hoạch, sau đó được
lựa chọn bởi những áp
lực của môi trường,
H
ội tụ
Phân k
ỳ
Phân k
ỳ
H
ội tụ
Khái ni
ệm của thời
gian
Tuần hoàn Sự kiện Sự kiện Tuần hoàn
Những biến số của
thuyết cơ bản
Hợp lý, tự nhiên,
thể chế
Có ý định, tạo cảm
xúc
Theo thuyết Hegel,
nghịch lý
Theo thuy
ết
Darwin/Lamark/
Mendel/Gould
thúc chu kỳ hoàn tất, quá trình được thiết lập để bắt đầu chu kỳ mới, với cùng hoặc khác tổ
chức.
M ột vòng đời đòi hỏi phải hội tụ trong tổ chức phát triển. Có thể có xung đột hay sự phân
kỳ trong các giai đoạn và xung đột cũng có thể kích hoạt những chuyển tiếp giữa các giai
đoạn, nhưng tổ chức giống như một tổng thể trải qua các thay đổi liên kết với một vòng
đời và kết quả cuối cùng của một vòng đời là một tổ chức hoàn chỉnh. Ví dụ, trong mô
hình các tổ chức tăng trưởng của Greiner (1972), các cuộc khủng hoảng phát sinh trong
suốt mỗi giai đoạn, nó kích hoạt những đáp ứng làm di chuyển tổ chức sang giai đoạn kế
tiếp. Sự tăng trưởng sớm thông qua các sáng tạo, ví dụ, các kết quả trong một cuộc khủng
hoảng đòi hỏi sự nổi lên của một lãnh đạo mạnh mẽ và có tầm nhìn cho tổ chức; khi lãnh
đạo này nổi lên, tổ chức đi vào một giai đoạn tăng trưởng thông qua các chỉ dẫn. Sự tiến
bộ này xảy ra thông qua khủng hoảng, nhưng tổ chức như là một tổ chức đang trải qua sự
thay đổi.
Có ba biến số của lý thuyết vòng đời, tuỳ thuộc vào việc cơ chế sinh ra được điều chỉnh
bởi những yêu cầu tự nhiên, hợp lý hay thể chế. Các trình tự điều khiển của các yêu cầu tự
nhiên hay hợp lý sử dụng một quyết định mạnh mẽ hơn trên tổ chức phát triển so với các
điều khiển của những chuẩn mực có tính thể chế hoặc các quy luật. Các vòng đời tự nhiên
và hợp lý gây ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình này, bởi vì các giai đoạn sau trong trình
Trang 9
tự phụ thuộc vào và được xác định bằng các thành quả trong giai đoạn trước đó. Trong
một số trường hợp, giai đoạn sau trong hai biến thể này đúng là không thể xảy ra mà
không có sự hoàn thành các giai đoạn trước đó. Ví dụ, các giai đoạn sau trong cuộc sống
của một người không thể xảy ra mà không có các giai đoạn trước đó- chúng ta không thể
có sự khởi đầu của gia đoạn trưởng thành thời thanh niên mà không cần phải đi qua các
thay đổi của cơ thể, tinh thần và t âm lý của tuổi niên thiếu. Giai đoạn tái thể chế hóa của
các mô hình thay đổi thể chế được trình bày bởi Hinings, Greenwood, Reay và Suddaby
trong cuốn sách này không thể xảy ra trừ khi giai đoạn phá hủy thể chế hóa đã xảy ra. Sự
hoặc cấu trúc xã hội của một tình trạng kết thúc đã được hình dung giữa các cá nhân trong
tổ chức.
Các ví dụ về những lý thuyết thay đổi mục đích luận có thể được tìm thấy trong các lý
thuyết của thuy ết biểu sinh (Etzioni, 1963), học tập thích nghi (March và Olsen, 1976), và
hầu hết các mô hình hoạch định chiến lược và ra quyết định (Chakravarthy và Lorange,
1991; Mintzberg, Raisinghani và Theoret, 1976; Nutt, 1984). Trong một thay đổi của lý
thuyết mục đích luận, việc thiết lập một mục tiêu đáp ứng cho một vấn đề được nhận thức
hay cơ hội đặt quá trình trong sự vận động. Tổ chức được giả định là có mục đích và thích
ứng bởi chính nó hoặc trong tương tác với các tổ chức khác, nó cấu trúc một tình trạng kết
thúc đã được hình dung, sẽ hành động để đạt được điều đó và giám sát tiến bộ của tổ chức.
Như vậy, các lý thuyết mục đích luận xem sự phát triển như là một chuỗi lặp đi lặp lại của
việc xây dựng mục tiêu, thực hiện, lượng giá và sửa đổi các mục tiêu dựa trên những gì đã
được học hoặc dự định của tổ chức.
Lý thuyết này có thể hoạt động trong một tổ chức đơn lẻ hoặc trong một nhóm các tổ chức
hợp tác nào được đồng nhất đủ để hoạt động như m ột tổ chức chung đơn lẻ. Vì các quá
trình mục đích luận là mục tiêu điều khiển, các đường dẫn phát triển được theo bởi tổ chức
là không được định trước, nhưng được t ạo ra bởi các hoạt động cần thiết để đạt mục tiêu.
Từ khi có nhiều cách để gặp bất kỳ mục tiêu nào đó, nhiều đường dẫn có khả năng và
không có trình tự của các giai đoạn hay các bước. Trong khi một số lý thuyết mục đích
luận xác định các bước hoặc các giai đoạn, có nhiều đường dẫn thông qua các bước này,
và đường dẫn được xác định bằng sự cấp bách phát sinh trong suốt quá trình như các vấn
đề được giải quyết bởi tổ chức phát triển.
Ví dụ: trong mô hình của chiến lược ra quyết định của M intzberg và cộng sự (1976), nhà
quản lý phải nhận thấy các vấn đề hay cơ hội, phát triển một tình huống chẩn đoán, đưa ra
một giải pháp, đáp ứng các bên tham gia và đạt tới sự ủy quyền. Mười hoạt động khác biệt
góp phần tạo ra năm điều kiện tiên quyết, và những người ra quyết định tham gia vào
nhiều trình tự khác nhau và các sự kết hợp của các hoạt động này, phụ thuộc vào các cấp
thức hay những ý định. Mintzberg đã đặt tên ''chiến lược đang nổi lên'' này. Ví dụ, nhà sản
xuất hàng dệt may ở Scotland thích sử dụng lao động thủ công hơn là nhà máy có mức vốn
cao, dần dần khớp nối một chiến lược mà tập trung vào ''bán hàng may mặc chất lượng cao
cấp đắt tiền thông qua các kênh phân phối chuyên biệt cho một số lượng hạn chế người
tiêu dùng thu nhập cao'' (Porac, Thomas và Baden-Fuller, 1989, trang 409). Chiến lược
này không được hoạch định có ý thức nhưng nổi lên khi các nhà sản xuất đấu tranh để tìm
thấy một thị trường ngách thích hợp khi đối mặt với cạnh tranh khốc liệt. Tuy nhiên, chiến
lược này có những điểm nổi bật của ý định và mục đích mỗi khi nó nổi lên, và nó định
hướng hoạt động tiếp theo giống như là nó đã được đặt ra một cách cẩn thận ngay từ ban
đầu.
Lý thuyết quá trình biện chứng (Thay đổi xung đột)
Trong các mô hình biện chứng của sự phát triển, những xung đột nổi lên giữa các thực thể
theo một luận điểm chống đối và phản đề mà va chạm tạo ra một sự tổng hợp, mà theo
Trang 12
thời gian trở thành luận điểm cho chu kỳ tiếp theo của sự tiến triển biện chứng. Đối đầu và
xung đột giữa các thực thể đối lập này tạo ra chu kỳ biện chứng.
Thay đổi nổi lên từ một động lực biện chứng thông qua những nỗ lực để giải quyết m âu
thuẫn, xung đột, hoặc căng thẳng bên trong hoặc xung quanh các đơn vị. Những lý thuyết
biện chứng mẫu mực của sự thay đổi bao gồm lý thuyết của Marx (1954) về sự phát triển
kinh tế và nhiều phiên bản của nó, lý thuyết của Smith và Berg (1987) về các nghịch lý
trong cuộc sống nhóm, và lý thuyết của Sztompka (1993) về thay đổi xã hội. Những căng
thẳng và chống đối mà Seo, Putnam, và Bartunek (chương 4 của quyển này) thảo luận
trong các lý thuyết hoạch định của thay đổi cũng gây ra những quá trình biện chứng của
thay đổi.
Trong những lý thuyết biện chứng, không giống như các lý thuyết vòng đời, mục đích
cực không thể tránh khỏi của bất kỳ cơ chế đối phó cụ thể nào. Mặc dù đối mặt với cùng
một căng thẳng biện chứng, những đường dẫn của hai nhóm sẽ khác nhau đáng kể, và có
nghĩa là không có cách nào để dự báo trước thời gian, hình dạng hoặc hình thức của con
đường phát triển.
Giả thiết rằng khi họ đang có xung đột, mâu thuẫn, và căng thẳng, các lý thuyết biện
chứng nhấn mạnh sự phân kỳ. Sự khác biệt và những xung đột và các cuộc đấu tranh mà
mà bản thân phát sinh là trung tâm của những giải thích biện chứng của sự thay đổi.
Những lý thuyết biện chứng, giống như những lý thuyết mục đích luận, kết hợp chặt chẽ
với quan niệm về thời gian có sự kiện làm cơ sở. Sự biện chứng này bị thúc đẩy bởi những
căng thẳng và những mâu thuẫn, xảy ra tại các khoảng thời gian không đều đặn, đánh dấu
những thời điểm đáng kể trong quá trình.
Hai biến thể của lý thuyết thay đổi biện chứng có thể phân biệt: (1) luận đề, phản đề, và
tổng hợp theo Hegel về quá trình xung đột cơ bản và (2) một quá trình Bakhtinian về
những biện chứng căng thẳng cơ bản.
Những biện chứng xung đột vận hành thông qua sự nổi lên của một phản đề để phản ứng
lại một luận đề và việc giải quyết xung đột tiếp theo trong một sự tổng hợp. Trong khi một
chu kỳ mới có thể bắt đầu trong sự tổng hợp đã đạt được, sự tổng hợp đại diện cho một
việc giải quyết tạm thời của xung đột hay mâu thuẫn. Ví dụ, xung đột giữa lợi ích của
những công nhân và những người quản lý trong một công ty gặp khó khăn tài chính có thể
được nhận thức trong các phạm vi sau: vị trí của nhân viên nổi lên như một phản đề đối
với công ty được kiểm soát bởi ban quản trị điển hình (luận đề) và một cách giải quyết
thông thường là đối với công nhân thì công ty trả tiền cho họ để họ từ bỏ quyền quản lý,
kể từ đây công ty trở thành sự quản lý của chính họ (tổng hợp). Việc tổng hợp được bao
gồm các yếu tố từ cả hai luận đề và phản đề, và đại diện cho một điểm ổn định trong quá
trình thay đổi (ít nhất tạm thời). Các phong trào thông qua các biện chứng Hegel thường bị
phản đối bởi đơn vị; nó có thể cố gắng bỏ qua, đàn áp, hoặc chống lại các phản đề, và
phong trào thường chỉ xảy ra sau một khoảng thời gian đáng kể của xung đột. Một phần
biến thể, sàng lọc, và duy trì giữa các chủ thể trong một dân số cho trước. Chu kỳ tiến hóa
được tạo ra bởi sự cạnh tranh các nguồn lực môi trường khan hiếm giữa các thực thể sinh
sống trong dân số đó.
Các động lực tiến hóa hướng sự thay đổi thông qua quá trình cốt lõi của sự biến thể - sàng
lọc - duy trì (VSR). Trong các giải thích tương tự, các biến thể trong các đặc trưng đơn vị
xuất hiện, và chúng cho phép đơn vị cạnh tranh các nguồn lực khan hiếm trong môi trường
sẽ được lựa chọn cho sự sống còn. Các đơn vị sống sót sinh ra những đơn vị khác giống
như chúng, duy trì các “thiết kế” cho sự cạnh tranh sống còn trong dân số. Sự giải thích
Trang 15
VSR vận hành ở cấp độ của đơn vị cá nhân hoặc tổ chức và là quá trình cấp độ vi mô mà
dân số của một loài tiến hóa và cuối cùng là thịnh vượng hoặc bị diệt vong. Những ví dụ
về các lý thuyết với các thành phần VSR là lý thuyết tổ chức của Weick (1979), lý thuyết
sinh thái học tổ chức của Aldrich (1979, 1999), và mô hình tổng hợp tích lũy của sáng chế
chiến lược của Usher (1954). Trong khi ngành sinh học cung cấp những ý tưởng ban đầu
về quá trình tiến hóa, các nhóm, các tổ chức, và các xã hội rõ ràng là khác nhau từ các cơ
chế và những giả định đặc biệt chắc hẳn được thực hiện về sự tiến hóa xã hội (xem Baum
và Rao, trong quyển sách này; Baum và M cKelvey, 1999). Các nhà lý thuyết tiến hóa có
xu hướng không quan tâm đến nguồn gốc của biến thể, nó có thể được tạo ra bởi các sự
kiện ''mù'' ngẫu nhiên hoặc có chủ ý (Campbell, 1974). Sự chọn lọc có thể được thúc đẩy
bởi các lực lượng bên ngoài môi trường, nhưng nó cũng có thể được thực hiện thông qua
các sự lựa chọn của nhân vật. Sự duy trì có thể được thực hiện thông qua các cơ chế tiến
hóa tự nhiên, nhưng nó cũng có thể được diễn ra trong các cấu trúc được xây dựng đặc
biệt giống như những cơ sở dữ liệu được tạo ra để quản lý kiến thức.
Trong lý thuyết tiến hóa, sự xuất hiện của các biến thể trong quá trình chọn lọc cạnh tranh,
và duy trì không thể được dự đoán trước thời gian, bởi vì việc dịch chuyển các áp lực cạnh
tranh các nguồn lực khan hiếm trong môi trường. Do đó, hướng của đơn vị cho một động
lực tiến hóa có thể dự đoán trước một cách yếu ớt một hoặc nhiều chu kỳ biến thể - sàng
lối vào của các công ty vừa được sáp nhập vào cộng đồng, được giả định là các vật mang
của một trong hai hoặc là thừa kế những hình thức xa xưa để lại hoặc là các biến thể tổ
chức mới được chọn lọc. Các sự khai tử của tổ chức, thường được đo bằng các sự tan rã
công ty một cách hợp pháp - bao gồm cả những sự sát nhập tổ chức, mua lại, và đổi tên -
được giả định là các vật mang của các hình thức tổ chức đã bị ra loại bỏ do môi trường
đang trở nên tan vỡ.
Việc đo lường tỷ lệ sinh và tử của một hình thức tổ chức cung cấp thông tin hữu ích về sự
lan truyền của hình thức đó trong một cộng đồng tổ chức, nhưng không nắm bắt được làm
thế nào mà hình thức tổ chức đó nổi lên và tiến triển trong lịch sử qua các thế hệ. Tổ chức
các nhà nghiên cứu chấp nhận quan điểm di truyền học Mendel của thuyết tiến hóa chỉ ra
rằng các hình thức mới của các tổ chức thường là những sản phẩm lai ghép của các hình
thức đa dạng xa xưa của các sắp xếp tổ chức (M cKelvey, 1982; Baum và Singh, 1994;
Van de Ven và Grazman, 2000). Họ lập luận rằng các thế hệ mới của các hình thức tổ
chức này thường xuyên (nhưng không phải là luôn luôn) được tạo ra bởi các sự kiện do
cặp đôi hoặc kết hợp lại các nguồn lực, các năng lực, và các sắp xếp tổ chức có từ trước
hoặc để tạo ra một hình thức tổ chức mới hoặc để mở rộng một hình thức tổ tiên.
Các nguồn lực xa xưa mà được kết hợp lại để tạo ra những thế hệ mới này, có thể tồn tại
hoặc là ngay bên trong hay bên ngoài của vấn đề tổ chức. Sự tăng trưởng bên trong tổ
chức xảy ra khi các hình thức xa xưa đang nằm trong các tổ chức. Các ví dụ phổ biến là
khoản đầu tư nội bộ hoặc sự kết hợp lại của các đơn vị hiện có, các nguồn lực, hoặc các
năng lực để sáng tạo hoặc cải tạo các chương trình, các sản phẩm, các dịch vụ, hoặc các
thói quen của một tổ chức. Sự tăng trưởng bên ngoài xảy ra bằng việc kết hợp các nguồn
lực và các thành phần từ các tổ chức khác nhau thông qua, ví dụ, những sự hợp nhất, mua
Trang 17
lại, các sát nhập chiến lược, và những liên doanh tổ chức. Kể từ khi các hình thức xa xưa
mà được gặp nhau để sản xuất các hình thức mới, thường được lồng trong các mạng lưới
phức tạp của hệ đẳng cấp phụ thuộc lẫn nhau ở trong và giữa các tổ chức, thì các sự kết
các phương pháp rối loạn chức năng của việc giải quyết xung đột và đàm phán (Bazerman,
1985). Các chương của Hinings, Greenwood, Reay, và Suddaby và Seo, Putnam, và
Bartunek thảo luận làm thế nào các thay đổi đều đặn trong các mô hình vòng đời thể chế
Trang 18
thường bị kháng cự, dẫn đến phá hoại hoặc chỉ phù hợp với các nhiệm vụ, thay vì chủ
quan hóa chúng. Cuối cùng, chương của Baum và Rao chỉ ra rằng các quá trình tiến hóa
của sự biến thể, chọn lọc, và duy trì chỉ hoạt động dưới các điều kiện cạnh tranh các nguồn
lực khan hiếm, các quá trình phá vỡ khi các nguồn lực dồi dào và sự cạnh tranh thấp.
Nghiên cứu các lỗi thực hiện này rất hữu ích để xây dựng sự khác biệt giữa lý thuyết của
sự thay đổi và lý thuyết của việc thay đổi (Bennis, 1966, đã thảo luận trong chương 4 của
quyển này). Bốn lý thuyết của sự thay đổi của chúng tôi cố gắng để trả lời câu hỏi như thế
nào và tại sao thay đổi xảy ra. Các lý thuyết của việc thay đổi tập trung vào các câu hỏi
thực hiện, đó là, làm thế nào một quá trình thay đổi được thực hiện và hướng dẫn trong các
chỉ dẫn có tính xây dựng.
Sự hữu dụng của khuôn khổ
Khuôn khổ này có một số chức năng có ích. Trước hết, khuôn khổ mô tả các lý thuyết quá
trình khá đơn giản, các điều khoản trừu tượng, mang đến một cách để gỡ rối các lý thuyết
phức t ạp của sự phát triển thành các động lực thành phần. Bốn động lực loại lý tưởng phục
vụ như là các dạng cội nguồn thuộc về lý thuyết, và các sự phức tạp của quá trình phát
triển có thể được phân tích như ảnh hưởng lẫn nhau giữa các dạng nguyên thủy này.
Thứ hai là bốn lý thuyết cơ bản có thể được sử dụng như là tiêu chuẩn để đánh giá hình
thức, sự đầy đủ, và độ kín của các lý thuyết phát triển cụ thể. Khi các lý thuyết được phát
triển cho một bối cảnh cụ thể, như đổi mới sản phẩm mới, chúng đều được thích nghi với
hiện tượng. Tuy nhiên, các lý thuyết đã xây dựng lên từ mặt nền đôi khi có các thành phần
bị thiếu không được đề xuất bởi nghiên cứu về một hiện tượng cụ thể, nhưng đó lại cần
thiết cho một sự tạo thành tốt, lời giải thích hoàn chỉnh. Ví dụ, một số lượng đáng ngạc
qua.
Các lý thuyết phức tạp của thay đổi và đổi mới tổ chức
Hầu hết các quá trình quan sát của sự thay đổi, phát triển, và đổi mới tổ chức là phức tạp
hơn các loại lý tưởng. Một lý do cho việc này là thay đổi và đổi mới tổ chức diễn ra xuyên
qua không gian và thời gian, như được thảo luận trong chương 1. Kết quả là, nhiều hơn
một động lực có thể vận dụng trong bất kỳ trường hợp cụ thể nào. Phát triển và thay đổi tổ
chức chịu ảnh hưởng bởi các đơn vị và các nhân vật đa dạng, cả bên trong và bên ngoài tổ
chức. Sự phân tán theo không gian của những thứ này có nghĩa là các ảnh hưởng khác
nhau có thể hoạt động đồng thời trên các phần khác nhau của tổ chức, từng thành phần
truyền “đà" riêng biệt của nó đến quá trình thay đổi. Ví dụ, trong một nghiên cứu về nỗ lực
phát triển sản phẩm, Van de Ven và Garud (1993) nhận thấy rằng một quá trình mục đích
luận giải thích quá trình phát triển trong phòng thí nghiệm R & D của công ty. Trong bộ
phận các công việc thường qui, trong đó tập trung vào sự chấp thuận sản phẩm của FDA,
một mô hình vòng đời tương ứng với các bước trong quá trình phê duyệt hoạt động quản
lý. Hai động lực khác nhau này đã tương tác khi sự phát triển sản phẩm đã tiến triển. Khi
sự phát triển sản phẩm đã tiến triển, nhưng có động lực khác đang vận hành trong lĩnh vực
lớn hơn của ngành công nghiệp y tế, một quá trình tiến hóa. Thiết kế sản phẩm tiên phong
Trang 20
của công ty bước đầu đã được hỗ trợ bởi các nhà nghiên cứu, nhưng bằng chứng đã gắn
kết mà khiến hầu hết các nhà nghiên cứu và các bác sĩ chuyển sang trung thành với thiết
kế của một công ty cạnh tranh, do đó “loại bỏ” sản phẩm. Các động lực cũng có thể thay
đổi một cách mạnh mẽ khi một quá trình mở ra. Theo thời gian, có cơ hội cho các động
lực khác nhau đi vào hoạt động, đặc biệt là tạo ra phân tán không gian của các ảnh hưởng.
Khi sản phẩm được nghiên cứu bởi Van de Van và Garud đã trưởng thành, động lực vòng
đời điều chỉnh đều đặn sự chấp thuận trở thành chi phối, làm lu mờ quá trình mục đích
luận và mở rộng gia nhập để quá trình chấp thuận bậc thang. Quá trình quan sát kết quả
gồm nhiều lớp và phức tạp, và để nắm bắt đầy đủ một lý thuyết phải kết hợp nhiều hơn
tổ chức phải được xem như là quá trình tương tác lẫn nhau ở nhiều cấp độ khác nhau. Giả
định chung nhất là các mối quan hệ có thứ bậc trong đó cấp cao hơn thâu tóm và thiết lập
các giới hạn hoạt động của cấp thấp hơn. Tuy nhiên, đây chỉ là một trong ba loại hình của
mối quan hệ liên cấp mà chúng t ôi sẽ thảo luận. Thứ hai, chúng tôi thảo luận về các mối
quan hệ chuẩn giữa các động lực có thể thấy được, ngay cả chúng vượt hoặc nằm trong
phạm vi ở nhiều thứ bậc. Trong khi các mối quan hệ tích cực và tiêu cực tuyến tính được
cho là phổ biến nhất, thì các nghiên cứu gần đây về lý thuyết phức hợp và lý thuyết hệ
thống phi tuyến cho rằng có nhiều mối quan hệ phức tạp khác có thể được giữ vững
thường xuyên hơn. Cuối cùng, chúng tôi xem xét quy mô thời gian mà tại đó các động lực
khác nhau và làm thế nào các động lực hoạt động với quy mô thời gian khác nhau liên
quan đến nhau. Cuối cùng, chúng tôi xem xét các quy mô thời gian mà các động lực khác
nhau hoạt động và liên quan như thế nào giữa các động lực có quy mô thời gian khác
nhau.
Chúng tôi nên lưu ý là các động lực ở một lý thuy ết phức hợp có thể giống hoặc khác
nhau. Một cách tiếp cận phổ biến nhất cho các mô hình sinh thái gần đây của sự thay đổi
tổ chức là mô tả quá trình thay đổi trong điều kiện các động lực tiến hóa được lồng vào
nhau (theo Van de Ven and Grazman, 1999). Ở các mô hình như vậy thì chúng có cùng
chuỗi lý luận dưới sự phân tích ở nhiều cấp độ khác nhau và mối quan hệ giữa các động
lực thường được mô t ả như là một quá trình đi theo một quá trình tương tự ở một mức độ
cao hơn và là một quá trình định hướng cho một quá trình tương tự ở một mức độ thấp
hơn. Tuy nhiên, các vấn đề này có thể phức tạp hơn. Van de Ven và Poole (1995) thảo
luận một số lý thuyết mẫu có kết hợp nhiều loại động lực, một số lý thuyết ở các cấp độ
khác nhau của phân tích và các lý thuyết khác hoạt động ở cùng một mức độ. Vấn đề trong
trường hợp này là làm thế nào các động lực hoạt động theo cơ chế khác nhau ăn khớp với
nhau. Theo minh hoạ của các thảo luận sau đây, điều này cũng có thể xảy ra ở nhiều cách
khác nhau.
Mối quan hệ giữa các động lực ở nhiều cấp độ khác nhau
và kết hợp với nhau.
Các động lực được lồng vào nhau khi một động lực cấp thấp hơn được liên kết chặt chẽ
với các động lực bậc cao hơn, các chức năng phục tùng của động lực cấp thấp hơn kết nối
trực tiếp với các hoạt động của động lực cấp cao hơn. Ví dụ, một chu kỳ sống hoặc một
động lực có mục đích luận có thể diễn tả các hành động của các cá nhân tham gia vào quá
trình VSR nằm trong động lực tiến hóa. Trong trường hợp này, động lực cấp thấp làm mẫu
các biểu hiện để có thể cấu thành lên quá trình tiến hóa để làm sao chúng có thể tương
thích với quá trình của cấp cao hơn. Tuy nhiên, các chức năng này được thực hiện bởi một
động lực được lồng nhau không cần xác thực hoặc hỗ trợ, chúng chỉ cần sự giúp đỡ để
hướng theo động lực cấp cao hơn. Mô hình phát triển tổ chức của Greiner (1972) đã thừa
nhận có chu kỳ tồn tại của sự sáng tạo, ủy thác, sự phối hợp và cộng tác. Ở mỗi giai đoạn
khi lên đến cực điểm của các cuộc khủng hoảng biện chứng khác nhau (của sự thống trị, tự
Trang 23
chủ, kiểm soát, cô lập, và ''?''), đẩy các tổ chức vào giai đoạn tiếp theo của sự tăng trưởng.
Những cuộc khủng hoảng này được hình thành bởi các cuộc đấu tranh giữa các cá nhân,
những người đang cố gắng đối phó với các vấn đề của tổ chức. Quá trình chống đối làm
suy yếu giai đoạn đó kết hợp lại thành một cuộc khủng hoảng dẫn đến việc tiến bộ của quá
trình đó.
Trong cấu trúc phân cấp lồng vào nhau của các cá nhân trong các tổ chức nằm trong các
cộng đồng hoặc các ngành, các t ổ chức đại diện cho bản thân nhưng là một cấp duy nhất
của phân tích, tất cả đều bao gồm và bao phủ bởi các cấp khác. Các tổ chức được xem như
là hệ thống đang phát triển được lồng vào các hệ thống khác đã phát triển ở mức độ cao
hơn (ví dụ, ngành công nghiệp hoặc cộng đồng) và đang lồng vào các hệ thống mức độ
thấp hơn của phân tích (ví dụ, các nhóm làm việc hoặc các nhà quản lý), như mô tả của
Baum và Rao trong chương 8. Phân tích cộng đồng ở cấp độ cao hơn, Astley (1985) đã mô
tả những tổ chức có thành phần phức tạp cũng trải qua quá trình biến thể, sàng lọc và duy
trì của tự bản thân nó, vì chúng phát triển với sự thay đổi ở mức độ cao hơn của điều hành
riêng của chúng và có thể gặp áp lực giữa tập hợp hay độc lập vì một tổ chức sẽ nỗ lực để
sở hữu được bản thân nhằm phá hủy cho nhiệm vụ chung (Putnam và Stohl, 1996). Những
áp lực có thể hướng một số cá nhân chọn "không tham gia" tổ chức do việc dành năng
lượng của chúng cho các phần khác của cuộc sống. Trong trường hợp này, quy trình cấp
cá nhân có thể làm suy yếu các quá trình của cấp tổ chức hoặc họ có thể đẩy mạnh các
quá trình này, tùy thuộc vào quá trình các cá nhân giao nhau với các giai đoạn của chu kỳ
sống (Moreland và Levine, 1988). Lần lượt, các chu kỳ sống của tổ chức ảnh hưởng đến
chu kỳ sống của cá nhân bởi chúng là một, mặc dù không phải là yếu tố duy nhất trong thế
giới của chúng. Hai quá trình cá nhân và tổ chức có tính toàn vẹn của riêng mình và ảnh
hưởng lẫn nhau.
Có hiện tượng "trượt" trong các mối quan hệ của động lực cản trở. Sự ảnh hưởng của một
động lực ở cấp độ này lên một động lực ở cấp độ khác là một quá trình trung gian mà qua
đó các động lực gắn kết với nhau. Bản chất của quá trình này sàn lọc các tác động liên cấp,
ảnh hưởng đến sức mạnh và bản chất của vị thế. Tùy thuộc vào quá trình, ảnh hưởng liên
cấp có thể mạnh hay yếu và cũng có thể thay đổi theo thời gian. Theo các ví dụ minh họa,
các mối quan hệ thứ bậc thường liên quan đến các mối liên kết chặt chẽ, theo đó các khóa
liên động của động lực là rõ ràng. Trong các mô hình sinh học, các đặc tính di truyền cung
cấp một đối tượng ranh giới chính mà trên đó quá trình có thể hoạt động từ nhiều cấp độ.
Trong các phiên bản tổ chức của thuyết tiến hóa, các dạng tương tự của đặc tính di truyền
là rất khó xác định, nhưng Van de Ven và Grazman (1999) cho rằng hình thức tổ chức
(được định nghĩa dưới dạng các thước đo như nhiệm vụ, cấu trúc thẩm quyền, công nghệ
và thị trường) là các công cụ cơ bản của sự phát triển của tổ chức (xem thêm Baum và Rao
về lập luận này). Họ thừa nhận rằng các khía cạnh của hình thức là nương tựa, kết hợp lại
và tạo mới trong quá trình phát triển của tổ chức, là kết quả trong một phả hệ của các hình
thức tổ chức. Các động lực cản trở hoạt động không có điểm chung. Thay vào đó, nó là
cần thiết để xác định một quá trình độc lập của các động lực mà chúng tự kết nối với các
động lực cản trở.
Trang 25
hơn nhiều so với các tài liệu hiện tại. Khó khăn lớn của họ có thể đã khuy ến khích các nhà
nghiên cứu trong việc khái niệm những điều này hoặc khuyến khích họ áp đặt những điều
đó vào khuôn khổ thứ bậc.
Loại thứ ba là động lực tổng hợp đại diện cho trường hợp mà một quy trình ở cấp độ cao
hơn nổi bậc lên hoặc được thành lập bởi sự kết hợp của các quá trình cấp thấp hơn. Trong