BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Lê Thị Ngọc Thƣơng
KHẢ NĂNG KIỂM SOÁT CẢM XÖC
CỦA HỌC SINH Ở MỘT SỐ TRƢỜNG
THPT TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2011
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
LÊ THỊ NGỌC THƢƠNG
KHẢ NĂNG KIỂM SOÁT CẢM XÖC CỦA
HỌC SINH Ở MỘT SỐ TRƢỜNG THPT
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: TÂM LÝ HỌC
Mã số: 60 31 80
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRẦN THỊ THU MAI
Thành phố Hồ Chí Minh – 2011
phổ thông tại thành phố Hồ Chí Minh” chính là luận văn tốt nghiệp thạc sĩ ngành
Tâm lí học của tôi tại trường Đại học Sư phạm Tp.HCM.
Tôi xin cam đoan kết quả của đề tài này được khảo sát và nghiên cứu một cách
khoa học, khách quan và chưa từng thuộc bất kì tác giả nào trước đó.
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2011
Người thực hiện
Lê Thị Ngọc Thương
4
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
………………………….11
Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHẢ NĂNG
KIỂM SOÁT CẢM XÖC
CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
……….…………………16
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới về kiểm soát
cảm xúc
1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam về kiểm soát
cảm xúc
1.2 Trí tuệ cảm xúc
1.2.1 Khái niệm trí tuệ cảm xúc theo kiểu thuần năng
lực tâm thần
…..………………………16
…...……………………20
….………………………22
….………………………22
..…………………………23
..…………………………25
…………………………31
…………………………31
…………………………37
…………………………43
…………………………45
…………………………51
…………………………51
…………………………53
…………………………54
…………………………55
….………………………56
…………………………56
…………………………57
…………………………58
…………………………58
…………………………59
…………………………65
………………………….66
5
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1 Tổ chức nghiên cứu
……………………….115
…………………………132
…………………………133
…………………………137
…………………………138
6
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1. ĐHSP
Đại học Sư phạm
2. THPT
Trung học phổ thông
4. NTN
Người thực nghiệm
5. HS
Học sinh
6. STT
Số thứ tự
So sánh điểm trung bình
từng nhóm biện pháp
giải tỏa cảm xúc xấu hổ
93
Bảng Tỉ lệ phần trăm từ thấp
2.3 đến cao học sinh có các
mức độ kiểm soát từng
cảm xúc
72
Bảng
2.26
So sánh điểm trung bình
từng nhóm biện pháp
giải tỏa cảm xúc sợ hãi
95
Bảng Bảng so sánh khả năng
2.4 kiểm soát từng cảm xúc
72
Bảng
2.27
74
Bảng
2.29
So sánh sự khác biệt
giữa các trường về khả
năng kiểm soát cảm xúc
xấu hổ
100
Bảng So sánh điểm trung bình
2.7 giữa các biểu hiện của
nhóm hành vi dịch
chuyển sự công kích của
cảm xúc giận dữ
75
Bảng
2.30
So sánh sự khác biệt
giữa các trường về khả
năng kiểm soát cảm xúc
sợ hãi
100
nhóm giọng nói của cảm
xúc giận dữ.
kiểm soát cả ba cảm xúc
76
Bảng
2.32
So sánh sự khác biệt về
khả năng kiểm soát cảm
xúc cả ba cảm xúc theo
các khối, giới, hệ học
101
Bảng So sánh điểm trung bình
2.10 giữa các biểu hiện của
nhóm sự đáp trả không
mang tính công kích của
cảm xúc giận dữ
78
Bảng
2.33
So sánh sự khác biệt về
khả năng kiểm soát cảm
xúc cảm xúc giận dữ
Bảng
2.35
So sánh sự khác biệt về 105
khả năng kiểm soát cảm
xúc sợ hãi theo các khối,
giới, hệ học
Bảng So sánh điểm trung bình
2.13 giữa các biểu hiện của
nhóm hành vi dịch
chuyển sự công kích của
cảm xúc xấu hổ
81
Bảng
2.36
Mức độ ảnh hưởng của
các yếu tố đến khả năng
kiểm soát cảm xúc của
học sinh một số trường
THPT tại TPHCM
107
Bảng So sánh điểm trung bình
2.14 giữa các biểu hiện của
nhóm tổ chức mô và cơ
Bảng So sánh điểm trung bình
2.16 giữa các biểu hiện của
nhóm đáp trả không
mang tính công kích của
cảm xúc xấu hổ
83
Bảng
3.3
So sánh kết quả
trước và sau khi thực
nghiệm
115
Bảng So sánh điểm trung bình
2.17 giữa các biểu hiện của
nhóm biểu hiện của khả
năng kiểm soát cảm xúc
sợ hãi
84
Bảng
3.4
Mô tả về học sinh tham
pháp mà học sinh sử
dụng để giải tỏa từng
cảm xúc
85
Bảng
3.5
Khả năng kiểm
soát cảm xúc giận dữ
của từng học sinh
117
86
Bảng
3.6
Tóm tắt một số trả lời
của học sinh về nội
dung liên quan đến cảm
xúc giận dữ
117
87
Bảng
10
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
STT
Ký hiệu
Tên hình
1 Hình 2.1 Biểu đồ phân bố các điểm trung bình ứng với mức
độ kiểm soát cảm xúc của học sinh một số trường
THPT tại Tp. HCM
Trang
70
11
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cảm xúc đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần và tác động mạnh mẽ
đến hiệu quả công việc, học tập, khả năng sáng tạo của con người. Thật vậy, có vô
vàn những tình huống dẫn đến hàng loạt cảm xúc nảy sinh. Đó là, chúng ta có lúc
vui, buồn, giận dữ, sợ hãi, xấu hổ,… Khi cảm xúc xuất hiện, những hành vi, thái độ
phát sinh ngay tức thì. Và dễ thấy là đôi khi chúng ta lại “nóng giận mất khôn” dẫn
đến đánh mất bản thân mình. Hay những hậu quả có thể là ân hận, hối tiếc, sai lầm,
thất bại,… Thế nên, kiểm soát cảm xúc sao cho thật hợp lý nhằm giúp cuộc sống của
con người cân bằng, hài hòa hơn là điều mà thật sự nhiều người rất mong muốn. Vì
vậy, vấn đề đặt ra là cảm xúc của chúng ta đang ở mức nào? Chúng ta có thật sự
kiểm soát tốt cảm xúc của bản thân chưa?
Kiểm soát cảm xúc không đơn thuần là kiểm soát hành vi và thái độ ngay khi
gây hậu quả nghiêm trọng xảy ra ngày càng nhiều trên toàn quốc. Hàng loạt vụ việc
như học sinh H.V.H (lớp 12 trường THPT V.T, B.Đ) đâm bạn, Đ.Q.Đ (tỉnh K.H), nữ
sinh Đ.T.Th (lớp 10, tỉnh N.A) đâm bạn vì cãi nhau, xích mích nhỏ [33]. Đây cũng là
cảnh báo cấp bách cho việc giáo dục hướng đến những khía cạnh liên quan đến yếu
tố thuộc về tình cảm, cảm xúc trong nhân cách của học sinh. Làm thế nào để đạt được
mục tiêu giáo dục trên? Nhà trường trung học phổ thông hiện đang có quan tâm đến
việc hình thành nhân cách và tác động để hình thành cảm xúc theo chiều hướng tích
cưc cho học sinh như thế nào?
Mặt khác, phòng tham vấn, tư vấn tâm lý được thành lập ở khá nhiều trường
trung học phổ thông tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay. Tuy nhiên, phòng tham vấn
học đường thật sự đóng vai trò hỗ trợ tâm lý học sinh ra sao trong khi cảnh báo về
tình trạng đời sống cảm xúc của học sinh đang có dấu hiệu trầm trọng? Thực tế,
chúng ta thấy rằng đội ngũ chuyên môn, một chương trình giáo dục cảm xúc, tình
cảm, biện pháp tâm lý hỗ trợ, cũng là những dấu hỏi lớn về hiệu quả hoạt động giáo
dục ở nhà trường phổ thông. Vì trước tiên là chúng ta chưa biết rõ mức độ kiểm soát
cảm xúc của học sinh như thế nào. Hơn nữa cảm xúc của cá nhân chỉ thể hiện khi gặp
tình huống nhưng giáo dục cảm xúc gắn với tình huống thực tiễn cũng chưa được
13
hiệu quả. Vì vậy, những vấn đề này cần phải được giải đáp để nâng cao chất lượng
giáo dục.
Đánh giá tầm quan trọng của kiểm soát cảm xúc của học sinh và trả lời cho
những vấn đề đó là vô cùng cần thiết. Hiểu được điều đó và biết rằng hiện nay tuy có
nhiều đề tài khóa luận và luận văn đã nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc nhưng chưa có
nghiên cứu nào về khả năng kiểm soát cảm xúc của học sinh trung học phổ thông ở
thành phố Hồ Chí Minh. Với tất cả những lí do này, đề tài “Khả năng kiểm soát cảm
xúc của học sinh ở một số trường THPT tại Thành phố Hồ Chí Minh” được tiến
hành.
hổ) của học sinh các khối lớp, giữa nam và nữ, giữa học sinh các hệ công lập và dân
lập.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của những lý thuyết và trắc nghiệm về kiểm soát
cảm xúc.
14
- Đo lường mức độ kiểm soát cảm xúc giận dữ, sợ hãi, xấu hổ của học sinh
THPT tại thành phố Hồ Chí Minh.
- Xác định mức độ của các yếu tố ảnh hưởng đến kiểm soát cảm xúc của học
sinh THPT tại thành phố Hồ Chí Minh.
- Đề xuất một số biện pháp kiểm soát cảm xúc cho học sinh THPT.
6. Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài chỉ tiến hành nghiên cứu mức độ kiểm soát của một số cảm xúc cơ bản
là giận dữ, sợ hãi, xấu hổ.
- Tiến hành nghiên cứu trên 360 học sinh ở một số trường THPT công lập và
dân lập trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
1.5 Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài được tiến hành thông qua việc phối hợp một số phương pháp
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu lý luận và kết quả nghiên cứu thực tiễn đã
thực hiện về kiểm soát từng cảm xúc, trí tuệ cảm xúc. Các tư liệu trên được nghiên
cứu, phân tích, hệ thống hóa và được sử dụng trong đề tài để xây dựng cơ sở lý luận
cho đề tài.
7.2.Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
* Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Bảng hỏi được xây dựng dưới dạng phiếu thăm dò ý kiến theo các bước:
- Bước 1: Xây dựng phiếu thăm dò mở
sinh THPT tại thành phố Hồ Chí Minh.
- Đề xuất một số biện pháp nhằm giúp học sinh THPT kiểm soát cảm xúc.
16
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHẢ NĂNG KIỂM SOÁT CẢM XÖC
CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới về kiểm soát cảm xúc
Arixtôt viết: “Có lẽ mọi trạng thái của tâm hồn đều có liên quan đến thân thể:
căm giận, sợ hãi, e thẹn, thông cảm, dũng cảm cũng như vui sướng, yêu thương và
ghét bỏ, cơ thể cảm thấy một cái gì đó với các trạng thái ấy” [9, tr 324]. Đây có thể
được coi như là quan niệm mở đầu trong việc xác định mối liên quan giữa cảm xúc
và trạng thái của cơ thể ứng với cảm xúc đó.
Vào những năm 1960, Richard Alpert thực hiện những nghiên cứu khoa học
đầu tiên về sự lo sợ trong các kỳ thi. Nghiên cứu này khẳng định rằng những học sinh
bị sự lo lắng gây tác hại tới kết quả học tập và những người thành công bất chấp sự
căng thẳng, thậm chí nhờ sự căng thẳng mà thành công hơn [4, tr 114]. Nghiên cứu
này cho thấy khi cảm xúc nảy sinh thì thái độ, hành vi của con người cũng bị tác
động nghiêm trọng.
Cũng trong những năm 1960, Walter Mischel đã tiến hành trắc nghiệm để đo
năng lực chế ngự cảm xúc tại một nhà trẻ ở Trường Đại học Stanford. Trắc nghiệm
này cho phép thăm dò tâm lý một đứa trẻ xung đột giữa các xung lực và sự kiềm chế,
giữa ham muốn và sự chế ngự bản thân, giữa niềm thích thú tức khắc và sự mong đợi
[19, tr 174]. Trắc nghiệm này như là một bước khởi đầu khi xác lập mối tương tác
giữa kiếm chế bản thân với các thành phần trong cấu trúc của nhân cách như ý chí,
nhu cầu.
Bên cạnh đó, nhiều công trình nghiên cứu của các nhà thần kinh học có liên
- Khả năng thích ứng gồm khả năng chịu đựng những trạng thái do các tác
động bên ngoài thể hiện ở sinh lý, tâm lý, hành vi (stress), năng lực kiểm soát xung
tính.
- Tâm trạng gồm khả năng giữ tâm trạng lạc quan, hạnh phúc [10].
Năm 1996 – 1997, Cooper với phép đo sơ đồ chỉ số cảm xúc EQ MAP chia trí
tuệ cảm xúc thành năm thành tố. Trong đó có các năng lực của trí tuệ cảm xúc: đo
18
lường năng lực sử dụng xúc cảm có mục đích, sáng tạo, linh hoạt, quan hệ với người
khác và giải quyết bất mãn một cách tích cực [10].
Thang đo LEAS - nhận thức cảm xúc (Level of Emotional Awareness) bằng
cách sử dụng một chuỗi 20 cảnh tượng mà có sự tham gia của hai người, được xây
dựng để gợi ra 4 nhóm cảm xúc: giận dữ, sợ hãi, hạnh phúc và buồn bã. Từng cảnh
tượng được tiếp diễn xoay quanh câu hỏi: Bạn sẽ có cảm giác như thế nào? Và người
khác sẽ có cảm thấy như thế nào? Tương ứng với từng câu hỏi, từng ý kiến trả lời của
từng người sẽ được chia tách thành 2 điểm cho sự miêu tả cảm xúc: một là cho chính
bản thân họ và một cho người khác [10].
Ngoài ra, năm 1999, Boyatsis với ECI (bảng kiểm năng lực cảm xúc –
Emotional Competency Inventory) được thiết kế theo kiểu tự đánh giá và người khác
đánh giá. Trắc nghiệm này đề cập đến việc đo một trong bốn lĩnh vực của trí tuệ cảm
xúc. Đó là:
- Tự kiểm soát, làm chủ bản thân, tự kiểm soát xúc cảm của mình, lòng tự tin,
tự ý thức, thích ứng, định hướng thành đạt và sáng tạo.
- Các kĩ năng xã hội: giáo dục người khác, năng lực lãnh đạo, năng lực tạo ảnh
hưởng, năng lực giao tiếp, tạo xúc tác để thay đổi, kiểm soát, quản lý xung đột, xây
dựng các mối quan hệ, tinh thần đồng đội và sự hợp tác [10].
Thang đo MEIS (thang đo trí tuệ cảm xúc đa nhân tố – Mutilfactor Emotional
Intelligence Scale) được tác giả Majer, Salovey và Caruso (2000) thiết kế để đo bốn
Vào năm 2002, P.Salovey và J.Mayer cùng với Caruso chỉnh sửa thang đo
MEIS và phiên bản mới này là MSCEIT (Mayer – Salovey – Caruso Emotional
Intelligence Test). Thang đo này chỉ báo khả năng hoạt động của người được đo
dưới ảnh hưởng những cảm xúc khác nhau. Phép đo này đo lường bốn thành tố: nhận
thức về xúc cảm, xúc cảm hóa tư duy, hiểu biết xúc cảm và điều khiển, kiểm soát xúc
cảm [10].
Nhìn chung, những nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc còn khá mới mẻ. Hiện tại,
đó chỉ là mô hình, cách đo lường, các thành tố của trí tuệ cảm xúc. Kiểm soát cảm
xúc cũng được đề cập như là một yếu tố nhỏ trong các cấu trúc của trí tuệ cảm
xúc. Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu sâu về kiểm soát cảm xúc. Do đó, có thể
nói kiểm soát cảm xúc vẫn là một lĩnh vực mới mẻ hiện nay.