TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA HÓA HỌC
NGUYỄN THỊ THƠ
XÂY DỰNG E-LEARNING CHƯƠNG
“NITO- PHOTPHO” HÓA HỌC LỚP 11 BAN
CƠ BẢN GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG GIỜ TỰ HỌC CỦA HỌC SINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Hóa vô cơ
Hà Nội, 2012
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA HÓA HỌC
NGUYỄN THỊ THƠ
XÂY DỰNG E-LEARNING CHƯƠNG
“NITO- PHOTPHO” HÓA HỌC LỚP 11 BAN
CƠ BẢN GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG GIỜ TỰ HỌC CỦA HỌC SINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Hóa vô cơ
Người hướng dẫn khoa học
Th.S NGUYỄN VĂN QUANG
: Đại lượng kiểm định T ( student).
TN
: Thực nghiệm.
HS
: Học sinh.
THPT
: Trung học phổ thông.
ĐHBK
: Đại học bách khoa.
CBT
: Computer Base Training (đào tạo trên cơ sở máy tính).
MỞ ĐẦU
1.
Lí do chọn đề tài.
E-learning là một phương thức dạy học mới dựa trên công nghệ thông
thích thật sự của bản thân. Vì vậy, việc đổi mới và nâng cao chất lượng
giáo dục bao gồm cả việc giúp học sinh tiếp cận cách học, chủ động, tự tìm
hiểu, kiểm tra, đánh giá, tích cực trao đổi với giáo viên, bạn bè lầ một vấn
đề cấp thiết.
Xuất phát từ lí do trên, tôi đã nghiên cứu đề tài: Xây dựng E-learnig
chương “Nitơ-Photpho” hóa học lớp11ban cơ bản góp phần nâng cao chất
lượng tự học của học sinh.
2.
Mục đích xây dựng.
Xây dựng E-learning chương “Nitơ – photpho” hóa học 11 ban cơ bản
nhằm nâng cao chất lượng học tập và góp phần đưa HS THPT tiếp cận với
phương thức học tập hiện đại dựa trên CNTT & TT.
3.
Khách thể và đối tượng nghiên cứu.
- Khách thể nghiên cứu: Qúa trình dạy học hóa học ở trường Phổ
thông.
- Đối tượng nghiên cứu: Chương trình E-learning chương “ Nitơ –
Photpho” hóa học 11 cơ bản.
4.
Nhiệm vụ của đề tài.
Để thực hiện đề tài cần thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu những đặc điểm cơ bản và cách thức khai thác ứng dụng
E-learning
- Nghiên cứu cơ sở lí luận việc dạy và học bằng E-learning, cách thức
xây dựng E-learning.
- Nghiên cứu phương pháp dạy và học hóa học 11 bằng E-learning.
- Xây dựng chương trình E-learning chương “ Nitơ – photpho” dùng
dạy học hóa 11 cơ bản.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm xác định hiệu quả của đề tài
và đề xuất ứng dụng E-learning trong dạy học hóa học phổ thông.
+ Dùng phiếu điều tra thăm dò ý kiến của GV về dạy học kết hợp giữa
phương pháp truyền thống với E-learning.
- Thực nghiệm sư phạm tiến hành lên lớp có kết hợp E-learning và
không kết hợp E-learning. So sánh kết quả học tập.
8.
Điểm mới của đề tài.
- Nghiên cứu cách thức xây dựng chương trình E-learning cho bộ môn
hóa học.
- Nghiên cứu việc dạy học kết hợp E-learning với phương thức dạy
học truyền thống.
- Đánh giá sơ bộ chương trình E-learning, tâm lí HS khi học Elearning từ đó đưa ra những đóng góp tích cực cho cách thức xây dựng
chương trình E-learning hóa học và cách thức dạy học hóa học bằng Elearning phù hợp với thực tiễn hơn, hiệu quả hơn.
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. Giới thiệu E-learning
1.1.1.Lịch sử phát triển của E – learning.
Thuật ngữ E-learing đã trở nên quen thuộc trên thế giới trong một vài
thập kỉ gần đây. Cùng với sự phát triển của tin học và truyền thông, các
phương thức giáo dục ngày càng được cải tiến nâng cao chất lượng, tiết
kiệm thời gian và tiền bạc cho người học. Ngay từ khi mới ra đời, Elearning đã xâm nhập vào hầu hết các hoạt động huấn luyện và đào tạo của
các nước trên thế giới, được chứng minh qua sự thành công của hệ thống
giáo dục hiện đại có sử dụng phương pháp E-learning của nhiều quốc gia
như Mĩ, Anh, Nhật…
Gắn với sự phát triển của CNTT và phương pháp giáo dục đào tạo quá
trình phát triển của E-learning có thế chia ra làm bốn thời kì như sau:
- Trước năm 1983: Thời kì này, máy tính chưa được sử dụng rộng rãi,
phương pháp giáo dục “Lấy GV làm trung tâm” là phương pháp phổ biến
Theo quan điểm hiện đại, E-learning là sự phân phát các nội dung học
sử dụng các công cụ điện tử hiện đại như máy tính, mạng vệ tinh, mang
Internet, Intranet,… trong đó nội dung học có thể thu được từ các website,
đĩa CD, băng video, audio… thông qua một máy tính hay TV; người dạy và
người học có thể giao tiếp với nhau qua mạng dưới các hình thức như: email, thảo luận trực tuyến (chat), diễn đàn (forum), hội thảo video…
1.1.3 Đặc điểm của E-learning.
- Dựa trên CNTT & TT: cụ thể là công nghệ mạng kĩ thuật đồ họa, kĩ
thuật mô phỏng, công nghệ tính toán…
- E-learning bổ sung rất tốt cho phương pháp học truyền thống do tính
tương tác cao dựa trên Multimedia, tạo điều kiện cho người học trao đổi
2
thông tin dễ dàng hơn, và cũng đưa ra những nội dung học tập phù hợp với
khả năng và sở thích của từng người.
1.1.4 Ưu, nhược điểm của E-learning.
Ưu điểm:
- Không bị giới hạn bởi không gian và thời gian: sự phổ cập rộng rãi
của Internet đã dần xóa đi khoảng cách về thời gian và không gian cho Elearning. Người học có thể chủ động học tập, thảo luận bất cứ lúc nào và
bất cứ nơi đâu.
- Tính hấp dẫn: Với sự hỗ trợ của công nghệ Multimedia, những bài
giảng tích hợp text, hình ảnh minh họa, âm thanh làm tăng thêm tính hấp
dẫn của bài học.
- Tính linh hoạt: Người học có thể tự điều chỉnh quá trình học, lựa
chọn cách học phù hợp nhất với hoàn cảnh của mình.
- Tính cập nhật: Nội dung bài học thường xuyên được cập nhật và đổi
mới nhằm đáp ứng tốt nhất và phù hợp nhất với học sinh.
- Học có sự hợp tác, phối hợp: Các học sinh có thể dễ dàng trao đổi
thông tin với nhau, với giáo viên qua các diễn đàn (forum), hội thoại, trực
tuyến (chat), thư từ (e – mail)…
bang ở Hoa kỳ các nhà quản lí giáo dục đã ban hành quy định trước khi
được công nhận tốt nghiệp, mỗi học sinh phải đăng kí học một môn nhất
định tại các lớp học trực tuyến. Các lớp học trực tuyến này có thể được tổ
chức tập trung tại các trường hoặc học sinh học ở nhà. Đây là bước chuẩn
bị nhằm trang bị cho học sinh những kĩ năng cần thiết cho việc học tại các
trường đại học sau này và thích ứng với môi trường làm việc của thế kỉ 21.
Theo ước tính của Bộ giáo dục Hoa kì, các nước này đã có khoảng
710 trường phổ thông áp dụng phương thức học trực tuyến với khoảng
1,03 triệu học sinh (trong đó có hơn 20000 học sinh học toàn phần) tính
đến năm 2007 – 2008. E-learning cũng là giải pháp khá phù hợp với những
học sinh trượt tốt nghiệp hay những nhóm học sinh lười học. Chẳng hạn ở
Quận 13 Tokio (Nhật Bản) có hàng chục học sinh lười học, không muốn
đến trường. Phòng giáo dục Quận đã xây dựng Website riêng để những học
sinh này học ở nhà, theo hình thức “ vừa học vừa chơi”.
4
Là một quốc gia châu Á, kinh tế của Hàn quốc cũng chưa phải là tốp
ten của thế giới nhưng giáo dục nước này đã không ngần ngại đầu tư cho Elearning hàng tỷ USD, đầu tư cho sự phát triển Internet gấp 10 lần vào năm
2014. Hàn Quốc sẽ phải đấu tranh để trở thành một tiêu điểm về xu hướng
giáo dục mới để thế giới nhìn vào.
Nhiều trường học trên mạng ( Web schcool) ra đời và trở thành nổi
tiếng, Megastudy là một điển hình và trở thành mạng giáo dục trực tuyến
lớn nhất tại Hàn Quốc với doanh số hàng năm trên 245 tỉ won (3500 tỉ Việt
Nam đồng). Lượng học sinh theo các cấp bậc được phân ra: Trung học phổ
thông (www.megastudy.net) với 2,4 triệu người ghi danh, trung học cơ sở
(www.mbest.net) với 2 triệu người, tiểu học (www.mjunior.net) với 3,7
triệu người.
Chính phủ Hàn Quốc Xem Web như một công cụ để hạ nhiệt chi phí
dạy kèm tại các trung tâm luyện thi, tái lập bình đẳng trong giáo dục. EBS,
Chủ trương của Bộ giáo dục và đào tạo trong giai đoạn tới là tích cực
triển khai các hoạt động xây dựng một xã hội học tập mà ở đó mọi công
dân( từ THPT, SV, các tầng lớp người lao động…) đều có cơ hội được học
tập, bất cứ lúc nào (any time), bất cứ nới đâu (any where) và học tập suốt
đời (life long learning). Để thực hiện được mục tiêu trên, E-learning có một
vai trò chủ đạo trong việc tạo ra một môi trường học tập ảo.
•
Một số khó khăn khi triển khai E – learning cho học sinh trung học
phổ thông ở Việt Nam.
Một là: Về xây dựng nguồn tài nguyên bài giảng: Để soạn bài giảng
E-learning có chất lượng đòi hỏi tốn nhiều công sức của giáo viên. Hiện
nay chế độ hỗ trợ chưa phù hợp với công sức bỏ ra để soạn bài giảng Elearning, vì vậy chưa khuyến khích được giáo viên. Đời sống của giáo viên
gặp nhiều khó khăn, áp lực thi cử, bệnh thành tích trong giáo dục… hậu
6
quả là giáo viên không có thời gian đầu tư cho E-learning. Nhiều giáo viên
giỏi về chuyên môn và khả năng sư phạm, sử dụng phần công nghệ (ghi
hình, thu âm, sử dụng phần mềm) còn hạn chế nên chưa phát huy được đội
ngũ này.
Hai là: Về phía người học: Học tập theo phương pháp E-learning đòi
hỏi người học phải có tinh thần tự học, do ảnh hưởng của cách học thụ
động truyền thống, tâm lí học phải có thầy (không thầy đố mày làm nên).
nội dung quá tải tại trường… dẫn đến việc tham gia học E-learning chưa
trở thành động lực học tập. Nhiều học sinh nghèo, nhất là ở vừng sâu vùng
xa, chưa thể trang bị máy vi tính kết nối Internet, nhiều thông tin trên mạng
Internet dẫn đến gia đình lo lắng khi con em mình vào mạng cũng là lí do
hạn chế E-learning đối với học sinh trung học phổ thông.
Như vậy, E-learning có nhiều ưu điểm hơn so với phương pháp dạy
học truyền thống, tạo ra được một môi trường rất tốt phục vụ cho phương
pháp dạy học tương tác, cá nhân hóa người học. Tuy vậy, với những nhược
điểm nêu trên, E – learning cũng không phải là một giải pháp hoàn hảo và
cũng không thể thay thế hoàn toàn phương pháp học truyền thống.
Vì vậy, một giải pháp kết hợp là sử dụng E – learning và những
phương pháp giảng dạy truyền thống song song. Học sinh có thể thực hiện
mọi hoạt động học tập có thể trên E-learning, tham gia như đang học trên
một khóa học thực sự. Trừ giờ thực hành, thí nghiệm sẽ phải lên phòng thí
8
nghiệm để tiếp cận thực sự với công việc. Ngoài ra, có thể gặp giáo viên
trong một số buổi để thảo luận, trao đổi và giải quyết một số vấn đề nhằm
mục đích rèn luyện kĩ năng giao tiếp xã hội.
1.2. Cách xây dựng E-learning dựa trên phần mềm Lecture Maker
1.2.1 Làm quen với môi trường làm việc của Lecture Maker.
LectureMaker là phần mềm soạn thảo bài giảng điện tử đa phương
tiện, sản phẩm của công ty Daulsoft Hàn Quốc (www.daulsoft.com). Với
LectureMAKER, bất kỳ ai cũng có thể tạo được bài giảng đa phương tiện
nhanh chóng và dễ dàng. Không chỉ có vậy, bạn còn có thể tận dụng lại các
bài giảng đã từng làm trên những định dạng khác như PowerPoint, PDF,
Flash, HTML, Audio, Video… để đưa vào làm nội dung bài giảng mới của
mình với ý nghĩa:
- Bài giảng được tạo ra trên một bố cục trình bày đồng nhất cho tất cả
các trang nội dung của bài giảng.
- Bài giảng sẽ được chia thành các phần tương ứng như trong một tiết
học với phần kiểm tra bài cũ, phần bài học mới và phần củng cố kiến thức
mới học.
- Bài giảng điện tử nhấn mạnh đến khả năng tự học của người học, do
- Tạo một bài giảng mới:
Để tạo mới một bài giảng, kích chọn nút Lecture Maker button ,
sau đó chọn New, một bài giảng mới sẽ được tạo ra.
- Đặt hình nền cho bài giảng mới:
Sau khi kích chọn nút New, một bài giảng trắng sẽ được tạo ra như:
Hình 1.2: Trang trắng
Để đưa hình nền vào cho trang nội dung được đẹp mắt, sinh động có
2 cách:
+ Cách 1: Chọn một hình nền có sẵn trong menu Design. Sau đó, kích
chọn vào một ảnh mình thích trong phần Design ví dụ như:
11
Hình 1.3 Chọn một hình nền
+ Cách 2: Chọn một hình nền từ bên ngoài.
Để làm việc này, bạn nháy chuột phải vào trang nội dung muốn đặt
ảnh nền, chọn Slide Property, cửa sổ thuộc tính của Slide như bên dưới:
Hình 1.4 Thuộc tính trang
Ở ô Background Image, chọn nút Open bên cạnh ô đó và tìm đến nơi
đặt ảnh mong muốn làm ảnh nền.
- Lưu bài giảng mới tạo:
12
13
- Title Master: tương ứng với Slide đầu tiên của bài giảng, là Slide
giới thiệu thông tin về bài giảng.
- Body Master: tương ứng với các Slide nội dung trong bài giảng.
Để tạo tính thống nhất cho bài giảng:
+ Đầu tiên là chọn 1 mẫu template cho Title Master bằng cách kích
chọn Slide Title Master trên khung hình Slide Master, sau đó trong ô
Template của menu Design, tiến hành chọn một mẫu template mong muốn.
+ Với Slide Body Master, chọn Slide này trong khung hình Slide
Master rồi chọn một mẫu template mong muốn trong ô Template của
menu Design.
Kết quả ta được như dưới hình:
Hình 1.5 Thiết lập Slide
Chú ý: Bạn tạo tính thống nhất cho bài giảng trên khung hình Master
Slide. Để soạn thảo nội dung bài giảng, bạn phải đóng khung hình Master
Slide này lại để trở về khung hình soạn thảo Slide Screen.
- Đưa nội dung đã có trên Power point vào bài giảng.
Sau khi đóng khung hình MasterSlide, ta quay trở về khung hình Slide
Screen. Lúc này trên màn hình có sẵn Slide đầu tiên là Slide mà bạn sẽ đưa
14
các nội dung giới thiệu về bài giảng như là: Tên bài giảng, Nội dung gì, Họ
tên thầy giáo, Tên trường …
Đưa nội dung giới thiệu vào Slide đầu tiên:
Hình 1.6 Slide giới thiệu
Kiểu
insert
insert
Lựa
Lựa chon
chon
slide
slide
Hình 1.9 Đưa slide từ PowerPoint vào bài giảng.
Sau khi bạn kích nút Import, LectureMAKER sẽ tự động tạo ra số
Slide tương ứng với số Slide đã được chọn, đồng thời đặt nội dung các
slide vào đúng vị trí ô thể hiện nội dung trên bài giảng như hình dưới:
Hình 1.10 Các slide được đưa vào.
17