BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI & BẤT ĐỘNG SẢN
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
“ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CƠNG TÁC CẤP GIẤY
CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN ĐỊA
BÀN HUYỆN CỦ CHI - TP. HỒ CHÍ MINH”
SVTH
MSSV
LỚP
KHÓA
NGÀNH
:
:
::
:
:
ĐỖ VĂN HIẾU
04124023
DH04QL
2004 – 2008
Quản Lý Đất Đai
-TP.Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2008-
Thiện đã tận tình hướng dẫn, giúp em hoàn thành.
Xin cảm ơn bạn bè trong và ngoài lớp đã giúp đỡ tôi trong thời gian học tập tại
trường
Do thời gian và trình độ còn hạn chế nên bài báo cáo còn nhiều thiếu sót khuyết
điểm, kính mong quý thầy cô cùng các bạn thông cảm và góp ý.
Xin chân thành cảm ơn.
TÓM TẮT
Đỗ Văn Hiếu, Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 8/2008.
Đề tài: “Đánh giá thực trạng công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
trên địa bàn huyện Củ Chi - TP.Hồ Chí Minh”.
Giáo viên hướng dẫn: CN. Phạm Hùng Thiện.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là cơ sở để Nhà nước nắm chắc và quản lý
chặt toàn bộ quỹ đất, đồng thời cũng là cơ sở để người sử dụng đất thực hiện các
quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật đất đai. Vì thế, hoàn thành tốt
công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là yêu cầu của cả các cơ quan quản
lý đất đai và người sử dụng đất.
Củ Chi là huyện ngoại thành của Thành phố Hồ Chí Minh, tiềm năng đất đai là
rất lớn. Diện tích tự nhiên của huyện là 43.496,59 ha chiếm 20,76% diện tích tự nhiên
toàn Thành phố.
Năm 2007, đã khai thác đưa vào sử dụng cho các ngành, các lĩnh vực được
43.275,81 ha, chiếm 99,49 % diện tích tự nhiên. Hiện còn 220,78 ha đất chưa sử dụng
chiếm 0,51%.
Tốc độ đô thị hoá trên địa bàn huyện cũng khá cao làm cho tình hình sử dụng đất
diễn ra khá phức tạp, biến động đất đai rất thường xuyên. Chuyển nhượng quyền sử
dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất, tranh chấp đất đai… là vấn đề nóng bỏng luôn
được mọi ngành, mọi người quan tâm; đã gây không ít khó khăn cho công tác quản lý
đất đai, trong đó có công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng.
Hiện nay trên địa bàn huyện chưa thành lập Văn phòng đăng ký quyền sử dụng
QSDĐƠ
TTLT
TTg
UBND
Bộ Tài chính
Bộ Tài nguyên - Môi trường
Chỉ thị
Chính phủ
Đăng ký thống kê
Giấy chứng nhận
Gấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở
Giá trị sản xuất
Nghị định
Quyết định
Quyền sử dụng đất
Quyền sử dụng đất ở
Thông tư liên tịch
Thủ tướng
Uỷ ban nhân dân
MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ ........................................................................................................1
PHẦN I: TỔNG QUAN .......................................................................................2
I.1. Cơ sở lý luận ........................................................................................................2
I.1.1. Cơ sở khoa học ..........................................................................................2
I.1.2. Cơ sở pháp lý ............................................................................................4
II.2. Hiện trạng sử dụng đất, biến động đất đai .......................................................30
II.2.1. Hiện trạng sử dụng đất ..........................................................................30
II.2.2. Biến động đất đai ...................................................................................35
II.3. Tình hình cấp GCNQSDĐ qua các thời kỳ ......................................................39
II.3.1. Kết quả cấp GCNQSDĐ qua các giai đoạn ..........................................39
1) Giai đoạn năm 1993-1998 ...................................................................39
2) Giai đoạn năm 1999-2002 ...................................................................40
3) Giai đoạn năm 2003 .............................................................................42
4) Giai đoạn năm 2004 .............................................................................43
5) Giai đoạn năm 2005 .............................................................................44
6) Giai đoạn năm 2006 .............................................................................46
7) Giai đoạn năm 2007 .............................................................................48
8) Giai đoạn 4 tháng đầu năm 2008 .........................................................49
II.3.2. Đánh giá công tác cấp GCNQSDĐ....................................................... 50
1) Giới thiệu quy trình cấp GCNQSDĐ được áp dụng trên
địa bàn huyện theo Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ................................50
2) Đánh giá công tác cấp GCNQSDĐ .....................................................51
II.4. Những thuận lợi, khó khăn trong công tác cấp GCNQSDĐ ...........................55
II.4.1. Thuận lợi ................................................................................................55
II.4.2. Khó khăn................................................................................................ 55
KẾT LUẬN .............................................................................................................56
PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bài giảng Đăng ký và Thống kê đất đai.
2. Bài giảng Quản lý Nhà nước về đất đai.
PHỤ LỤC
Mẫu Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 2003.
Ngành Quản Lý Đất Đai
SVTH: ĐỖ VĂN HIẾU
ĐẶT VẤN ĐỀ
Quá trình khai thác sử dụng đất luôn gắn liền với sự phát triển kinh tế - xã hội, an
ninh - quốc phòng của một quốc gia. Xã hội càng phát triển thì nhu cầu sử dụng đất
càng tăng trong khi quỹ đất lại có hạn. Vấn đề đặt ra là phải quản lý, sử dụng đất đai
một cách tiết kiệm, hợp lý, hiệu quả và bền vững.
Ở nước ta đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống
nhất quản lý. Quản lý Nhà nước về đất đai vì thế có vai trò đặc biệt quan trọng.
Củ Chi là huyện ngoại thành của Thành phố Hồ Chí Minh, đang trong quá trình
đô thị hoá. Tình hình sử dụng đất diễn ra hết sức phức tạp, biến động đất đai rất
thường xuyên. Chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất, tranh
chấp đất đai… là vấn đề nóng bỏng luôn được mọi ngành, mọi người quan tâm; đã gây
không ít khó khăn cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai nói chung và công tác cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói riêng. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất là đòi hỏi khách quan và vô cùng cấp bách.
Vì thế chúng tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá thực trạng công tác cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện Củ Chi – TP.Hồ Chí Minh”.
● Mục tiêu nghiên cứu.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đánh giá thực trạng công tác cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện Củ Chi - TP.Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó,
đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề sau:
+ Phân tích, đánh giá kết quả thực hiện công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử
đình, cá nhân sử dụng. Người sử dụng đất được hưởng các quyền trong việc sử dụng
đất của mình, đồng thời phải thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước theo quy định
của pháp luật đất đai.
ii. Đăng ký đất đai.
Đăng ký đất đai là một thủ tục hành chính để thiết lập hồ sơ địa chính đầy đủ và
cấp GCNQSDĐ cho người sử dụng đất đủ điều kiện, nhằm xác lập mối quan hệ pháp
lý giữa Nhà nước với người sử dụng đất, làm cơ sở để Nhà nước quản lý chặt chẽ đất
đai theo pháp luật; đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.
Đăng ký đất đai gồm hai giai đoạn:
+ Đăng ký lần đầu: được tổ chức thực hiện lần đầu trên phạm vi cả nước để thiết
lập hồ sơ địa chính ban đầu cho toàn bộ đất đai và cấp GCNQSDĐ cho tất cả các chủ
sử dụng đất đủ điều kiện (bao gồm: người được nhà nước giao đất, cho thuê đất; người
đang sử dụng đất mà thửa đất đó chưa được cấp GCNQSDĐ);
+ Đăng ký biến động: được thực hiện cho mọi trường hợp có nhu cầu thay đổi nội
dung của hồ sơ địa chính đã được thiết lập (bao gồm: chuyển đổi, chuyển nhượng,
thừa kế, tặng cho, cho thuê, cho thuê lại QSDĐ; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng
QSDĐ; đổi tên, thay đổi đường ranh giới thửa đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thay
đổi thời hạn sử dụng đất, chuyển từ hình thức Nhà nước cho thuê đất sang hình thức
giao đất có thu tiền sử dụng đất, thay đổi về những hạn chế quyền của người sử dụng
đất, Nhà nước thu hồi đất).
iii. Hồ sơ địa chính.
Hồ sơ địa chính là hệ thống tài liệu, số liệu, bản đồ, sổ sách… chứa đựng những
thông tin cần thiết về các mặt tự nhiên, kinh tế - xã hội và pháp lý của thửa đất được
thiết lập trong quá trình đo đạc bản đồ địa chính; đăng ký đất ban đầu, đăng ký biến
động đất đai; cấp GCNQSDĐ. Các tài liệu của hồ sơ địa chính gồm có:
+ Bản đồ địa chính;
+ Sổ địa chính;
+ Sổ mục kê đất đai;
+ Sổ theo dõi biến động đất đai.
iv. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Luật Đất đai năm 2003. Khi chuyển quyền sử dụng đất thì người nhận quyền sử dụng
đất đó được cấp GCNQSDĐ theo quy định của Luật Đất đai năm 2003.
2) Những trường hợp được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Điều 49 của Luật Đất đai năm 2003 quy định việc Nhà nước cấp GCNQSDĐ cho
những trường hợp sau:
+ Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất (trừ trường hợp thuê đất nông
nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn);
+ Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ ngày 15/10/1993 đến trước
ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà chưa được cấp GCNQSDĐ;
+ Người đang sử dụng đất theo quy định tại Điều 50 và Điều 51 của Luật này mà
chưa được cấp GCNQSDĐ (bao gồm: hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư và tổ
chức, cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất);
+ Người được chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, được thừa kế, nhận tặng cho
QSDĐ; người nhận QSDĐ khi xử lý hợp đồng thế chấp, bảo lãnh bằng QSDĐ để thu
hồi nợ; tổ chức sử dụng đất là pháp nhân mới được hình thành do các bên góp vốn
bằng QSDĐ;
+ Người sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Toà án nhân dân, quyết
định thi hành án của cơ quan thi hành án hoặc quyết định giải quyết tranh chấp đất đai
của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành;
+ Người trúng đấu giá QSDĐ, đấu thầu dự án có sử dụng đất;
+ Người sử dụng đất quy định tại các Điều 90, 91 và 92 của Luật này (bao gồm:
đất khu công nghiệp, khu công nghệ cao và khu kinh tế);
+ Người mua nhà ở gắn liền với đất ở;
+ Người được Nhà nước thanh lý, hoá giá nhà ở gắn liền với đất ở.
3) Những trường hợp không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Trang 3
Ngành Quản Lý Đất Đai
+ Quyết định số 24/2004/QĐ-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên Môi trường Ban hành quy định về GCNQSDĐ;
+ Quyết định số 25/2004/QĐ-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên Môi trường Ban hành kế hoạch triển khai thi hành Luật Đất đai năm 2003;
+ Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ Về thu tiền sử
dụng đất;
+ Thông tư số 117/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ Tài chính Hướng dẫn
thực hiện Nghị định số 198/2004/NĐ-CP;
+ Thông tư số 01/2005/TT-BTNMT ngày 13/4/2005 của Bộ Tài nguyên - Môi
trường Hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP;
+ Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006 của Chính phủ Về sửa đổi, bổ
sung một số điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai và Nghị định số
187/2004/NĐ-CP Về việc chuyển công ty Nhà nước thành công ty cổ phần;
+ Quyết định số 08/2006/QĐ-BTNMT ngày 21/7/2006 của Bộ Tài nguyên - Môi
trường Ban hành quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thay thế Quyết
định số 24/2004/QĐ-BTNMT;
+ Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ Quy định bổ sung
về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; thu hồi đất; thực hiện quyền sử dụng
Trang 4
Ngành Quản Lý Đất Đai
SVTH: ĐỖ VĂN HIẾU
đất; trình tự, thủ tục bồi thường, hổ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải
quyết khiếu nại về đất đai;
+ Thông tư liên tịch số 14/TTLT/BTC-BTNMT ngày 31/01/2008 Hướng dẫn
thực hiện một số điều của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP…
2) Văn bản cấp địa phương.
+ Chỉ thị số 26/2004/CT-UB ngày 15/9/2004 của UBND Thành phố Hồ Chí
Minh Về tổ chức triển khai thi hành Luật Đất đai năm 2003 trên địa bàn Thành phố;
Ngành Quản Lý Đất Đai
SVTH: ĐỖ VĂN HIẾU
thuế. Sổ địa bạ được lập thành ba bản: bản giáp, bản bính và bản đinh. Hệ thống sổ
này không có bản đồ kèm theo và không dùng một đơn vị đo lường thống nhất ở các
địa phương nên việc sử dụng sổ rất khó khăn và không được tu chỉnh theo định kỳ.
+ Sổ địa bộ thời Minh Mạng: cũng được lập tới từng làng, xã nhưng có nhiều tiến
bộ so với sổ địa bạ thời Gia Long như: sổ được lập trên cơ sở đạc điền, có bản mô tả
các thửa ruộng kèm theo sổ bộ. Sổ địa bộ cũng được lập thành ba bản như sổ địa bạ.
Dưới thời Pháp thuộc, do chính sách cai trị của bọn thực dân, trên lãnh thổ nước
ta đã tồn tại nhiều chế độ điền địa khác nhau:
+ Chế độ quản lý địa bộ tại Nam kỳ;
+ Chế độ bảo tồn điền trạch, sau đổi thành quản thủ địa chánh tại Trung kỳ;
+ Chế độ bảo thủ để áp (còn gọi là để đương) áp dụng đối với bất động sản của
người Pháp và kiều dân kết ước theo luật lệ Pháp quốc;
+ Chế độ điền thổ theo sắc lệnh 29/3/1939 áp dụng tại Bắc kỳ;
+ Chế độ điền thổ theo sắc lệnh 21/7/1925 áp dụng tại Nam kỳ và các nhượng địa
Pháp quốc ở Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng.
2) Giai đoạn từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến năm 1979.
Trong giai đoạn này, Nhà nước vẫn chưa có một văn bản pháp lý nào làm cơ sở
nên công tác đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính, cấp GCNQSDĐ vẫn chưa được triển
khai. Hoạt động chủ yếu của ngành trong giai đoạn này là tổ chức các cuộc điều tra
nhanh về đất để giúp Nhà nước quản lý chặt chẽ diện tích để phục vụ yêu cầu xây
dựng kế hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp, xây dựng các hợp tác xã và tập đoàn
sản xuất.
Hệ thống tài liệu đất đai trong giai đoạn này chủ yếu gồm hai loại: bản đồ giải
thửa, sổ mục kê kiêm thống kê ruộng đất. Trong đó thông tin về người sử dụng đất trên
sổ sách chỉ phản ánh theo hiện trạng, không thể tra cứu đến cơ sở pháp lý và lịch sử sử
14/7/1989 Về việc ban hành quyết định cấp GCNQSDĐ và Thông tư số 302/ĐKTK
ngày 28/10/1989 Hướng dẫn thi hành quyết định này. Việc ban hành các văn bản này
đã tạo ra một sự chuyển biến lớn về chất trong việc thực hiện đăng ký đất đai và bắt
đầu từ năm 1990 được triển khai đồng loạt trên phạm vi cả nước.
Tuy nhiên, trong thực tiễn việc triển khai đăng ký đất đai vẫn còn một số vướng
mắc cần giải quyết: do chất lượng hồ sơ thiết lập theo Chỉ thị số 299/TTg còn có quá
nhiều tồn tại, hệ thống chính sách đất đai lại đang trong quá trình đổi mới. Vì vậy công
việc triển khai cấp GCNQSDĐ tại các địa phương, nhất là các tỉnh phía Bắc và duyên
hải miền Trung thực hiện rất chậm. Đặc biệt do chính sách chưa ổn định nhiều địa
phương đã thực hiện cấp GCNQSDĐ tạm thời.
5) Giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2003.
Thành công của việc thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị đã tạo cơ sở vững
chắc cho sự ra đời của Luật đất đai năm 1993 (được thông qua ngày 14/7/1993 và có
hiệu lực thi hành ngày 15/9/1993) với những thay đổi lớn: ruộng đất được giao ổn định
lâu dài cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng; đất đai có giá trị; mở rộng quyền cho người
sử dụng đất (chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế QSDĐ, thế chấp bằng
QSDĐ). Với những thay đổi đó, yêu cầu hoàn thành cấp GCNQSDĐ ngày càng trở
nên cấp bách. Nhận thức được điều đó, chính quyền các cấp bắt đầu coi trọng và tập
trung chỉ đạo nhanh tiến độ cấp GCNQSDĐ trên phạm vi cả nước với mục tiêu hoàn
thành cấp GCNQSDĐ vào năm 2000 (khu vực nông thôn) và năm 2001 (khu vực đô
thị) theo các Chỉ thị số 10/1998/CT-TTg và Chỉ thị số 18/1999/CT-TTg của Thủ tướng
Chính phủ.
Sự khẳng định đất đai có giá trị, người sử dụng đất được nới rộng các quyền đã
tạo ra sự chuyển biến lớn về giá cả đất đai và vấn đề quản lý đô thị, quản lý đất đai
phải gắn liền với quản lý Nhà nước. Xuất phát từ tình hình đó, ngày 05/4/1994, Chính
phủ ban hành Nghị định số 60/CP. Nghị định này đã trở thành cột mốc quan trọng
trong việc lập lại trật tự pháp lý cho lĩnh vực nhà đất tại đô thị. Nghị định xác định rõ
các vấn đề QSDĐ phải được xem xét từ nguồn gốc và tính hợp pháp của quá trình tạo
lập. Theo tinh thần Nghị định này thì người sử dụng đất ở tại đô thị phải được cấp
GCNQSHNƠ và QSDĐƠ. Việc đăng ký nhà ở và đất ở tại đô thị bắt đầu được thực
+ Phía Nam giáp huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh;
+ Phía Tây giáp tỉnh Long An.
Nằm ở vị trí quan trọng trong chiến lược quốc phòng - an ninh của Thành phố với
căn cứ Đồng Dù, Địa đạo Củ Chi và Quốc lộ 22 chạy qua; Củ Chi là huyện nối giữa 2
vùng Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ. Vì vậy có điều kiện khá thuận lợi trong giao lưu
phát triển kinh tế - văn hoá với bên ngoài.
ii. Địa hình, địa mạo.
Củ Chi nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Tây Nam Bộ và miền sụt Đông
Nam Bộ với độ cao giảm dần theo 2 hướng Tây Bắc - Đông Nam và Đông Bắc - Tây
Nam. Độ cao trung bình so với mặt nước biển từ 8 - 10m, độ cao lớn nhất là 22m (xã An
Nhơn Tây), độ cao nhỏ nhất là 0,5m (xã Bình Mỹ). Cấu trúc địa hình có 3 dạng chính:
+ Vùng đồi gò: Cao độ 10 - 15m, tập trung ở phía Bắc huyện, gồm các xã Phú Mỹ
Hưng, An Nhơn Tây, Nhuận Đức;
+ Vùng triền: Chuyển tiếp giữa vùng đồi gò và vùng bưng trũng, độ cao từ 5 - 10m
phân bố trên hầu hết các xã;
+ Vùng bưng trũng: Cao độ từ 1 - 2m, tập trung ở các xã phía Nam, Tây Nam và
ven sông Sài Gòn (các xã Phú Hoà Đông, Bình Mỹ, Trung An...).
Trang 8
Ngành Quản Lý Đất Đai
SVTH: ĐỖ VĂN HIẾU
iii. Khí hậu, thời tiết.
Củ Chi nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mang tính chất xích đạo. Có 2
mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm
sau, với đặc điểm chính là:
+ Nhiệt độ tương đối ổn định, cao đều trong năm và ít thay đổi, trung bình năm
Độ ẩm
+ Độ ẩm trung bình năm
79,5%
+ Độ ẩm trung bình tháng cao nhất
90%
+ Độ ẩm trung bình tháng thấp nhất
70%
+ Chế độ gió: Củ Chi nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của 2 hướng gió mùa chủ
yếu, phân bố vào các tháng trong năm như sau:
- Từ tháng 2 đến tháng 5 thịnh hành gió Đông Nam hoặc Nam;
- Từ tháng 5 đến tháng 9 thịnh hành gió Tây - Tây Nam;
- Ngoài ra, từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau có gió Đông Bắc.
Nhìn chung huyện Củ Chi với các đặc điểm khí hậu nóng ẩm, nhiệt độ tương đối
ổn định, thuận lợi cho sản xuất nông - lâm nghiệp và sinh hoạt của nhân dân. Tuy nhiên
lượng mưa tập trung theo mùa nên có những kỳ xảy ra hạn hán làm thiệt hại cho năng
suất hoa màu và đời sống dân sinh.
iv. Thuỷ văn.
Củ Chi có hệ thống sông, kênh, rạch khá đa dạng với những đặc điểm chính sau:
+ Sông Sài Gòn chịu ảnh hưởng chế độ dao động bán nhật triều, với mực nước
triều bình quân thấp nhất là 1,2 m và cao nhất là 2,0 m.
Trang 9
Ngành Quản Lý Đất Đai
SVTH: ĐỖ VĂN HIẾU
+ Các hệ thống kênh rạch tự nhiên khác đa số chịu ảnh hưởng trực tiếp chế độ thuỷ
văn của sông Sài Gòn như: Rạch Tra, Rạch Sơn, Bến Mương ... Riêng chỉ có kênh Thầy
Cai chịu ảnh hưởng chế độ thuỷ văn của sông Vàm Cỏ Đông.
Hiện nay, đất phèn đã được khai thác trồng lúa, rau màu và các loại cây ăn quả.
Ngoài ra trên địa bàn huyện còn có các loại đất khác như:
+ Đất nhiễm phèn, dốc tụ trên nền phèn, có diện tích 1.460 ha chiếm 3,41% diện
tích đất của huyện, phân bố trên các vùng thấp, tập trung ở các xã: Thái Mỹ, Trung Lập
Trang 10
Ngành Quản Lý Đất Đai
SVTH: ĐỖ VĂN HIẾU
Hạ, Tân Phú Trung;
+ Đất phù sa trên nền phèn, có diện tích 192 ha chiếm 0,45% diện tích đất của
huyện, phân bố dọc theo sông Sài Gòn.
● Địa chất công trình, địa chất thủy văn.
Vùng huyện Củ Chi chủ yếu là phù sa cổ và trẻ, theo sức chịu tải và mực nước
ngầm chia ra như sau:
+ Đất loại 1: Có sức chịu tải 1,5kg/cm 2, mực nước ngầm cách mặt đất 5 - 12m
chiếm 34% diện tích toàn huyện.
+ Đất loại 2: Chiếm 19%.
+ Đất loại 3: Chiếm 5,5%.
+ Đất loại 4: Sức chịu tải
+ Đất rừng phòng hộ là 27,44 ha; chủ yếu là keo lá tràm phân bố ở xã Phú Mỹ
Hưng.
Rừng của huyện chiếm tỷ lệ rất nhỏ, chủ yếu là rừng trồng và rừng thứ sinh tự
nhiên. Diện tích rừng phân bố ở các khu bảo tồn, khu di tích lịch sử nên trữ lượng
hạn chế.
iv. Tài nguyên khoáng sản.
Tài nguyên khoáng sản trên địa bàn huyện khá phong phú so với mặt bằng chung
của Thành phố, gồm có các loại chủ yếu sau:
+ Mỏ Cao Lanh có trữ lượng khoảng 5 triệu tấn phân bố chủ yếu ở Rạch Sơn.
+ Than bùn ở Tam Tân, trữ lượng khoảng 0,5 triệu tấn.
+ Sạn sỏi ở Bàu Chứa, trữ lượng khoảng 0,8 triệu tấn.
Ngoài ra, còn có mỏ đất sét làm gạch ngói và đá xây dựng nhưng với trữ lượng
không đáng kể.
v. Tài nguyên nhân văn.
Củ Chi là vùng đất có truyền thống văn hoá và tinh thần yêu nước quật cường.
Trong kháng chiến chống Pháp, Mỹ mảnh đất Củ Chi nổi tiếng là căn cứ cách mạng kiên
cường được mang tên “Đất thép Thành đồng”. Điển hình là hệ thống Địa Đạo Củ Chi đã
đương đầu với bom đạn Mỹ, sự huỷ diệt của kẻ thù và đã thắng lợi vẻ vang. Quân và dân
huyện Củ Chi được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang”.
Trong thời kỳ xây dựng và phát triển đất nước, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, toàn
Đảng, toàn dân, toàn quân huyện Củ Chi đã phát huy truyền thống đoàn kết, ý chí tự lực
tự cường, khắc phục mọi khó khăn đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng về kinh tế,
văn hoá và giữ vững trật tự an ninh xã hội trên địa bàn.
I.2.2. Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội.
1) Tăng trưởng kinh tế.
Trong những năm qua, thực hiện đổi mới cơ chế kinh tế, Đảng bộ và nhân dân
huyện Củ Chi đã nỗ lực phấn đấu vượt qua nhiều khó khăn và đạt được nhiều thành
tích quan trọng trên các lĩnh vực với tốc độ cao.
Trang 12
1.511,493
33,31
Ngành dịch vụ
473,030
537,768
726,104
24,35
( Nguồn: Phòng Thống kê huyện Củ Chi)
Như vậy, tốc độ tăng trưởng bình quân mỗi năm là đáng khích lệ (23,46%).
Trong đó, ngành nông nghiệp có mức tăng trưởng chậm lại (8,17%); ngành công
nghiệp và dịch vụ tăng nhanh ( 33,31% và 24,35% ).
2) Chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Kinh tế của huyện Củ Chi từng bước có sự chuyển dịch cơ cấu theo hướng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tỷ trọng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp trong cơ cấu
kinh tế chung của huyện giảm, ngành công nghiệp và dịch vụ tăng, đó là xu hướng
phát triển phù hợp với xu thế chung.
Cơ cấu kinh tế theo thành phần kinh tế có sự chuyển biến tích cực. Kinh tế Nhà
nước có tốc độ tăng trưởng chậm nhưng vẫn giữ vai trò chủ đạo. Kinh tế ngoài quốc
doanh từng bước khai thác được vốn và trí tuệ của nhân dân đã xuất hiện nhiều mô
hình kinh tế giỏi, nhiều doanh nghiệp làm ăn hiệu quả, huy động được mọi thành phần
kinh tế tham gia đầu tư phát triển các ngành kinh tế góp phần tích cực trong phát triển
kinh tế chung của huyện.
Bảng 3: Cơ cấu các ngành kinh tế giai đoạn năm 2005-2007.
Cơ cấu ( % )
Năm 2006
Năm 2007
Tổng GTSX
100,00
100,00
Ngành nông nghiệp
Giá trị sản xuất toàn ngành năm 2007 là 737,434 tỷ đồng, đạt 104,42% kế hoạch,
tăng 10,53% so với cùng kỳ. Trong đó, trồng trọt là 337,717 tỷ đồng chỉ đạt 92,78% kế
hoạch, chăn nuôi là 276,191 tỷ đồng đạt 117,35% kế hoạch, thuỷ sản tăng gấp 4 lần so
với cùng kỳ do các mô hình nuôi cá tra tăng mạnh, lâm nghiệp và dịch vụ nông nghiệp
đều đạt kế hoạch.
Kết quả sản xuất năm 2007 vượt kế hoạch trong điều kiện ngưng nuôi gia cầm,
diện tích lúa giảm là do sự chỉ đạo tập trung gia tăng sản lượng đàn heo, đàn bò sữa
cùng với sự tăng nhanh của diện tích trồng cỏ, rau an toàn và hoa cây kiểng.
+ Trồng trọt.
Tổng diện tích gieo trồng năm 2007 đạt 41.330 ha. Trong đó, cây lúa chiếm diện
tích lớn nhất. Diện tích trồng cỏ tăng nhanh do người dân sử dụng đất hoang, đất bưng
trũng trồng lúa năng suất thấp chuyển sang trồng và dưỡng cỏ phục vụ chăn nuôi bò.
Cây rau phát triển nhanh với diện tích gieo trồng rau an toàn ngày càng tăng.
Năm 2007 diện tích rau đạt 2.854 ha, trong đó diện tích gieo trồng rau an toàn là 2.812
ha. Đến nay, trên toàn huyện đã có 15 xã được công nhận là vùng sản xuất rau an toàn
với tổng diện tích canh tác đạt 909,35 ha.
Thuỷ sản tăng nhanh giá trị do phát triển nuôi cá tra được 20 ha, với đặc điểm
nước cấp và nước tiêu riêng biệt là lợi thế đặc biệt của nước Kênh Đông, đã hạn chế
bệnh và cá đạt chất lượng tốt.
+ Chăn nuôi.
Ngành chăn nuôi phát triển khá, chiếm 45% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp.
Đàn bò sữa đang có xu hướng tăng do giá sữa tăng, hiện được 25.959 con, đạt
105,96% kế hoạch, tăng 23,61% so cùng kỳ.
Đàn heo phát triển nhanh với quy mô chăn nuôi trang trại được mở rộng, hiện có
169.746 con, đạt 249,63% kế hoạch, tăng 161,15% so cùng kỳ.
Cá sấu được 20.348 con, đạt 109,95% kế hoạch, tăng 23,27% so cùng kỳ.
ii. Ngành công nghịêp.
Trang 14
ngành dịch vụ càng phát triển với quy mô lớn hơn. Tổng doanh số bán ra toàn ngành
năm 2007 là 2.903,103 tỷ đồng, đạt 101,51% kế hoạch, tăng 21,28% so cùng kỳ.
+ Hệ thống chợ phân bố trên địa bàn của các xã, thị trấn được hình thành và phát
triển từ lâu đời. Tuy nhiên do cơ sở hạ tầng của các chợ còn chắp vá, chưa được đầu tư cải
tạo, nhiều nơi chợ còn họp ở lòng đường gây cản trở giao thông. Trên địa bàn huyện chưa
hình thành và phát triển loại siêu thị, trung tâm thương mại, chợ chuyên doanh. Các chợ
chủ yếu là bán lẻ kinh doanh các mặt hàng tươi sống, lương thực thực phẩm, hàng tiêu
dùng, phục vụ nhu cầu thiết yếu của người dân.
+ Hoạt động tín dụng - ngân hàng tiếp tục phát triển, nguồn vốn huy động qua
ngân hàng năm 2007 đạt1.050 tỷ đồng, tăng 21% so cùng kỳ. Trong năm, Ngân hàng
Công thương Việt Nam và Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Á thành lập chi nhánh
đi vào hoạt động đã góp phần giải quyết nhu cầu vốn vay trong nhân dân khá lớn.
+ Lĩnh vực kinh doanh nhà hàng, khách sạn trên địa bàn huyện ngày càng phát
triển, phân bố chủ yếu ở Thị trấn Củ Chi và một số xã dọc Quốc lộ 22. Khu di tích Bến
Dược, Công viên nước Củ Chi, Khu du lịch sinh thái Bình Mỹ…hàng năm thu hút khá
đông lượng khách tham quan, vui chơi giả trí.
Trang 15