BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Minh Phượng
SỰ ĐỔI MỚI CÁCH NHÌN VỀ CON
NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT
NGƯỜI CÙNG QUÊ CỦA PHAN TỨ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN VĂN KHA
Thành phố Hồ Chí Minh - 2013
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn, biết ơn chân thành đến:
TS. Nguyễn Văn Kha, Thầy đã tận tình định hướng, dẫn dắt, giúp đỡ và
động viên tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô phòng Sau đại học, khoa Ngữ
Văn trường ĐH Sư phạm Tp. HCM và các thầy cô giảng viên đã tạo điều kiện
và giảng dạy tôi trong suốt khóa học.
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình của cố nhà văn Phan Tứ đã tạo điều
kiện và cung cấp cho tôi nhiều tư liệu quý giá về cuộc đời của nhà văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, tổ bộ môn Ngữ Văn trường
THPT Long Thới – Tp.HCM, cùng đồng nghiệp và bạn bè học viên lớp Cao
1.2. Sự nghiệp văn chương ....................................................................................16
1.2.1. Quá trình sáng tác....................................................................................16
1.2.2. Các tác phẩm đã xuất bản: ......................................................................23
1.2.3. Những trăn trở của Phan Tứ về vấn đề con người trong sáng tác văn học
...........................................................................................................................24
1.3. Hoàn cảnh sáng tác tiểu thuyết Người cùng quê ............................................32
1.3.1. Bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam sau 1975 ...........................................32
1.3.2. Sự vận động đổi mới văn học sau 1975 qua một số tác phẩm tiêu biểu
(trong phạm vi tiểu thuyết) ................................................................................34
Chương 2 SỰ ĐỔI MỚI CÁCH NHÌN VỀ CON NGƯỜI TRONG TIỂU
THUYẾT NGƯỜI CÙNG QUÊ TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG ..................41
2.1. Con người cá nhân .........................................................................................41
2.2. Con người trong mối quan hệ đan xen, phức tạp ..........................................53
2.3. Con người khát khao tận hưởng tình yêu và hạnh phúc ...............................57
Chương 3 SỰ ĐỔI MỚI CÁCH NHÌN VỀ CON NGƯỜI TRONG TIỂU
THUYẾT NGƯỜI CÙNG QUÊ TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT ............67
3.1.Sự dịch chuyển không – thời gian gắn với hành trình đời tư nhân vật ...........67
3.1.1. Nhà văn đặt nhân vật trong nhiều loại không gian khác nhau, theo sự vận
động của nhân vật..............................................................................................67
3.1.2. Thời gian không theo logic tuyến tính, có thể đảo chiều một cách tự do
...........................................................................................................................77
3.2. Kết cấu đa tuyến .............................................................................................84
3.2.1.Tuyến nhân vật và tuyến sự kiện đan chéo vào nhau...............................84
3.2.2. Sự kiện lịch sử, xã hội chi phối đời sống, số phận nhân vật ...................90
3.3. Cá thể hóa ngôn ngữ nhân vật ........................................................................95
3.3.1. Ngôn ngữ đối thoại..................................................................................95
3.3.2. Ngôn ngữ độc thoại ...............................................................................102
KẾT LUẬN ............................................................................................................107
con người có nhiều tìm tòi, đổi mới. Sự đổi mới quan niệm về con người diễn
2
ra mạnh mẽ ở mảng truyện đặc biệt là thể loại tiểu thuyết. Góp phần thay đổi
diện mạo của văn học sau năm 1975 là những sáng tác của nhà văn viết về
con người trong quá trình lao động, sản xuất và con người thế sự, đời tư như:
Nguyễn Khải, Nguyễn Mạnh Tuấn, Nguyễn Thị Ngọc Tú, Triệu Xuân, …;
con người trong cái nhìn phong tục – lịch sử: Tô Hoài, Ma Văn Kháng,…và
một loạt nhà văn với những tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh như: Hữu
Mai, Nguyễn Trọng Oánh, Nam Hà, Phan Tứ, Nguyễn Quang Sáng,…
Tìm hiểu sự đổi mới về cách nhìn con người trong văn học sau năm 1975,
luận văn của chúng tôi tập trung khảo sát bộ tiểu thuyết sử thi Người cùng quê
của Phan Tứ với mục đích sau đây:
1. Phan Tứ đã đóng góp không nhỏ tạo nên thành tựu chung của nền văn
học cách mạng Việt Nam. Bước vào nghề văn, Phan Tứ thử ngòi bút trên
nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, bút ký, hồi ký và đạt được thành công
nhất định ở mỗi thể loại. Gặt hái được nhiều thành công nhất phải kể đến tiểu
thuyết của nhà văn. Ông là nhà văn trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến
vĩ đại của dân tộc, vừa viết văn vừa trực tiếp cầm súng đánh giặc nên ông có
vốn sống phong phú về hiện thực xã hội, về con người trong chiến tranh. Hiện
thực con người trong tác phẩm của Phan Tứ là con người miền Trung – quê
hương của nhà văn. Vấn đề “ số phận con người” trước năm 1975 được nhà
văn quan tâm và xây dựng thành công gắn liền với số phận dân tộc. Ông còn
đi sâu lí giải và biểu dương sự biến chuyển tư tưởng của người nông dân bình
thường qua hoàn cảnh thử thách đã trở thành người anh hùng cách mạng.
Phan Tứ cũng như nhiều nhà văn khác trước 1975 đã góp phần làm phong
phú kho tàng văn học cách mạng bằng việc xây dựng thành công những hình
tượng nghệ thuật mang tầm vóc sử thi đẹp đẽ, lôi cuốn công chúng văn học
cuộc sống con người Việt Nam luôn sống động, chân thực. Bàn về vấn đề con
người trong sáng tác của Phan Tứ đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu:
4
2.1. Những công trình, bài viết liên quan đến vấn đề con người trong
sáng tác của nhà văn Phan Tứ trước 1975
Trong bài viết của Trần Đăng Suyền (1983) nhan đề: Phan Tứ với
những tiểu thuyết viết về chiến tranh (Văn nghệ Quân đội, số 9), tác giả cho
rằng: “Phan Tứ không tìm đến những điển hình nguyên mẫu anh hùng có sẵn
ngoài đời mà chú ý nhiều hơn tới những con người bình thường trong cuộc
sống” [92, tr.988], nhà văn chú ý “quá trình vươn tới chủ nghĩa anh hùng
cách mạng của những con người bình thường và cả những người lạc hậu
nữa” [92, tr.987]. Tác giả bài viết cũng nhận thấy hướng khai thác trong tiểu
thuyết của Phan Tứ là toàn bộ đời sống xã hội, đạo đức, tâm lý, tính cách của
con người chịu ảnh hưởng nhiều bởi chiến tranh. Chiến tranh chính là môi
trường để sàng lọc, phân hóa con người trong sáng tác của Phan Tứ. Bên cạnh
đó, Phan Tứ không chỉ miêu tả mâu thuẫn dân tộc, mâu thuẫn giai cấp đối
kháng mà còn chú ý tới thế giới bên trong của từng cá nhân, sự “giằng xé
trong mỗi con người”. Đánh giá về nhân vật trong tác phẩm của Phan Tứ, tác
giả Hoàng Mạnh Hùng (2004) trong Tiểu thuyết sử thi Việt Nam 1945- 1975
(Luận án Tiến sĩ, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội), nhận định rằng: những sáng
tác của Phan Tứ như Gia đình má Bảy, Mẫn và Tôi đã quan tâm đến số phận
con người và “là con người mang vẻ đẹp văn hóa, đã tiến gần tới những nhân
cách trong văn học” [43, tr.60]. Phạm Ngọc Hiền (2007) trong Thi pháp tiểu
thuyết sử thi Việt Nam 1945- 1975 (Luận án Tiến sĩ, Đại học KHXH&NV,
ĐHQG Hà Nội), khi trình bày quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng
tác văn học trước 1975, trong đó có tác phẩm của Phan Tứ, tác giả phân loại
quan niệm về con người gồm: con người đa diện và con người anh hùng. Tác
vấn đề trong văn học Việt Nam hiện đại, Nxb KHXH Hà Nội, 1999) có
nhận xét tinh tế về Người cùng quê: “Truyện được viết công phu, đề cập nhiều
vấn đề thông qua nhiều loại nhân vật: tốt có, xấu có, trung gian có” [34,
6
tr.331]. Tức là Phan Tứ xây dựng nhiều loại nhân vật khác nhau trong tính
phức tạp, đa dạng như hiện thực đời sống đang diễn ra. Nhà nghiên cứu Đặng
Tiến (Việt kiều Pháp) lại quan tâm đến khía cạnh khác của Người cùng quê.
Đó là tính chân thật của tác phẩm: “nhân vật của anh, từ chính diện đến phản
diện đều có thể là bà con, cô bác hay bạn bè tôi” [34, tr.333]. Đó là những
con người của cuộc sống đời thường mà quanh ta đều bắt gặp. Cũng đề cập
tới tính chân thật trong xây dựng hình tượng nhân vật của Người cùng quê,
nhà văn Thanh Quế (1994) trong bài Lang thang với Phan Tứ (báo Đà
Nẵng), cho rằng: “Viết đúng sự thật, đã chứng minh người cộng sản như
những người khác, chỉ khác lý tưởng. Anh không hạ thấp nhân vật hoặc đề
cao nhân vật, anh viết đúng như nhân vật” [88]. Nhận định của Thanh Quế
cho người đọc thấy được sự khác biệt của Phan Tứ so với nhiều nhà văn khác
cùng thời. Trong khi đa số nhà văn miêu tả người cộng sản là những anh hùng
sử thi đẹp toàn diện thì Phan Tứ miêu tả cả cái bình thường, đời thường trong
những con người ấy. Nhân vật của Phan Tứ phát triển tính cách như nó vốn
có, có mặt tích cực, có mặt tiêu cực.
Mai Hương (2002) trong Lê Khâm – Phan Tứ – Nhà văn chiến sĩ (Phan
Tứ toàn tập, T.1, tr.13, Nxb Văn học) nhấn mạnh tính chất cách mạng trong
Người cùng quê: “phản ánh sự trưởng thành của nhiều tầng lớp quần chúng
cách mạng trong suốt cả chặng đường dài lịch sử dân tộc từ trước và sau
cách mạng tháng Tám” [45, tr.24]. Trong bão táp cách mạng, nhân vật của
Phan Tứ thuộc mọi thành phần, mọi lứa tuổi đều trải qua những thử thách và
trưởng thành nhanh chóng. Nguyễn Văn Kha (2006) trong cuốn Đổi mới
Luận văn giới hạn tập trung nghiên cứu tiểu thuyết Người cùng quê của
Phan Tứ. Tuy nhiên, chúng tôi mở rộng sự khảo sát đến một số tiểu thuyết
như Ván bài lật ngửa, Hạt mùa sau, Giấy trắng để người đọc thấy được
không khí văn học đang có sự vận động đổi mới. Mặt khác, để có cái nhìn đối
8
sánh về con người trong sáng tác trước và sau năm 1975 của Phan Tứ, chúng
tôi mở rộng, tìm hiểu các tiểu thuyết của nhà văn trước 1975 như: Trước giờ
nổ súng, Gia đình má Bảy, Mẫn và tôi.
Ngoài ra, trong quá trình triển khai đề tài, luận văn còn có tham khảo
một số tác phẩm khác của các nhà văn tiêu biểu, với mong muốn làm sáng tỏ
hơn sự đổi mới về cách nhìn con người của Phan Tứ.
4. Phương pháp nghiên cứu
Căn cứ vào mục đích của đề tài, yêu cầu của đối tượng nghiên cứu, luận văn
sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
4.1. Phương pháp cấu trúc – hệ thống: Đặt tiểu thuyết Người cùng quê trong
hệ thống sáng tác của Phan Tứ, hệ thống tác phẩm tiểu thuyết cùng thời, trong
bối cảnh lịch sử xã hội, luận văn làm sáng tỏ hơn điểm riêng biệt trong cách
nhìn về con người của Phan Tứ.
4.2. Phương pháp lịch sử: Nhân vật trong tiểu thuyết sử thi là sản phẩm của
lịch sử. Hoàn cảnh chiến tranh chuyển sang thời hòa bình, những biến động
về kinh tế - xã hội, qua lăng kính cảm thụ hiện thực của nhà văn đều để lại
dấu ấn trong tác phẩm và nhân vật. Vì vậy, khi nghiên cứu sự đổi mới cách
nhìn về con người của Phan Tứ trong Người cùng quê cần sử dụng phương
pháp lịch sử để tìm hiểu.
4.3. Phương pháp so sánh: Mỗi giai đoạn sáng tác, nhà văn có thẩm mĩ nghệ
thuật riêng. Bằng việc so sánh với tư duy nghệ thuật của nhà văn trước 1975,
khảo (gồm 141 mục), Phụ lục (14 trang), luận văn gồm ba chương chính:
Chương 1: Nhà văn Phan Tứ và hoàn cảnh sáng tác tiểu thuyết Người cùng
quê
Ở chương này, chúng tôi trình bày cuộc đời cũng như đóng góp trong
sự nghiệp văn chương của Phan Tứ; sự ra đời của bộ tiểu thuyết Người cùng
quê trong bối cảnh xã hội Việt Nam sau 1975 có nhiều thay đổi và không khí
văn học sau 1975 (trong phạm vi tiểu thuyết) đang có sự vận động đổi mới.
10
Chương 2: Sự đổi mới cách nhìn về con người trong tiểu thuyết Người cùng
quê từ phương diện nội dung
Tiếp tục cảm hứng sử thi trong tiểu thuyết trước 1975, tiểu thuyết Người
cùng quê khám phá những chiều kích của đời sống con người Việt Nam, thể
hiện cái nhìn nhân văn của Phan Tứ. Con người được nhìn nhận từ bình diện
cá nhân, đặt trong những mối quan hệ đan xen, có niềm khát khao tận hưởng
về tình yêu và hạnh phúc.
Chương 3: Sự đổi mới cách nhìn về con người trong tiểu thuyết Người cùng
quê từ phương diện nghệ thuật
Cùng với sự đổi mới cách nhìn về con người, trong tiểu thuyết Người
cùng quê nhà văn Phan Tứ sử dụng những biện pháp nghệ thuật miêu tả thời
gian, không gian gắn với sự vận động của con người; xây dựng kết cấu đa
tuyến; ngôn ngữ mang tính cá thể.
11
Chương 1
NHÀ VĂN PHAN TỨ VÀ HOÀN CẢNH SÁNG TÁC
biệt với nhân dân vùng đóng quân. Cuối năm 1951, ông được phân công theo
đội quân tình nguyện Việt Nam sang chiến đấu ở chiến trường Hạ Lào. Năm
1954, ông từ Hạ Lào hành quân về Cảng Quy Nhơn tập kết ra Bắc, nén lòng
không ghé thăm gia đình đang sống ở miền Tây Quảng Nam. Những tháng
ngày gian khổ ở Lào được nhà văn ghi lại qua dòng hồi tưởng trong nhật ký
chiến trường về những trải nghiệm của ông: “Những cuộc hành quân dưới
nắng trời gay gắt, trong những cơn khát ghê gớm, đi trên những đường mòn
đầy sỏi đá làm trầy da chân, làm phồng dộp và sưng húp chân. Uống nước thì
là nước ao, phải rẽ lăng quăng và nòng nọc để múc. Các cuộc hành quân trên
cao nguyên Bôlôvên: lạnh đến rung cả rừng núi…đỉa và vắt vô kể, thiếu thuốc
hút, cháo nấu với măng rừng cho qua bữa” [53, tr.62]. Ba năm ở Lào, nhà
văn đã tích lũy cho bản thân vốn sống từ thực tiễn đấu tranh đầy khó khăn
gian khổ. Thực tế đó giúp ông sáng tác thành công hai tiểu thuyết lớn Bên kia
biên giới, Trước giờ nổ súng. Phan Tứ chính thức bước vào sự nghiệp văn học
với hai tác phẩm viết về chiến trường Lào, đặc biệt Trước giờ nổ súng dịch ra
tiếng Lào và xây dựng kịch bản phim “Bản anh hùng ca số 5” được bạn Lào
đánh giá tốt.
Năm 1958, ông theo học khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội. Kể từ
đây, trong con người của Phan Tứ có sự kết hợp nhuẫn nhuyễn giữa nhà văn
và chiến sĩ cách mạng. Lớp học có 25 sinh viên và 6 lưu học sinh, duy nhất
Phan Tứ là người có tác phẩm đã xuất bản (Bên kia biên giới). Phan Tứ được
bầu làm tổ trưởng tổ sáng tác. Phan Tứ nổi tiếng: “Khắc khổ. Điều độ. Mực
thước”. Trong thời gian này, ông vừa học vừa viết tiểu thuyết Trước giờ nổ
13
súng. Đặc biệt khả năng ghi chép của nhà văn được anh Nùng – bạn học cùng
lớp cam đoan chưa có nhà văn nào ghi nhiều, bền bỉ như Phan Tứ bất kể lúc
nào (giờ nghỉ, xem diễn văn nghệ…), thời gian biểu chặt chẽ thực thi như kỉ
của Mỹ – Diệm, Phan Tứ tham gia tổ chức đấu tranh du kích, tiếp xúc với
những con người, những cuộc đời trong những tình huống cụ thể, khốc liệt.
Những khó khăn liên tiếp xảy ra, đấu tranh chính trị ở Kỳ Khương, chống
khủng bố trắng, chống càn ở Kỳ Thanh, tham gia võ trang tuyên truyền…
Phan Tứ đã thanh thản sống và vượt qua tất cả mọi thử thách. Ông đã ghi lại
một cách cảm động tâm sự của ông trong những ngày thật đáng nhớ: “Tôi
không băn khoăn gì trước những khó khăn ấy, bởi thực tế cách mạng miền
Nam cuốn hút tôi rất dữ dội. Tôi đã sống lại những năm tháng vừa chiến đấu
vừa xây dựng cơ sở hạ Lào hồi chống Pháp, nhưng sung sướng hơn trước
nhiều là tôi đang hoạt động trên đất quê hương mà tôi luôn thương nhớ”
[120, tr.82]. Sau đó, ông tiếp tục cuộc hành trình đi trường Tân binh 27, tổ
chức lớp học của cán bộ tuyên truyền xã. Trên đường hành quân tới Nóc ông
Thiêng, chứng kiến đồn Trà My giặc bị tiêu diệt, Phan Tứ dấy lên suy nghĩ
thích chiến đấu trực tiếp hơn là làm công tác chính trị và ông “đã hoàn toàn
tự nguyện dấn thân vào những nguy hiểm này”. Nằm trong bệnh viện vì sốt
rét tái phát nhưng ông vẫn không ngừng ghi chép và sáng tác. Vì sự thật cuộc
sống chiến trường vô cùng khắc nghiệt, chỉ “một mảnh bom, một viên đạn lạc,
một cơn sốt biến chứng có thể bẻ gẫy ngòi bút bất cứ lúc nào” [120, tr.82-83].
Chưa có điều kiện viết tác phẩm dài hơi: “cuốn tiểu thuyết dài ông hằng ao
ước được viết đang lớn dần lên trong óc”, nhưng ông đã phải gác lại để phục
vụ cuộc chiến đấu trước đã. Qua quá trình chiến đấu, học tập, nhà văn cũng
phát hiện ra mặt trái của tấm huy chương, mặt trái của con người.
15
Năm 1963, địch càn trên quy mô lớn và dữ dội. Nhà văn quay trở lại
sống ở cơ sở cách mạng, tham gia Đại hội đại biểu Đảng bộ Đảng nhân dân
cách mạng Tam Kỳ, Đại hội du kích huyện Tam Kỳ, nghe báo cáo các gương
điển hình…Tham gia công tác Mỹ vận, Phan Tứ tự trau dồi vốn tiếng Anh