MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bình đẳng dân tộc là một trong những tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là nội dung
quan trọng trong chủ trương, CSDT của Đảng và Nhà nước ta. Tư tưởng chỉ đạo nhất quán
CSDT của Đảng và Nhà nước ta được Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X khẳng định: “Các
dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; cùng
nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”[16, tr.121]. Thực hiện tốt vấn đề BĐDT sẽ góp phần
xây dựng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Trong các thời kỳ cách mạng, Đảng và Nhà nước ta luôn
trung thành và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về BĐDT, đề ra nhiều chủ trương,
CSDT đúng đắn và tổ chức thực hiện tốt, nên “Quyền bình đẳng giữa các dân tộc cơ bản đã
được Hiến pháp xác định và được thể hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội”[18, tr.30].
Vì vậy, trong giai đoạn cách mạng mới, đòi hỏi Đảng, Nhà nước, HTCT cần tiếp tục vận dụng
sáng tạo hơn nữa tư tưởng Hồ Chí Minh về BĐDT trong thực hiện CSDT, nhất là ở Tây
Nguyên hiện nay.
Tây Nguyên là một trong những vùng chiến lược về kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh
của cả nước; nơi có 45 dân tộc anh em sinh sống. Tại đây, kẻ thù đang ra sức lợi dụng vấn đề
dân tộc, tôn giáo khoét sâu mâu thuẫn nhằm chia rẽ sự đoàn kết giữa các tộc người, làm cho
tình hình an ninh, chính trị trên địa bàn mất ổn định, gây khó khăn cho sự nghiệp đổi mới và
phát triển đất nước của nhân dân ta. Do đó, thực hiện BĐDT là vấn đề vừa cấp bách, vừa cơ
bản lâu dài nhằm góp phần xây dựng Tây Nguyên vững mạnh về mọi mặt, phát triển theo kịp
cả nước trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách phát
triển Tây Nguyên về nhiều mặt nhằm phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng - an
ninh, giải quyết tốt quan hệ tộc người, nâng cao đời sống vật chất - tinh thần của đại bộ phận
đồng bào, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, đời sống xã hội ở Tây Nguyên vẫn
tồn tại những vấn đề phức tạp, tiềm ẩn nhiều nguy cơ xuất hiện “điểm nóng” trên địa bàn, đòi
hỏi Đảng, Nhà nước ta phải tiếp tục có nhiều chủ trương và thực hiện tốt CSDT, nhằm từng
Về quan điểm, chính sách dân tộc, bình đẳng dân tộc cũng đã được các nhà khoa học trong
và ngoài Quân đội luôn quan tâm nghiên cứu. Viện nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh - Viện Thông tin khoa học: “Đổi mới chính sách dân tộc - quan điểm,
chính sách và thành quả”, H. 1996; GS. TS. Trịnh Quốc Tuấn: “Bình đẳng dân tộc ở nước ta
hiện nay - vấn về và giải pháp”, Nxb CTQG, H. 1996; GS. TS. Phan Hữu Dật: “Góp phần
nghiên cứu về dân tộc Việt Nam”, Nxb CTQG, H. 2004; TS. Bùi Thị Ngọc Lan: “Quan niệm
về công bằng, bình đẳng và tương trợ cùng phát triển giữa các tộc người ở Việt Nam”, Thông
tin CNXH khoa học - Lý luận và thực tiễn, số 6/2005; Phạm Hoàng Giang: “Quan điểm,
chính sách của Đảng và Nhà nước về bình đẳng dân tộc và việc thực hiện chính sách bình
đẳng dân tộc ở nước ta hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Triết học, H. 2006...
Về tổ chức thực hiện CSDT của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ đổi mới, cũng có nhiều
công trình nghiên cứu: Hoàng Đức Nghi: “Xoá đói giảm nghèo ở miền núi, vùng sâu, vùng
xa, vùng đặc biệt khó khăn”, Tạp chí Dân vận, tháng 01/2000; Hà Quế Lâm: “Xoá đói giảm
nghèo ở vùng dân tộc thiểu số nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp”, Nxb CTQG, H.
2002; TS. Mẫn Văn Mai (chủ nhiệm): “Quân đội nhân dân Việt Nam thực hiện chính sách
dân tộc của Đảng và Nhà nước trong tình hình mới”, Đề tài cấp Tổng cục Chính trị, H. 2002;
Đinh Văn Hưng: “Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc từ năm 1986
đến năm 2003”, Luận văn thạc sĩ Lịch sử H. 2004...
Chính sách dân tộc và thực hiện CSDT của Đảng và Nhà nước ta trên địa bàn Tây Nguyên
trong những năm qua đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. PGS. TS. Nguyễn
Quốc Phẩm: “Thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo ở Tây Nguyên”, Tạp chí
Lý luận chính trị - Học viện CTQG Hồ Chí Minh, tháng 2/2003; PGS. TS. Nguyễn Hữu Tri
(chủ nhiệm): “Củng cố và tăng cường hệ thống chính trị cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số
theo đạo Tin Lành ở các tỉnh Tây Nguyên”, Đề tài khoa học cấp Bộ, H. 2004; PGS. TS.
Trương Minh Dục: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dân tộc và quan hệ dân tộc ở Tây
Nguyên”, Nxb CTQG, H. 2005...
Các công trình khoa học trên đã đề cập đến những khía cạnh, với những đối tượng, ở phạm
vi khác nhau, là những tài liệu quan trọng để tác giả tham khảo, kế thừa trong nghiên cứu luận
nước ta về vấn đề dân tộc, giải quyết vấn đề dân tộc, BĐDT.
- Cơ sở thực tiễn:
Thực trạng thực hiện CSDT trên địa bàn Tây Nguyên từ năm 1986 đến nay thông qua các
số liệu tổng kết, đánh giá trong các văn kiện nghị quyết, chỉ thị của Đảng, số liệu đánh giá của
Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, Ban Dân tộc; các nghị quyết, chỉ thị của tỉnh uỷ, ủy ban nhân dân
các tỉnh ở Tây Nguyên, và kết quả khảo sát, điều tra của tác giả.
- Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn dựa vào phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy
vật lịch sử; kết hợp với sử dụng các phương pháp lô gíc - lịch sử, phân tích, tổng hợp, thống
kê, so sánh, tổng kết thực tiễn, điều tra xã hội học và phương pháp chuyên gia.
6. Ý nghĩa của luận văn
- Luận văn góp phần làm sáng tỏ những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về
BĐDT và thực hiện chính sách CSDT ở nước ta nói chung, trên địa bàn Tây Nguyên nói
riêng.
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho lãnh đạo, chính quyền, các tổ chức chính trị xã hội ở các tỉnh trên địa bàn Tây Nguyên trong thực hiện CSDT của Đảng và Nhà nước ta
hiện nay. Đồng thời, có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy những nội
dung có liên quan ở các nhà trường trong và ngoài quân đội.
7. Kết cấu của luận văn
Gồm phần mở đầu, 2 chương, 4 tiết, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.
Chương 1
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ BÌNH ĐẲNG DÂN TỘC VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA
ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA TRONG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC QUA CÁC
THỜI KỲ CÁCH MẠNG
1.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng dân tộc
Bàn về bình đẳng, Từ điển Bách khoa Việt Nam viết: “Bình đẳng là sự được đối xử như
nhau về các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá... không phân biệt thành phần và địa vị xã hội,
trong đó trước tiên là bình đẳng trước pháp luật”[74, tr.232]. Trong mỗi giai đoạn phát triển
của lịch sử, người ta có những quan niệm và đánh giá khác nhau về bình đẳng, nó phụ thuộc
độ chính trị, dân tộc đa số hay thiểu số, quốc gia lớn hay nhỏ.
Bình đẳng dân tộc cần được hiểu một cách đầy đủ cả ở phạm vi quốc gia - dân tộc và phạm
vi quốc tế. Trên phạm vi quan hệ quốc tế, BĐDT là sự ngang nhau về quyền lợi và nghĩa vụ
giữa các quốc gia - dân tộc, không phân biệt quốc gia - dân tộc lớn hay nhỏ, văn minh hay lạc
hậu, phát triển hay đang phát triển. Trong phạm vi quốc gia, BĐDT là sự ngang nhau giữa các
tộc người trong cộng đồng dân tộc trên tất cả các lĩnh vực, cả cơ hội và điều kiện để phát
triển, không phân biệt dân tộc đa số hay dân tộc thiểu số, miền núi hay miền xuôi.
Mặt khác, BĐDT trong quốc gia đa dân tộc là một giá trị định hướng xã hội nhằm đảm
bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ của mỗi tộc người hoàn toàn bình đẳng trong tham gia vào
các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong quan hệ gắn bó hữu cơ với các tộc người khác trong
một quốc gia đa dân tộc, luôn phụ thuộc vào điều kiện của quốc gia dân tộc đó[29, tr.23].
1.1.1. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng dân tộc
Tư tưởng Hồ Chí Minh về BĐDT được hình thành trên cơ sở kế thừa, tiếp thu những giá
trị tinh thần, truyền thống yêu nước, đoàn kết, tương thân, tương ái của dân tộc Việt Nam; tư
tưởng bình đẳng của nhân loại và được nâng lên một trình độ mới - BĐDT mác xít khi tiếp
thu quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về dân tộc, vấn đề dân tộc và BĐDT.
* Từ giá trị tinh thần, truyền thống yêu nước, đoàn kết, tương thân, tương ái, nhân nghĩa
của dân tộc Việt Nam
Yêu chuộng hoà bình, độc lập, tự do vươn đến bình đẳng xã hội là giá trị văn hoá của dân
tộc ta được đúc kết trong quá trình dựng nước và giữ nước, trở thành truyền thống quý báu
của dân tộc Việt Nam. Truyền thống đó được kết tinh từ cái “cốt nhân dân” sâu sắc, bao hàm
cả những tư tưởng về đoàn kết, tương thân, tương ái, nhân nghĩa, vị tha, tự trọng; cả lý tưởng
về dân chủ và công bằng xã hội. Do đó, nó được phát huy trong suốt chiều dài lịch sử, trở
thành động lực tinh thần chủ yếu thúc đẩy Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước giải
phóng dân tộc, đem lại tự do, bình đẳng cho nhân dân Việt Nam vào đầu thế kỷ XX. Người
đúc kết: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là truyền thống quý báu của ta. Từ xưa
đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng
vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán
tưởng về BĐDT.
Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 là thực tiễn đầy đủ và sinh động nhất về đấu tranh
cho BĐDT của nhân loại tiến bộ trên thế giới. Hồ Chí Minh nhận xét: “Trong thế giới bây giờ
chỉ có cách mạng Nga là đã thành công và thành công đến nơi. Nghĩa là dân chúng được
hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật. Không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế
quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam”[39, tr.280]. Sau Cách mạng XHCN tháng
Mười Nga, phong trào giải phóng dân tộc, đòi quyền tự do bình đẳng của các dân tộc thuộc
địa và phụ thuộc trên thế giới phát triển mạnh mẽ. Thực tiễn đấu tranh cho tự do, bình đẳng
của nhân loại tiến bộ trên thế giới là thực tiễn phong phú để Hồ Chí Minh khái quát những tư
tưởng về BĐDT.
* Từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về bình đẳng dân tộc
Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc và BĐDT là nhân tố quyết định
đến bản chất khoa học, cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về BĐDT.
Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định, chỉ có giai cấp công nhân lãnh đạo, thông qua cuộc
cách mạng XHCN mới có thể giải quyết triệt để vấn đề BĐDT, BĐDT là một mặt của bình
đẳng xã hội.
Từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã tiếp thu những
quan điểm cơ bản của C.Mác và Ph.Ăngghen về bản chất cách mạng triệt để của giai cấp công
nhân. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, các Ông đã chỉ ra rằng: cuộc đấu tranh của giai
cấp vô sản nhằm lật đổ ách thống trị của giai cấp tư sản, thực chất là xoá bỏ tình trạng người
bóc lột người, dân tộc này áp bức dân tộc khác, từ đó xoá bỏ tình trạng dân tộc này có đặc
quyền đặc lợi hơn so với dân tộc khác: “Khi mà sự đối kháng giữa các giai cấp trong nội bộ
dân tộc không còn nữa thì sự thù địch giữa các dân tộc đồng thời cũng mất theo”[36, tr.624].
Như vậy, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra “cái gốc” của sự bất BĐDT là do bất bình đẳng giai
cấp; việc giải quyết vấn đề BĐDT là một bộ phận không thể thiếu trong cương lĩnh cách
mạng của giai cấp vô sản nhằm thực hiện bình đẳng xã hội nói chung. Theo đó, thực hiện bình
đẳng xã hội nói chung là mục tiêu bao trùm, có ý nghĩa quyết định đến bình đẳng giữa các dân
tộc. Ngược lại, BĐDT được thực hiện là một trong những nhân tố thúc đẩy bình đẳng xã hội
đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới, quyền tự quyết đó là
quyền tự quyết định vận mệnh, lựa chọn chế độ chính trị và con đường phát triển của dân tộc
mà các dân tộc khác không được can thiệp. Do đó, vấn đề độc lập dân tộc và BĐDT luôn đặt
ra cấp thiết, là quyền cơ bản, thiêng liêng của các dân tộc.
Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định, quyền BĐDT phải được ghi nhận về mặt pháp lý và
được thực hiện toàn diện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Trung thành với quan điểm của Mác - Ăngghen, V.I.Lênin khẳng định: “Những công dân
thuộc tất cả các dân tộc cư trú ở Nga đều bình đẳng trước pháp luật”[33, tr.21]. Người còn
nhấn mạnh, giai cấp vô sản phải coi BĐDT là một trong những mục tiêu quan trọng nhất
trong sự nghiệp cách mạng của mình. “Giai cấp công nhân phải tỏ rõ lòng tin của mình vào sự
cần thiết phải có được quyền bình đẳng hoàn toàn, phải bãi bỏ hoàn toàn và triệt để bất cứ đặc
quyền của bất cứ dân tộc nào”[34, tr.100]. Phải coi trọng hơn hết quyền BĐDT một cách toàn
diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội không kể dân tộc lớn hay dân tộc nhỏ. V.I. Lênin
đặc biệt chú ý đến tác hại của sự bất công - tức là không bình đẳng, vì nó kìm hãm sự phát
triển và củng cố khối đại đoàn kết giai cấp, đoàn kết dân tộc. Cho nên, “công nhân tất cả các
dân tộc Nga hãy đoàn kết lại, vì chỉ có sự đoàn kết đó mới có khả năng bảo đảm quyền bình
đẳng của các dân tộc, quyền tự do của nhân dân và lợi ích của chủ nghĩa xã hội”[34, tr.85].
Bình đẳng dân tộc phải được thực hiện trên thực tế, phải xoá bỏ sự bất bình đẳng. Thực
hiện BĐDT đòi hỏi phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ các dân tộc theo tinh thần xích lại
gần nhau, hoà hợp với nhau; phải có sự nỗ lực, tự vươn lên của từng dân tộc. Nghĩa là phải
kết hợp “nội lực” và “ngoại lực” mới có thể xoá bỏ sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa
các dân tộc.
Để thực hiện BĐDT phải đấu tranh khắc phục chủ nghĩa dân tộc sô vanh nước lớn, chủ
nghĩa dân tộc hẹp hòi, tự ti dân tộc.
Đấu tranh khắc phục chủ nghĩa dân tộc cực đoan dưới mọi hình thức là yếu tố không thể
thiếu và luôn gắn liền với thực hiện BĐDT. V.I.Lênin cho rằng: “Cần phải phân biệt chủ
nghĩa dân tộc của dân tộc đi áp bức với chủ nghĩa dân tộc của dân tộc bị áp bức, chủ nghĩa
dân tộc của một dân tộc lớn và chủ nghĩa dân tộc của một dân tộc nhỏ”[35, tr.410]. Muốn
đầu tiên tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện Việt Nam. Người
đã tìm thấy “cái cẩm nang” cho con đường giải phóng dân tộc Việt Nam trong Cương lĩnh
dân tộc của V.I.Lênin. Gần 30 năm hoạt động ở nhiều nước, hầu khắp các châu lục, trọn đời
dành cho cách mạng Việt Nam, là cơ sở thực tiễn phong phú cho Người luận giải, khái quát
những tư tưởng về giải phóng dân tộc và BĐDT.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về BĐDT hình thành là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa những điều
kiện khách quan và nhân tố chủ quan trong thời đại mới. Trong đó, những phẩm chất đặc biệt
đã giúp cho Hồ Chí Minh có khả năng tiếp biến giá trị truyền thống dân tộc Việt Nam, tư
tưởng và thực tiễn đấu tranh cho BĐDT của nhân loại tiến bộ, quan điểm chủ nghĩa Mác Lênin về vấn đề dân tộc và BĐDT, từ đó hình thành những luận điểm khoa học về BĐDT.
Đây là cơ sở cho Đảng và Nhà nước ta đề ra quan điểm, CSDT đúng đắn và thực hiện bình
đẳng thật sự cho dân tộc Việt Nam.
Quan niệm của Hồ Chí Minh về BĐDT:
Bình đẳng dân tộc, đó là quyền được sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc, quyền
giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá của dân tộc mình, quyền độc lập, tự do cho dân tộc, ấm no,
hạnh phúc cho đồng bào các dân tộc trong đại gia đình dân tộc Việt Nam và quyền ngang
nhau về mọi mặt giữa các quốc gia - dân tộc trong cộng đồng quốc tế. Theo nghĩa bao trùm
nhất, BĐDT theo Hồ Chí Minh là khẳng định và thực hiện quyền được sống và được đối xử
như nhau giữa dân tộc Việt Nam với tất cả các quốc gia - dân tộc khác trên thế giới trong
quan hệ quốc tế và trên mọi lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội giữa các tộc người
trên đất nước Việt Nam thống nhất.
Trong quan hệ quốc tế, đó là bình đẳng giữa dân tộc Việt Nam với các dân tộc khác trên
thế giới. Đây là tư tưởng hình thành rất sớm, ngày 18-6-1919, thay mặt Hội những người Việt
Nam yêu nước tại Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã gửi đến Hội nghị Véc-xây Bản yêu sách của
nhân dân An Nam, đòi chính phủ Pháp phải thừa nhận các quyền tự do bình đẳng và dân chủ
cho dân tộc ta. Khi Cách mạng tháng Tám thành công, trong Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã tuyên bố quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam với toàn thế giới. Khi quyền
bình đẳng đó bị xâm phạm, Người khẳng định quyết tâm phải giữ gìn và thực hiện quyền bình
con người lên thành quyền bình đẳng giữa các dân tộc. Quyền bình đẳng ấy là lẽ tự nhiên của
tất cả các dân tộc chứ không phải do một đấng siêu nhiên nào ban tặng. Do đó, dân tộc Việt
Nam cũng tất yếu được hưởng quyền độc lập, tự do, bình đẳng với các dân tộc khác. Nhân
dân ta quyết đem hết tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để bảo vệ, gìn giữ quyền
độc lập, tự do, bình đẳng ấy.
Trong phạm vi quốc gia - dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh luôn tôn trọng và khẳng định
các tộc người hoàn toàn bình đẳng về mọi mặt. Theo Người, nước ta là một nước thống nhất
gồm nhiều dân tộc. Các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam đều bình đẳng về quyền lợi và
nghĩa vụ, gắn bó máu thịt với nhau trên một lãnh thổ chung và trải qua một lịch sử lâu đời
cùng nhau lao động và đấu tranh để xây dựng, bảo vệ Tổ quốc tươi đẹp. Như vậy, bình đẳng
giữa các tộc người ở Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh luôn gắn với đoàn kết, tôn trọng,
giúp đỡ nhau vì mục tiêu chung: xây dựng một nước Việt Nam độc lập thống nhất, xây dựng
xã hội mới, một xã hội không có chế độ người bóc lột người, một xã hội bình đẳng, đoàn kết
giữa các dân tộc, cùng nhau xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Bình đẳng dân tộc trong quốc gia đa tộc theo Hồ Chí Minh, trước hết là bình đẳng giữa các
dân tộc thiểu số với dân tộc đa số và giữa tất cả các dân tộc với nhau. Người đặc biệt quan
tâm đến đồng bào các dân tộc thiểu số, trong Lời phát biểu tại Hội nghị đại biểu các dân tộc
thiểu số Việt Nam ngày 3-12-1945, Người nói: “Anh em dân tộc thiểu số của chúng ta sẽ
được: Dân tộc bình đẳng, Chính phủ sẽ bãi bỏ hết những điều hủ tệ cũ, bao nhiêu bất bình
đẳng trước sẽ sửa chữa đi”[42, tr.110].
Trong Báo cáo về dự thảo Hiến pháp sửa đổi tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khoá I nước Việt
Nam dân chủ cộng hoà ngày 18-12-1959, Người nêu rõ: “Nước ta là một nước thống nhất
gồm nhiều dân tộc. Các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam đều bình đẳng về quyền lợi và
nghĩa vụ”[52, tr.587].
Hai là, BĐDT thực sự chỉ có thể xác lập bằng con đường cách mạng vô sản, gắn với độc
lập, tự do của Tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân và công bằng xã hội.
Trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh khẳng định, BĐDT không chỉ nêu
thành một khẩu hiệu mà phải được thực hiện trên thực tế. Muốn có bình đẳng trên thực tế chỉ
Việt Nam dân chủ cộng hoà. Đây là cơ sở pháp lý bảo đảm cho thực hiện quyền BĐDT ở
nước ta.
Trên cơ sở phê phán sự BĐDT giả hiệu bó hẹp của giai cấp tư sản, tiếp thu tư tưởng
BĐDT mác xít, từ thành quả, kinh nghiệm của Cách mạng XHCN tháng Mười Nga và từ thực
trạng đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số, Hồ Chí Minh cho rằng thực hiện BĐDT
phải làm cho đồng bào các dân tộc ít người được hưởng ngày càng đầy đủ hơn những quyền
lợi về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, miền núi tiến kịp miền xuôi.
Theo Hồ Chí Minh, BĐDT phải được thể hiện một cách toàn diện trên mọi lĩnh vực của
đời sống xã hội, trước hết là về kinh tế. BĐDT về kinh tế đóng vai trò quan trọng, làm nền
tảng, tạo cơ sở vật chất và xét đến cùng quyết định đến thực hiện BĐDT trên các lĩnh vực
khác. Cách tiếp cận trên thực sự khoa học, thể hiện sự trung thành với quan điểm của các nhà
kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin: đời sống vật chất quyết định đời sống tinh thần, có bình
đẳng về kinh tế mới có bình đẳng về chính trị, văn hoá, xã hội. Đồng thời, đó là sự tiếp thu tư
tưởng Việt Nam: “có thực mới vực được đạo”, “dĩ thực vi tiên”.
Muốn thực hiện BĐDT về kinh tế, Hồ Chí Minh yêu cầu Đảng và Nhà nước ta phải tạo
điều kiện, cơ hội cho các dân tộc thiểu số có sự phát triển đồng đều về trình độ kinh tế, về
phương thức, cách thức sản xuất, thu nhập, điều kiện ăn, mặc, ở, đi lại; làm cho đời sống và
sự sinh tồn của đồng bào các dân tộc được bảo đảm và miền núi tiến kịp miền xuôi. Chừng
nào còn tồn tại sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế giữa các tộc người, thì chừng ấy
vẫn còn sự bất bình đẳng. Cho nên, phải từng bước thu hẹp và tiến tới xoá bỏ sự chênh lệch,
sự bất bình đẳng giữa các dân tộc. Khi giải quyết các mối quan hệ tộc người, phải quan tâm
và giải quyết tốt quan hệ kinh tế, lợi ích kinh tế. Bất kỳ đặc quyền kinh tế nào dành riêng cho
một dân tộc, đều có thể vi phạm lợi ích kinh tế của các dân tộc khác, dẫn đến sự bất BĐDT.
Mặt khác, trong quốc gia đa tộc người, sự thấp kém về trình độ phát triển kinh tế của một tộc
người không chỉ cản trở sự phát triển của bản thân tộc người ấy, mà còn là lực cản tiến trình
phát triển chung của cả cộng đồng dân tộc - quốc gia. Người viết: “Chủ nghĩa xã hội nghĩa là
tất cả mọi người các dân tộc ngày càng ấm no, con cháu ngày càng sung sướng”[55, tr.317].
Đồng thời, Hồ Chí Minh yêu cầu, Đảng và Nhà nước phải quan tâm giúp đỡ đồng bào các
quyền bình đẳng giữa các dân tộc về chính trị không chỉ được qui định trong Hiến pháp và
pháp luật mà quan trọng hơn là phải được thực hiện trên thực tế. Người khẳng định: “Từ khi
hoà bình lập lại đến nay, miền núi và trung du có nhiều tiến bộ lớn. Về chính trị các dân tộc
đều bình đẳng, dân chủ, đoàn kết”[59, tr.197].
Bình đẳng dân tộc về văn hoá, theo Hồ Chí Minh, trước hết là bình đẳng trong cơ hội phát
triển, nâng cao dân trí, trình độ học vấn và văn hoá của mỗi dân tộc; là việc thừa nhận và
khẳng định quyền được tôn trọng, bảo vệ, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá, ngôn ngữ,
phong tục, tập quán; quyền được học tập, được hưởng chế độ giáo dục như nhau giữa các dân
tộc. Theo Người, một dân tộc dốt là một dân tộc yếu, nên muốn làm cách mạng thì phải học
văn hoá và đồng bào bây giờ phải biết chữ hết, để trả lời cho thế giới biết: nước ta là một
nước văn minh. Không thừa nhận, không tôn trọng nền văn hoá của các tộc người tức là
không thừa nhận, không tôn trọng tộc người đó - tức là không bình đẳng. Mọi quan điểm,
chính sách, thái độ, hành vi biểu hiện sự kỳ thị, cưỡng bức, đồng hoá văn hoá đều phải bị lên
án và bài trừ.
Bình đẳng dân tộc về văn hoá theo Hồ Chí Minh, thực chất là quyền được sống trong nền
văn hoá cũng như toàn bộ sinh hoạt xã hội và đời sống văn hoá của mình; quyền được sử
dụng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình, được tiếp thụ và nâng cao trình độ hiểu biết tri
thức nhân loại phục vụ cho đời sống và sự phát triển nền, vốn văn hoá của các dân tộc; nâng
cao trình độ dân trí, quyền được hưởng thụ cũng như xây dựng nền văn hoá Việt Nam thống
nhất trong đa dạng của văn hoá tộc người; quyền được thực hành những phong tục, tập quán,
tín ngưỡng, tôn giáo đã trở thành biểu trưng và giá trị tinh thần - văn hoá của mỗi dân tộc.
Theo Hồ Chí Minh, để thực hiện BĐDT về văn hoá, cần phải tiến hành tốt công tác xoá
nạn mù chữ, làm cho phần đông trẻ em được cắp sách tới trường, mở mang hệ thống giáo dục
cho các dân tộc thiểu số, xoá bỏ hủ tục, tập quán lạc hậu, mê tín, dị đoan...
Do vậy, việc giữ gìn, phát huy các giá trị văn hoá, tiếng nói và chữ viết của các dân tộc
thiểu số là một vấn đề có tính nguyên tắc để bảo tồn văn hoá các dân tộc ở nước ta nói chung
và thực hiện BĐDT về văn hoá nói riêng. Ngay sau khi đất nước giành được độc lập, Người
đã đề nghị Chính phủ thành lập “Nha bình dân học vụ”, phát động phong trào toàn dân học
vực khác. Do đó, thực hiện BĐDT đòi hỏi phải thực hiện tổng hợp các chính sách, nhằm khắc
phục sự chênh lệch, làm cho các dân tộc thiểu số được hưởng ngày càng đầy đủ hơn những
quyền lợi về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội trên thực tế.
Bốn là, BĐDT phải luôn gắn với đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ giữa các
dân tộc.
Đoàn kết là giá trị tinh thần truyền thống, là quy luật trong dựng nước và giữ nước của dân
tộc Việt Nam. Với Hồ Chí Minh, đại đoàn kết toàn dân tộc là nhân tố cơ bản quyết định thắng
lợi trong đấu tranh giành và giữ độc lập, xây dựng xã hội mới, trong đó có thực hiện BĐDT ở
nước ta. Người khẳng định: “phải tăng cường đoàn kết dân tộc, các dân tộc miền núi đoàn kết
chặt chẽ, các dân tộc thiểu số đoàn kết với các dân tộc đa số”[57, tr.418]. Trong Bài nói
chuyện với đồng bào cán bộ tỉnh Cao Bằng ngày 23 tháng 2 năm 1961, Người nhắc nhở:
“Đồng bào các dân tộc không phân biệt lớn nhỏ phải thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, phải đoàn
kết chặt chẽ như anh em một nhà để cùng nhau xây dựng tổ quốc chung”[54, tr.282].
Trên thực tế, các tộc người ở nước ta có trình độ phát triển rất khác nhau, sinh sống ở
những vùng, miền có những thuận lợi và khó khăn không giống nhau. Cho nên, cần phải tôn
trọng, giúp đỡ nhau giữa các dân tộc, giữa dân tộc đông người với dân tộc ít người, nhằm làm
cho miền núi tiến kịp miền xuôi, đoàn kết với đồng bào miền xuôi để phát triển kinh tế miền
núi. Người viết: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Giarai hay Êđê, Xêđăng hay
Bana và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng
ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau”[44, tr.217-218]. Tộc người đa
số do có trình độ phát triển cao hơn, với tinh thần giúp đỡ bạn cũng chính là tự giúp mình, cần
tương trợ, giúp đỡ các dân tộc thiểu số cùng tiến bộ về mọi mặt. Hiến pháp năm 1946, do Chủ
tịch Hồ Chí Minh làm trưởng Ban soạn thảo đã khẳng định: ngoài sự bình đẳng về quyền lợi,
những quốc dân thiểu số được giúp đỡ về mọi phương diện để chóng tiến kịp trình độ chung.
Muốn bình đẳng, đoàn kết, Người yêu cầu phải có thái độ tôn trọng lẫn nhau giữa các dân tộc;
phải tôn trọng phong tục, tập quán, và lợi ích của các dân tộc; tôn trọng văn hoá, tín ngưỡng,
tiếng nói, chữ viết của các dân tộc; tránh thái độ miệt thị, coi thường văn hoá của tộc người
khác.
“chia để trị”. Đảng và Chính phủ luôn kêu gọi các dân tộc “xoá bỏ xích mích do đế quốc và
phong kiến gây ra, cùng nhau đoàn kết chặt chẽ trên cơ sở bình đẳng về quyền lợi và nghĩa
vụ”[52, tr.587].