Vận dụng tư tưởng hồ chí minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay tiểu luận cao học - Pdf 43

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cuộc đời cao đẹp và sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Bác Hồ đã trở
thành “huyền thoại ngay từ khi Người còn sống” là niềm tự hào chung của
dân tộc ta và của nhân loại.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là hình mẫu tuyệt vời về sự vận dụng một
cách sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh đặc thù của Việt
Nam. Người đi từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa xã hội nhờ có sự
giác ngộ chủ nghĩa Mác – Lênin và nắm bắt được xu thế tất yếu của thời
đại. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, sợi chỉ đỏ xuyên suốt
tư tưởng Hồ Chí Minh. Người đã khẳng định không phải một lần rằng,
chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt
để vấn đề độc lập dân tộc, mới có thể mang lại tự do, hạnh phúc thực sự
cho nhân dân, mới xóa bỏ vĩnh viễn áp bức, bóc lột và nô dịch, mới giải
quyết tận gốc vấn đề giải phóng con người, giải phóng xã hội. Lựa chọn
con đường xã hội chủ nghĩa cho sự phát triển của Việt Nam, Hồ Chí Minh
đã mở đường cho sự phát triển mới của nước ta, đặt cách mạng Việt Nam
vào quỹ đạo của cách mạng vô sản.
Từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta luôn khẳng định độc lập dân
tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội 1991 của Đảng nêu rõ: “Nắm vững
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đó là bài học xuyên suốt quá trình
cách mạng nước ta. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết thực hiện chủ
nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở đảm bảo vững chắc cho độc lập
dân tộc”.
Nhìn lại 20 năm đổi mới, trong Báo cáo Chính trị của Ban chấp
hành Trung ương tại Đại hội X, Đảng ta khẳng định rõ: “Trong quá trình
đổi mới phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên


nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đổi mới không

– 2009 của Vũ Đình Hòe và Bùi Đình Phong (đồng chủ biên) đã tập trung
làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng
dân tộc là cơ sở lý luận cho sự nghiệp đấu tranh giành độc lập tự do của
dân tộc Việt Nam. Thế giới đổi thay, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh về độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội vẫn còn nguyên giá trị và nóng hổi tính
thời sự.
Trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước,
chúng tôi tập trung nghiên cứu sự vận dụng của Đảng cộng sản Việt Nam
về tư tưởng “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” của Hồ Chí
Minh trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, thể hiện rõ nhất đó là
độc lập về chính tri – kinh tế, về văn hóa, và về đối ngoại, đồng thời là cơ
sở để Đảng ta giải quyết đúng đắn mối quan hệ dân tộc và giai cấp hiện
nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ
* Mục đích: Làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội và sự vận dụng của Đảng ta trong công cuộc đổi mới ở
Việt Nam hiện nay.
* Nhiệm vụ:
- Phân tích nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội.
- Làm rõ sự vận dụng của Đảng cộng sản Việt Nam về tư tưởng
độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong công cuộc đổi mới
nước ta hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.


Về phương pháp nghiên cứu, đề tài có sử dụng nhất quán các

mình. Người hướng tới việc tìm cho ra nguồn gốc của mọi nỗi đau của
dân tộc từ bản chất kẻ thù - chủ nghĩa thực dân xâm lược. Trong quá trình
tìm đường cứu nước, cứu dân, từ khảo nghiệm, đúc kết kinh nghiệm trong
nước và thế giới, Người đã thâu tóm lý luận thời đại để hình thành nên
một chiến lược, một đường hướng cách mạng có khả năng giải quyết
những đòi hỏi khách quan đang đặt ra lúc bấy giờ của dân tộc Việt Nam.
Theo đó, Người khẳng định rằng: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc,
không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”, “chỉ có chủ
nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng các dân tộc bị áp bức
và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ” [23, 314]. Đó là


con đường đấu tranh lâu dài, gian khổ và phức tạp, đòi hỏi tất cả mọi
người phải kiên định: “Trong cuộc đấu tranh một mất một còn giữa một
bên là giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức với
một bên là bọn đế quốc cùng bè lũ tay sai bán nước, bọn phong kiến địa
chủ và tư sản phản động, nhân dân các nước cần có tinh thần cách mạng
triệt để, luôn luôn giương cao ngọn cờ của chủ nghĩa anh hùng cách
mạng, không sợ gian khổ, hy sinh, kiên quyết đấu tranh đến cùng vì độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Từ đó Người xác định con đường phát
triển của cách mạng nước ta gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội mà
trong Cương lĩnh chính trị, Người viết: “Làm cách mạng tư sản dân
quyền và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”.
1.1.2. Tinh hoa văn hóa nhân loại
Về phương diện thực tiễn – lịch sử, khẳng định của Hồ Chí Minh
về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của cách mạng Việt Nam, độc lập
dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội được đặt trên một nền hiểu biết sâu
rộng lịch sử của các cuộc cách mạng đã từng diễn ra trên thế giới. Trong
tác phẩm “Đường cách mệnh”, Hồ Chí Minh chia các cuộc cách mạng đó
thành ba loại: A. Tư bản cách mệnh (như cách mệnh Pháp năm 1789), B.

đã phát triển tư tưởng cách mạng không ngừng của Mác, Ăngghen, luận
chứng một cách toàn diện khả năng đi tới chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai
đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa của các dân tộc thuộc địa, có nền kinh tế
lạc hậu, kém phát triển. Trên nền lý luận chung đó, Hồ Chí Minh đã lĩnh
hội những vấn đề mấu chốt, cần thiết nhất cho nhân dân mình, dân tộc
mình.
So với Lênin, điểm mới trong tư tưởng cách mạng không ngừng
của Hồ Chí Minh là giai cấp công nhân không phải tiến hành hai cuộc
cách mạng chính trị như cách mạng Nga và cách mạng Trung Quốc. Sự
thống nhất biện chứng giữa giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp,
giải phóng con người được biểu hiện ở ngay trong nội dung cuộc cách
mạng. Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên chủ nghĩa xã hội là


một quá trình phát triển không ngừng của hai nhiệm vụ chiến lược trong
một cuộc cách mạng được tiến hành liên tục, xen kẽ và thúc đẩy lẫn nhau:
giải phóng dân tộc về mặt chính trị và giải phóng dân tộc về mặt kinh tế.
Như vậy, cách mạng không ngừng ở Việt Nam là một quá trình đấu tranh
và biển đổi liên tục, có thay đổi một phần về đối tượng, nhiệm vụ và
phương pháp nhưng không thay đổi phương hướng, mục tiêu, động lực,
lực lượng và giai cấp lãnh đạo.
Tư tưởng cách mạng không ngừng của Hồ Chí Minh – độc lập dân
tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội gắn liền với nhau là tổng hợp những
quan điểm chiến lược về chính trị, lý luận, về nhận thức và hành động của
toàn Đảng, toàn dân ta trong tiến trình cách mạng.
1.2 Vấn đề độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong tư
tưởng Hồ Chí Minh
1.2.1. Nhận thức của Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa xã hội
Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sợi chỉ đỏ xuyên

loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc của
sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất”[29, 461]. Vì
vậy, “cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã
hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn”[34, 30].
Hồ Chí Minh không đưa ra một định nghĩa về chủ nghĩa xã hội với
những mục tiêu đầy đủ, toàn diện, hoàn chỉnh của một mô hình lý tưởng
được xây dựng sẵn trong tư tưởng, nhận thức để từ đó “bắt thực tiễn phải
khuôn vào”. Theo Người: “Xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng,
tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội” [33, 159], “chủ nghĩa xã
hội là làm cho mọi người dân được ấm no, hạnh phúc và học hành tiến
bộ”[33, 97], “nói một cách tóm tắt, mộc mạc, chủ nghĩa xã hội trước hết
nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người
có công ăn việc làm, được ấm no và sống cuộc đời hạnh phúc”[33, 17].


Như vậy theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một xã hội
dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ để “ai cũng có cơm ăn, áo
mặc, ai cũng được học hành”.
Về chính trị, chủ nghĩa xã hội là một chế độ xã hội do nhân dân lao
động làm chủ, mọi quyền lực thuộc về nhân dân, địa vị cao nhất là dân.
Về kinh tế, chủ nghĩa xã hội có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên
lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu,
nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân.
Về văn hóa, chủ nghĩa xã hội là một xã hội phát triển cao về văn
hóa, đạo đức, trong đó con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột,
bất công, có cuộc sống tinh thần phong phú, có điều kiện để phát triển hết
mọi khả năng của mình.
Như vậy, quan niệm của Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội có sự gắn bó thống nhất và quan hệ biện chứng với nhau. Đó
tuy là hai giai đoạn kế tiếp nhau của một quá trình cách mạng, nhưng lại

cách mạng vô sản ở nước thuộc địa, nửa phong kiến, có nền kinh tế chưa
phát triển. Cuộc cách mạng đó có ba nhiệm vụ cơ bản được tiến hành
khăng khít với nhau, nhưng không nhất loạt ngang hàng nhau:
Một là, đánh đuổi thực dân đế quốc Pháp, giành lại độc lập cho dân
tộc;
Hai là, đánh đổ chính quyền tay sai của thực dân Pháp (phong kiến
đương quyền, tầng lớp đại địa chủ và đại tư sản việt Nam) thực hiện khẩu
hiệu “người cày có ruộng” và các quyền dân chủ cơ bản cho nhân dân.
Ba là, tiến hành từng bước xây dựng đất nước độc lập, không
ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa cho nhân dân, hướng theo
mục đích “ đi tới xã hội cộng sản”.
Ba nhiệm vụ cơ bản nói trên được chỉ đạo thực hiện lồng ghép
khăng khít, xen kẽ với nhau thành hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng:
- Chiến lược giải phóng dân tộc chủ yếu về mặt chính trị - độc lập
dân tộc.


- Chiến lược giải phóng dân tộc chủ yếu về mặt kinh tế - tức là
xây dựng chủ nghĩa xã hội (giai đoạn thấp của chủ nghĩa cộng
sản)
Khi đất nước đã giành được độc lập thật sự và tiếp tục sự nghiệp
xây dựng chủ nghĩa xã hội thì hai nhiệm vụ chiến lược đó có vị trí ngược
lại là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ độc lập dân tộc, bảo vệ Tổ
quốc.
Hai nhiệm vị chiến lược nói trên là nội dung của chiến lược cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đó là chiến lược
của cách mạng Việt Nam – độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội có mối quan
hệ biện chứng không thể tách rời: không có độc lập thực sự thì không thể
xây dựng đất nước theo xã hội xã hội chủ nghĩa. Mặt khác, xây dựng chủ
nghĩa xã hội để đi tới xã hội cộng sản thành công thì độc lập dân tộc thực sự

dân, thực hiện chuyên chính dân chủ nhân dân – một hình thức biểu hiện
của chuyên chính vô sản. Trên nền tảng liên minh công nông và trí thức
dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và Đảng Lao Động Việt Nam, nhà
nước dân chủ nhân dân kết hợp kháng chiến với kiến quốc. Về kiến quốc,
Nhà nước đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh thực hiện từng bước cải
cách kinh tế, văn hóa, xã hội, con người, nhằm phục vụ quốc kế dân sinh,
nâng cao từng bước đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết
là nhân dân lao động. Đó là thực hiện từng bước nhiệm vụ giải phóng dân
tộc về mặt kinh tế.
Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thắng lợi, bên cạnh những
quyền lợi kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội được cách mạng đem lại cho
nhân dân, Hồ Chí Minh không ngừng quan tâm đến đời sống thực tế của
nhân dân. Người đã nói: Chúng ta đấu tranh được tự do, độc lập rồi mà
dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Từ khi
nước nhà độc lập, Hồ Chí Minh chủ trương kết hợp giữ nước với dựng
nước, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, tự cung tự cấp. Hồ Chí Minh
chỉ rõ thực hiện tự cung, tự cấp trong kháng chiến chống thực dân Pháp


không phải là bế quan tỏa cảng với nước ngoài, cũng không phải xóa bỏ
tất cả hệ thống phân công sản xuất, hoặc không còn việc lưu thông điều
hòa kinh tế giữa các địa phương với nhau. Người chỉ rõ, nước ta còn
nghèo, muốn sung sướng thì phải tự lực cánh sinh, cần cù lao động, cần
kiệm xây dựng nước nhà. Năm 1947 khi nói về mục đích của cách mạng,
Hồ Chí Minh viết:
“1. Mục đích: Làm cho người nghèo thì đủ ăn. Người đủ ăn thì khá
giàu. Người khá giàu thì giàu thêm. Người nào cũng biết chữ, người nào
cũng biết đoàn kết, yêu nước.
2. Cách làm: Đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân” [25, 65].
Để thực hiện ý nguyện đó của nhân dân, Hồ Chí Minh chỉ rõ, tất cả

tưởng giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và giải phóng xã hội.
Chúng ta có thể thấy vấn đề giải phóng dân tộc và con người qua
cách diễn đạt của Hồ Chí Minh về mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, một xã
hội vì dân tộc, vì con người trong khái niệm cặp đôi của nó. Người quan
niệm: “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giàu, nước mạnh” [31,226],
“là cho mọi người được ăn no, mặc ấm, sung sướng, tự do” [31,396], “là
làm cho mọi người được ấm no, hạnh phúc và học hành tiến bộ” [33, 97].
Chủ nghĩa xã hội là “xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh
thần ngày càng tốt” [33, 591]. Những mục tiêu cụ thể trên đây được Hồ
Chí Minh khái quát một cách súc tích và nhất quán khi Người khẳng
định: “Xã hội chủ nghĩa không có bóc lột và áp bức dân tộc”[31,559], là
“một xã hội đảm bảo cho đất nước phát triển rực rỡ một cách nhanh
chóng chưa từng thấy, đưa quần chúng lao động đến một cuộc sống xứng
đáng, vẻ vang và ngày càng phồn vinh, làm cho mọi người lao động có
một Tổ quốc tự do, hạnh phúc và hung cường, hướng tới chân trời tươi
sáng mà trước kia không thể nghĩ tới” [31, 560].


CHƯƠNG 2
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG
HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN LIỀN VỚI
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI
ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY
2.1 Công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay
2.1.1 Khái quát công cuộc đổi mới ở Việt Nam
Việt Nam bước vào sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước và tiến
hành như một cuộc cách mạng thực sự chỉ bắt đầu từ năm 1986. Nhưng
trước đó, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách phát
triển kinh tế mang tính chất đổi mới. Những đổi mới này vừa đáp ứng đòi
hỏi của thực tiễn, vừa là bước tìm tòi, thử nghiệm con đường phát triển

Nhìn lại con đường phát triển của Việt Nam trước và từ khi đổi mới
đến nay dưới góc độ phát triển kinh tế - xã hội, có thể nói Việt Nam đã
trải qua những thời kỳ quan trọng như sau:
- Giai đoạn 1979 – 1985: Thời kỳ mà khủng hoảng kinh tế - xã hội
ngày càng trầm trọng, nhất là sau khi thực hiện chính sách giá – lương –
tiền năm 1985 mà hậu quả của nó làm cho cuộc khủng hoảng đạt đến
đỉnh điểm vào đầu năm 1986. Đây cũng là thời kỳ xuất hiện những sáng
tạo về phương thức quản lý kinh tế cả trong sản xuất nông nghiệp lẫn
công nghiệp ở một số địa phương trong cả nước.
- Giai đoạn 1986 – 1990: Bước đầu giải quyết được những hậu quả
của cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội nhờ thực hiện những chủ trương và
chính sách đổi mới toàn diện của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
- Giai đoạn 1991 – 1996: Việt Nam ra khỏi khủng hoảng và liên tục
phát triển ổn định với tốc độ tăng trưởng GDP khoảng trên 8%.


- Giai đoạn 1991 – 1999: Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài
chính ở châu Á nên tốc độ tăng trưởng GDP giảm xuống còn khoảng 5%.
- Giai đoạn 2000 – 2007: Việt Nam chính thức ra khỏi khủng
hoảng kinh tế - xã hội và đạt sự phát triển ổn định trên tất cả các mặt, các
lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội với tốc độ tăng trưởng liên tục đạt
khoảng 8%, tỷ lệ lạm phát luôn giữ ở một con số (khoảng 5 – 6%).
- Giai đoạn từ năm 2008 đến nay: Do ảnh hưởng của cuộc khủng
hoảng kinh tế - tài chính thế giới, kinh tế Việt Nam gặp nhiều khó khăn,
tốc độ tăng trưởng giảm xuống còn khoảng trên 6% (tháng 9 năm 2009).
2.1.2 Đặc trưng của công cuộc đổi mới ở nước ta
Nhìn lại lịch sử, có thể khái quát sự nghiệp đổi mới ở nước ta ở
những đặc trưng chủ yếu sau:
Thứ nhất, sự nghiệp đổi mới được tiến hành theo định hướng xã
hội chủ nghĩa.

kết, khái quát thành lý luận chung về xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
2.2 Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sơ sở lý luận để
giải quyết đúng đắn mối quan hệ dân tộc và giai cấp
Trong kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ, nói
chung Đảng ta rất vững vàng và sáng tạo trong chỉ đạo thực hiện mối
quan hệ giai cấp và dân tộc, dân tộc và quốc tế, góp phần vào thắng lợi
của các cuộc kháng chiến.
Ngày nay, mối quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội chủ
yếu là mối quan hệ hợp tác và đấu tranh trong nội bộ nhân dân, đoàn kết
và hợp tác lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự
lãnh đạo của Đảng. Lợi ích giai cấp công nhân và nhân dân lao động
thống nhất với lợi ích toàn dân tộc dưới mục tiêu chung là độc lập và chủ
nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Nội dung đấu tranh trong giai đoạn hiện nay ở nước ta là thực hiện thắng
lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, khắc phục tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đấu tranh ngăn


chặn những tư tưởng và hành động cản trợ sự nghiệp đó, đấu tranh làm
thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch.
Trong công cuộc đổi mới hiện nay, Đảng ta rất coi trọng và giải
quyết tốt mối quan hệ giai cấp – dân tộc. Có thể khái quát quan điểm của
Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc
trong thời kỳ đổi mới hiện nay trong những nội dung sau:
Một là, trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam, sự tồn tại lâu dài của các
giai cấp là một tất yếu khách quan
Hai là, trong thời kỳ quá độ, đấu tranh giai cấp không còn dừng ở
hình thức sơ khai, ban đầu là đấu tranh giữa giai cấp này với giai cấp khác,
mà đã trở thành cuộc đấu tranh giữa tiến bộ và lạc hậu, giữa cách mạng và
phản cách mạng, giữa chế độ xã hội ưu việt và chế độ xã hội lỗi thời.

đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công
cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [22, 431]. Ở đây,
Hồ Chí Minh hiểu văn hóa theo nghĩa rộng nhất của khái niệm này, bao
gồm cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, khẳng định lý do, tính tất
yếu của sự tồn tại và phát triển của văn hóa và đặc biệt, Hồ Chí Minh đã
hai lần nhấn mạnh đặc trưng quan trọng nhất của văn hóa là “sáng tạo và
phát minh”, đồng thời chỉ ra các lĩnh vực, loại hình chính của văn hóa.
Độc lập về văn hóa, Đại hội X của Đảng chỉ rõ: “Xây dựng nền văn
hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc…cần tập trung xây dựng môi
trường, lối sống và đời sống văn hóa của mọi người dân ở cơ sở, phát huy
tinh thần tự nguyện, tính tự quản và năng lực làm chủ của nhân dân” [7,
34].
Từ thực tiễn lãnh đạo văn hóa trong thời kỳ đổi mới, Đảng cộng
sản Việt Nam đã nêu rõ 5 quan điểm chỉ đạo xây dựng và phát triển văn
hóa Việt Nam.


Thứ nhất, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu,
vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.
Thứ hai, nền văn hóa mà Việt Nam xây dựng là nền văn hóa tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Thứ ba, nền văn hóa mà Việt Nam xây dựng là nền văn hóa thống
nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Viêt Nam.
Thứ tư, xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân
do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò
quan trọng.
Thứ năm, văn hóa là một mặt trận; xây dựng và phát triển văn hóa
là sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự
kiên trì, thận trọng

tạo là một nguyên tắc của sự tiến bộ và phát triển. Khi nói đến vận dụng
lý luận hay học hỏi kinh nghiệm, chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc “phải
sáng tạo”. Muốn có những nhà ngoại giao tài ba, muốn có những chuyên
gia hoạt động quản lý nhà nước về đối ngoại nhất định phải khuyến khích
và nuôi dưỡng sự sáng tạo trong công tác đối ngoại và hoạt động ngoại
giao.
Nhìn lại chặng đường 80 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng
sản Việt Nam, sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta đã đạt
những thành tựu to lớn. Việt Nam từ một nước thuộc địa đã trở thành một
quốc gia độc lập có chủ quyền, từ một nước nghèo nàn, lạc hậu đã vươn
mình trở thành một quốc gia phát triển mạnh mẽ. Đặc biệt trong những
năm đổi mới, cùng với kinh tế không ngừng tăng trưởng là vai trò quốc tế
của Việt Nam không ngừng mở rộng, giao thương ngày càng đi vào chiều
sâu và bền vững. Tất cả những thành tựu đó không tách khỏi đường lối
đúng đắn của Đảng và đặc biệt là quan điểm độc lập dân tộc gắn liền với
chủ nghĩa xã hội của chủ tịch Hồ Chí Minh.


Thực thi đường lối đối ngoại mềm dẻo, linh hoạt nhưng vẫn có tính
nguyên tắc để bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc mà không làm phương hại
lợi ích của các quốc gia – dân tộc khác.
Ý thức dân tộc, tư duy về nền độc lập dân tộc trong thời đại ngày
nay đã và đang được bổ sung và phát triển, xuất phát từ những biến đổi
hết sức phức tạp trong mối tương quan giữa các lực lượng, mối quan hệ
giữa các quốc gia – dân tộc trong từng khu vực và trên toàn thế giới.


KẾT LUẬN
Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của sự vận dụng và phát triển
sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện Việt Nam. Những nguồn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status