BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ MỸ HẠNH
QUAN HỆ GIỮA NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA VIỆT NAM VÀ CỘNG HÒA PHÁP
(1991 - 2005)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Thành phố Hồ Chí Minh – 2006
MỤC LỤC
MỤC LỤC .................................................................................................................... 3
30T
T
0
3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ......................................................................... 6
30T
T
0
3
MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 7
T
0
3
30T
6. Bố cục của luận văn: ....................................................................................................15
T
0
3
30T
Chương 1: QUAN HỆ VIỆT - PHÁP TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 1996 ............... 16
30T
T
0
3
1.1. Khái quát về quan hệ Việt - Pháp trước 1991. ..........................................................16
T
0
3
T
0
3
1.2. QUAN HỆ VIỆT NAM - PHÁP TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 1996. .........................20
1.2.2. Tình hình nước Pháp ...........................................................................................24
T
0
3
30T
1.2.3. Tình hình Việt Nam .............................................................................................27
T
0
3
30T
1.2.4. Quan hệ Việt - Pháp trong lĩnh vực chính trị - ngoại giao ..................................29
T
0
3
T
0
3
1.2.5. Quan hệ Việt - Pháp trong lĩnh vực kinh tế- thương mại. ...................................35
T
0
3
T
0
3
1.2.7. Quan hệ Việt - Pháp trên một số lĩnh vực khác. ..................................................47
T
0
3
T
0
3
1.2.8. Tiểu kết chương 1 ................................................................................................49
T
0
3
30T
3
Chương 2: QUAN HỆ VIỆT NAM - PHÁP TỪ NĂM 1997 ĐEN NĂM 2005 .... 51
30T
T
0
3
2.1. Tình hình quốc tế và khu vực. ...................................................................................51
3
30T
2.4.Quan hệ Việt - Pháp trong lĩnh vực chính trị - ngoại giao. ......................................59
T
0
3
T
0
3
2.5.Quan hệ Việt - Pháp trong lĩnh vực kinh tế - thương mại. .......................................63
T
0
3
T
0
3
2.5.1.Thương mại. .........................................................................................................63
T
0
3
30T
2.5.2. Hợp tác đầu tư. ....................................................................................................68
2.8.Tiểu kết chương 2. ......................................................................................................81
T
0
3
30T
Chương 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ VE QUAN HỆ VIỆT – PHÁP
30T
(1991 - 2005) ............................................................................................................... 84
30T
3.1. Kết quả của quan hệ Việt - Pháp. ..............................................................................84
T
0
3
T
0
3
3.2.Đặc điểm của quan hệ Việt - Pháp. ............................................................................93
T
0
3
T
0
T
0
3
30T
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 112
30T
30T
TÀI LIÊU THAM KHẢO ...................................................................................... 116
30T
30T
I.Tiếng Việt: ..................................................................................................................... 116
T
0
3
30T
II.Tiếng Anh: ...................................................................................................................131
T
0
3
30T
PHỤ LỤC CÁC BẢNG ........................................................................................... 135
30T
30T
5
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADB: Ngân hàng phát triển Châu Á.
ADETEF: Cơ quan hỗ trợ phát triển trao đổi công nghệ, kinh tế và tài chính Pháp.
AFD:
Cơ quan phát triển Pháp.
APD:
Viện trợ phát triển chính thức.
ASEAN:
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á.
BAD: Ngân hàng phát triển châu Á.
CCF:
Trung tâm văn hóa Pháp
CFD:
Quỹ dành cho các nước đang phát triển Pháp.
UNDP: Chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc.
USD:
Đô la Mỹ.
XHCN: Xã hội chủ nghĩa.
WB:
Ngân hàng thế giới.
WTO: Tổ chức Thương mại thế giới.
ZPE:
Khu vực đoàn kết ưu tiên.
6
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Việt Nam và Pháp có mối quan hệ khá lâu. Ngay từ thế kỷ XVII - VXIII, khi những
nhà truyền giáo đầu tiên đặt chân lên đất nước ta để giảng đạo, một bộ phận nhỏ cư dân Việt
Nam đã đón nhận và tin theo những gì họ mang đến. Quan hệ hai nước có lẽ được nhắc đến
nhiều hơn khi Nguyễn Ánh (vua Gia Long sau này) gặp giáo sỹ Pigneau de Béhaine (còn
gọi là Bá-Đa-Lộc) và được chính phủ Pháp giúp đỡ thông qua Hiệp ước Versailles năm
1787, một phần trong những lý do đau đớn cho nhân dân Việt Nam với cuộc đấu tranh bảo
trong cộng đồng quốc tế phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển" [38, tr.42].
Như vậy, bắt đầu từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, qua các kỳ Đại hội, Đảng cộng
sản Việt Nam đã thể hiện sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động về quan
hệ đối ngoại với các nước trong khu vực và thế giới, đặc biệt là các nước phát triển cao, có
mối quan hệ truyền thống từ trước. Như vậy, chủ trương trên đã trở thành cơ sở pháp lý để
Việt Nam nghiêm túc đánh giá lại quan hệ với nhiều nước, trong đó có Cộng hòa Pháp,
đồng thời tiếp tục nâng quan hệ với Pháp lên một "tầm cao" mới. Mặt khác, từ góc độ của
Pháp (và Cộng đồng châu Âu) ắt hẳn cũng muốn thông qua Việt Nam tiếp cận hơn nữa với
các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á mà không lâu trước đây là những nước đối đầu.
Chủ đề quan hệ Việt - Pháp trong giai đoạn trước đây luôn là mối quan tâm lớn của
nhiều học giả, các giới lãnh đạo chính trị, các nhà quân sự, các nhà quản lý kinh tế... ở nhiều
góc độ chuyên môn và phương pháp tiếp cận khác nhau, nhìn chung những kết quả nghiên
cứu đã có những đóng góp to lớn và hết sức giá trị nhằm nâng caơ sự hiểu biết về mối quan
hệ hai nước với những thành tựu đã đạt được qua các giai đoạn lịch sử cụ thể. Từ sau năm
1975, mối quan hệ này càng có điều kiện nảy nở và đặc biệt được thúc đẩy mạnh mẽ trong
giai đoạn 1991 - 2005 trên nhiều lĩnh vực: chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hóa giáo dục,
khoa học kỹ thuật...
Trên cơ sở những tài liệu đã được công bố, tôi mạnh dạn chọn đề tài "Quan hệ giữa
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Pháp từ năm 1991 đến năm 2005" với
mong muốn của bản thân là dựa trên những sự kiện thu thập được từng bước khái quát hóa
và nhận diện rõ hơn mối quan hệ thú vị này. Từ đó, chúng tôi đưa ra những nhận định trên
cơ sở đặt mối quan hệ này trong bối cảnh thế giới, khu vực và sự phát triển của tình hình nội
tại mỗi quốc gia trong từng thời điểm khác nhau. Luận văn cũng là cơ hội cho bản thân tìm
hiểu thêm tư tưởng của Hồ Chí Minh về quan điểm đối ngoại và sự vận dụng của Đảng ta
trong quá trình đổi mới, mà quan hệ Việt - Pháp là một ví dụ sinh động và điển hình.
8
Mục đích chính của luận văn là góp phần tìm hiểu thực chất quá trình phát triển của
cuốn tài liệu giới thiệu hoạt động hợp tác của Pháp tại Việt Nam do Đại sứ quán Pháp xuất
bản bằng ba thứ tiếng Việt, Pháp và Anh. Những loại tài liệu này chỉ mang tính chất là
nguồn cung cấp số liệu mà không đưa ra lời bình luận hay nhận xét, đồng thời chỉ xuất bản
từ năm 2002 trở lại đây.
Như vậy, hiện vẫn chưa có một công trình hay cuốn sách nào được công bố mà nghiên
cứu một cách toàn diện, hệ thống về quan hệ Việt - Pháp giai đoạn từ 1991 đến 2005. Do đó
đề tài được thực hiện trên cơ sở tham khảo các nguồn tài liệu chính sau:
Các văn kiện của Đảng, nhà nước CHXHCN Việt Nam, các Hiệp định, Tuyên bố
chung, Thông cáo chung, Nghị định thư và văn bản ký kết giữa hai nước. Các bài phát biểu,
11
điện, thư của các nhà lãnh đạo hai nước. Các văn bản, báo cáo tiếp xúc của các phái đoàn,
chính phủ, cơ quan ngoại giao hai nước.
Các tài liệu của Bộ ngoại giao, số liệu của Bộ Thương mại, Bộ kế hoạch đầu tư, Cục
thống kê... Các tài liệu liên quan đến quan hệ Việt Nam - Pháp lưu trữ ở Trung tâm lưu trữ
Quốc gia n, Đại sứ quán Pháp... Các bài viết đăng tải trên tạp chí: Nghiên cứu lịch sử,
nghiên cứu châu Âu, Nghiên cứu Quốc tế, nghiên cứu kinh tế thế giới, Tạp chí Cộng sản,
Tạp chí chính tri lý luận, Những vấn đề kinh tế thế giới... và các bài đăng trên các báo
Thông tấn xã, Nhân dân, Quân đội, Tuần tin tức, Tuần báo Quốc tế, Đầu tư, Hà Nội mới,
Sài Gòn giải phóng, Lao Động...; Các trang web của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam như: website của Đảng cộng sản Việt Nam (www.cpv.org.vn), Quốc hội Việt Nam
U
U
(www.na.gov.vn), Bộ Văn hóa - Thông tin (www.cinet.vnn.vn), Bộ khoa học công nghệ và
U
U
U
U
Nhìn chung, tài liệu về đề tài này tương đối phong phú nhưng không tập trung, những
số liệu trích dẫn từ các nguồn nhiều lúc có sự chênh lệch, không nhất quán gây không ít khó
khăn trong quá trình tập hợp và phân loại tài liệu với khả năng có hạn của người thực hiện
đề tài.
3. Phương pháp nghiên cứu:
Về phương pháp nghiên cứu, dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin,
chúng tôi sử dụng hai phương pháp chuyên ngành, đó là phương pháp lịch sử và phương
pháp logic. Đồng thời, chúng tôi cũng vận dụng phương pháp liên ngành như phương pháp
nghiên cứu quan hệ quốc tế, quan hệ kinh tế quốc tế... nhằm phối hợp đồng bộ kiến thức của
những ngành khoa học và xâu chuỗi các sự kiện, nội dung liên quan đến đề tài như chính trị,
ngoại giao, kinh tế, văn hóa...
Trong quá trình khai triển đề tài và xử lý tài liệu, chúng tôi vận dụng phương pháp lịch
sử để tiếp cận có hệ thống với nội dung cần phân tích. Đó là xem xét mối quan hệ Việt -
12
Pháp trên nhiều khía cạnh, dưới nhãn quan từ hai phía, ngay từ khi ra đời cho đến trước năm
2005 để thấy được sự phát triển từ đối đầu trong giai đoạn trước năm 1954 (giai đoạn Pháp
xâm lược Việt Nam), sang giai đoạn đối thoại từ năm 1954 đến trước năm 1991 (trong công
cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và khi Pháp chính thức đặt quan hệ ngoại giao với
Việt Nam cho đến sự kiện các nước Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, Việt Nam đối mặt với rất
+ Về thời gian: Luận văn đề cập đến mối quan hệ Việt Nam - Pháp từ 1991 đến 2005.
Tuy nhiên, để làm rõ hơn mối quan hệ truyền thống này chúng tôi có đề cập một vài vấn đề
liên quan giai đoạn trước năm 1991. + về nôi dung: Đề tài đi sâu vào tìm hiểu mối quan hệ
Việt Nam - Pháp giai đoạn 1991 - 2005 trên một số lĩnh vực: chính tri - ngoại giao; kinh tế thương mại; văn hóa - giáo dục; khoa học - kĩ thuật và một vài nội dung khác. Trình bày
thêm những nhân tố tác động đến quan hệ Việt Nam - Pháp như bối cảnh quốc tế, khu vực;
sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Pháp... Qua đó, chúng tôi rút ra những nhận xét, bài
học kinh nghiệm, dự báo những cơ hội và thách thức, nêu lên triển vọng và xu thế phát triển
của quan hệ hợp tác giữa hai nước.
5. Đóng góp của luận văn.
- Trên cơ sở phân tích và so sánh những tài liệu thu thập được, chúng tôi cố gắng hệ
thống hóa hoàn chỉnh trong điều kiện có thể về quan hệ Việt -Pháp từ năm 1991 - 2005 trên
các lĩnh vực hợp tác.
- Nằm trong chính sách đối ngoại, đặc biệt từ 1991 đến nay, Đảng ta đã chủ trương
triển khai mạnh mẽ quan điểm đa dạng hóa, đa phương hóa, sử dụng ngoại lực để chấn hưng
nội lực và thúc đẩy sự nghiệp đổi mới toàn diện theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Luận văn
đã góp phần phản ánh cho thấy tính chất đúng đắn trong chính sách, sự chủ động, linh hoạt
và kịp thời ương chỉ đạo chiến lược cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới, thời kỳ xây
dựng chủ nghĩa xã hội phát triển vững mạnh của Đảng cộng sản Việt Nam.
- Từ kết quả của mối quan hệ này, chúng tôi đưa ra những nhận định về đặc điểm, rút
ra những bài học kinh nghiệm, cơ hội thách thức trong bối cảnh mới để từ đó dự báo triển
vọng hợp tác của mối quan hệ này, đồng thời làm cơ sở để xây dựng mối quan hệ hợp tác
khác.
- Trong quạ trình thực hiện đề tài, tiếp cận với nhiều loại tài liệu khác nhau, đặc biệt
các nguồn tài liệu cung cấp từ Đại sứ quán Pháp, trên hệ thống website của các tong tin điện
tử trong và ngoài nước, luận văn đã tập hợp được một số tranh ảnh, bản biểu đồ, các nghị
định, các bản thỏa thuận hợp tác giữa hai nước, từ đó làm sáng tỏ thêm mối quan hệ giữa hai
nước được thiết lập là phù hợp với mong muốn và quyền lợi của hai bên.
14
1858 cho đến 1954 (thực ra có thể tính từ Hiệp ước năm 1883 - 1884 đến Hiệp định năm
1954); hai là từ 1954 cho đến 1973 khi hai nước chính thức đặt quan hệ ngoại ngoại và thời
gian còn lại.
Ở giai đoạn đầu, quan hệ hai nước chỉ mang tính chất một chiều và chất chứa nhiều
yếu tố bất bình đẳng của Pháp đối với Việt Nam. Xuất phát từ sự khác nhau rất xa về nhiều
mặt (từ trình độ phát triển, chế độ chính trị cho đến ý thức hệ...) nên thực dân Pháp đã tự
phong cho mình cái gọi là sứ mệnh khai hóa. Thực tế, Pháp chỉ coi Việt Nam như một "đóa
hoa đẹp nhất trong các thuộc địa" cung cấp cho chính quốc mọi thứ từ vật chất đến nguồn
lực. Trước hai cuộc chiến tranh thế giới, Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng bị
cuốn vào bởi những chính sách huy động kinh tế, nhân lực và tài lực; còn sau chiến tranh,
nơi này trở thành "cái mỏ" để tư bản Pháp đào khoét và vơ vét nhằm bù đắp thiệt hại.
16
Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc đã mở ra thời kỳ mới trong lịch sử thế giới hiện
đại. Bên cạnh sự hình thành của trật tự thế giới hai cực Ianta, các phong trào giải phóng dân
tộc, đòi hòa bình dân chủ của nhân dân lao động tại những nước thuộc địa và phụ thuộc
cũng bùng phát mạnh mẽ. ở Đông Dương, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Lợi
dụng sự non trẻ của chính quyền cách mạng, sự che chơ của quân đội Đồng Minh, Pháp lại
lần nữa nổ súng đánh chiếm Việt Nam, âm mưu cai trị lâu dài. Tuy nhiên, thời thế lúc này
đã khác, người Pháp không hiểu được rằng những biến đổi sâu sắc về chính tri trong chiến
tranh thế giới thứ hai đặt đế quốc Pháp trước một xứ Đông Dương đã nhận thức được sức
mạnh của chính mình và sẽ quyết tâm đứng lên giành độc lập. Họ không thấy được rằng
những nguyên tắc về chế độ thuộc địa mà người ta quan niệm trước đây đã không thể đứng
vững trước những rung chuyển về mặt xã hội do cuộc chiến tranh thế giới thứ hai gây ra. Họ
không nhận thức được một cách đúng đắn và đầy đủ những thay đổi về thời cuộc, họ đã "tự
tách mình ra khỏi những biến cố trên thế giới và cứ tưởng như mình đang sống vào năm
1939..." [203, tr.43]. Với Việt Nam, đường lối đối ngoại của chính phủ cũng là ước nguyện
của hai mươi triệu dân quyết "đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để
90 của thế kỷ XX.
Như vậy, dù diễn biến còn nhiều bất ổn nhưng chính phủ Pháp vẫn kiên quyết theo
đuổi chính sách "tiếp tục phát triển quan hệ với Việt Nam về kinh tế, văn hoa cổ thể cả
chính trị bất kể hoàn cảnh khổ khăn như thế nào" như nội dung trong bản Cương lĩnh của
Đảng xã hội (Đảng của Tổng thống Francois Mitteưand) [134, tr.22]. Hai bên đã nỗ lực rất
nhiều để nối quan hệ. Trong việc giải quyết vấn đề Camphuchia, Pháp đã có những động
thái tích cực giúp đỡ Việt Nam hòa giải bằng việc tăng cường các cuộc tiếp xúc với Việt
Nam cho dù vấp phải không ít lời chỉ trích của cộng đồng phương Tây.
về ngoại giao, có thể điểm qua các sự kiện đánh dấu quá trình phát biển mối quan hệ
giữa hai nước. Đó là chuyến thăm Pháp của Thủ tướng Phạm Văn Đồng (25 - 28/4/1977),
Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch (4/1982). Các hoạt động này ngoài việc đem đến
cho Việt Nam những điều kiện thuận lợi mới về sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước
sau chiến tranh với việc kí kết các hợp đồng, hiệp định...; còn có ý nghĩa lớn về chính trị: đó
là tăng cường uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, từng bước tranh thủ được
sự ủng hộ của các quốc gia đối với sự nghiệp đổi mới. Trong quan điểm về tiến trình hội
nhập quốc tế nói chung và chính sách đối với Pháp nói riêng, Thủ tướng Phạm Văn Đồng
cho biết: "chúng tôi ra sức phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác với tất cả các nước anh
em và bầu bạn gần xa. Trong đó nước Pháp có một vị trí xứng đáng" [7, tr.1]
Về phía Pháp, ngoài các trao đổi đoàn, phải kể đến chuyên thăm Việt Nam của Bộ
trưởng ngoại giao De Guiringard (tháng 9/1978), Thứ trưởng Ngoại giao Stirn (7/1979), cựu
Bộ trưởng ngoại giao Francois Poncet (9/1980), Bộ trưởng Ngoại giao Cheyson (1983). Kết
quả của các cuộc thăm viếng thường xuyên này đã giúp hai nước hiểu rõ về lập trường, quan
điểm của nhau và Tổng thống Pháp - Valéry Giscard D'Estaing đã khẳng định: "chúng tôi
nhận thức rõ tầm quan trọng và vai trò của Việt Nam với sự ổn định và hòa bình ở Đông
Nam Á. Chúng tôi cho rằng Việt Nam phải sớm giữ được vị trí của mình tại Liên Hợp
Quốc" [7, tr.4]..
19
trong thế giới đương đại.
20