Xác lập biên giới trên đất liền giữa Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa - Pdf 25



1
Đại học quốc gia Hà Nội
Khoa Luật
NGUYN TH HNG Xác lập biên giới trên đất liền giữa
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
và Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa

Luận văn thạc sĩ khoa học Luật

Luận văn thạc sĩ khoa học Luật

Ngi hng dn khoa hc: PGS.TS. NGUYN B DIN
Hà Nội, 2002 3
Tác giả xin cam đoan, Luận văn "Xác lập biên giới trên đất liền giữa Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hoà nhân dân Trung Hoa" là kết quả
nghiên cứu của riêng mình.
Bản luận văn này đã đƣợc hoàn thành trên cơ sở nghiên cứu, tổng hợp, đối
chiếu so sánh và phân tích những nguyên tắc và nội dung việc xác lập biên giới trên
đất liền giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hoà Nhân dân Trung
Hoa dƣới ánh sáng của pháp luật và thực tiễn quốc tế. Luận văn không hề sao chép
các công trình nghiên cứu hay đề tài khoa học nào khác đã đƣợc công bố.
Trong quá trình thực hiện và hoàn thành bản luận văn này, tác giả có tham
khảo một số công trình nghiên cứu, giáo trình, luận văn thạc sĩ, cử nhân, một số bài
viết chuyên đề của một số tác giả trong và ngoài nƣớc và đƣợc trích dẫn cũng nhƣ
nguồn tài liệu trích dẫn đƣợc nêu tại Danh mục Tài liệu tham khảo tại phần cuối của
Luận văn.
Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sự hƣớng dẫn tận tình, nghiêm túc và khoa

1.3.3. Biên giới lòng đất 13
1.3.4. Biên giới vùng trời 13
1.4. Phân loại biên giới 14
1.4.1. Biên giới tự nhiên và biên giới nhân tạo 14
1.4.2. Biên giới chính thức và không chính thức 18
1.4.3. Biên giới đơn phƣơng và song phƣơng 18
1.4.5. Các loại biên giới khác 19
1.5. Xác lập biên giới quốc gia 21
1.5.1. Khái niệm, ý nghĩa của quá trình xác lập biên giới quốc gia 21
1.5.2. Các giai đoạn của quá trình xác lập đƣờng biên giới 22
1.6. Quy chế pháp lý của biên giới quốc gia 27
1.6.1. Pháp luật quốc tế về biên giới quốc gia 27
1.6.2. Quy chế pháp lý về biên giới quốc gia 30
1.7. Giải quyết tranh chấp về biên giới trong luật pháp quốc tế 31
1.7.1. Tranh chấp về biên giới 31 5
1.7.2. Pháp luật quốc tế về giải quyết tranh chấp biên giới 33
Kết luận 37
Chƣơng 2:
NGUYÊN TẮC VÀ HOẠCH ĐỊNH BIÊN GIỚI TRÊN ĐẤT
LIỀN GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC 39
2.1. Khái quát về lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và
Trung Quốc 41
2.1.1. Biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc trƣớc khi Pháp
xâm lƣợc (1858) 41
2.1.2. Biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc trong thời kỳ
Pháp đô hộ Việt Nam (công ƣớc hoạch định biên giới 1887 và 1895) 44
2.1.3. Biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc từ 1954 đến

với việc bảo đảm an ninh biên giới, trật tự an toàn xã hội tại các khu vực
biên giới, cửa khẩu 116
3.2.5. Xây dựng và thúc đẩy quan hệ hợp tác, phát triển giữa các quốc gia
láng giềng có chung đƣờng biên giới trong xu thế phát triển chung của khu
vực cũng nhƣ trên thế giới 118
KẾT LUẬN CHUNG 119
PHỤ LỤC 121
1. Sơ đồ một số kiểu biên giới quốc gia
2. Công ƣớc Hoạch định biên giới 1887
3. Công ƣớc bổ sung Công ƣớc Hoạch định biên giới 1895
4. Hiệp định tạm thời 1991
5. Thoả thuận các nguyên tắc 1993
6. Hiệp ƣớc biên giới đất liền 1999.
7. Thông tin về đơn vị hành chính Việt Nam - Trung Quốc
8. Thông tin về khu vực biên giới, cửa khẩu
TÀI LIỆU THAM KHẢO

7
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Lãnh thổ và biên giới quốc gia là một trong những nội dung quan trọng của hệ
thống pháp luật quốc tế. Quốc gia khi tham gia vào các quan hệ pháp luật quốc tế
với tƣ cách là chủ thể cơ bản và quan trọng, thì sự ổn định phát triển của quốc gia
trƣớc hết phụ thuộc vào yếu tố lãnh thổ, bởi lãnh thổ là cơ sở vật chất để một quốc
gia tồn tại và phát triển. Bên cạnh đó, biên giới quốc gia luôn là một vấn đề thiêng
liêng và nhạy cảm đối với mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Khái niệm biên giới quốc gia

biên giới trên đất liền giữa hai nƣớc, thúc đẩy quá trình xây dựng một đƣờng biên
giới hoà bình, hữu nghị, hợp tác và ổn định lâu dài, thực hiện tốt chủ trƣơng chính
sách của Đảng và Nhà nƣớc trong quá trình hội nhập khu vực và thế giới cũng nhƣ
góp một phần nhỏ trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về biên giới lãnh thổ,
đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật quốc tế và pháp luật trong nƣớc
về biên giới lãnh thổ.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề xác lập biên giới trên đất liền nói chung và xác lập biên giới trên đất
liền Việt Nam - Trung Quốc nói riêng luôn đƣợc các quốc gia, tổ chức và các nhà
khoa học quan tâm nghiên cứu. Tại nƣớc ngoài, có một khối lƣợng khá đồ sộ các
công trình nghiên cứu, luận án tiến sĩ có đề cập đến đề tài nói trên, tuy nhiên mới chỉ
giới hạn một số vấn đề về biên giới lãnh thổ cũng nhƣ dừng lại trên nguyên tắc, tiêu
biểu nhƣ: Marking boundary (Tạo lập đƣờng biên giới) của Stephen B. Jones Bên
cạnh đó, cũng có một số luận án tiến sĩ, thạc sĩ viết về đƣờng biên giới trên đất liền
giữa một số nƣớc láng giềng có chung đƣờng biên giới trên đất liền với Việt Nam,
trong đó có đề cập một số nét khái quát về biên giới quốc gia nhƣng cũng chỉ mang
tính khái lƣợc: Luận án tiến sĩ luật của Sarin Chhak, Norodom Ranarith, Raoul
Jennar về biên giới Việt Nam - Cămpuchia. Bên cạnh đó, cũng có một số công
trình nghiên cứu của một số học giả nƣớc ngoài nhƣ: Monique Chemillier Gendreau,
Mark Valenxia, J.V.R Prescot, Dieter Heinzig, Greg Austin, Michael Bennett,
Chang Paomin, Choon Ho Park về các tranh chấp biên giới lãnh thổ giữa Việt
Nam và Trung Quốc, nhƣng chủ yếu tập trung vào tranh chấp trên Biển Đông và hai 9
quần đảo Hoàng Sa - Trƣờng Sa. Về việc xác lập đƣờng biên giới trên đất liền Việt
Nam - Trung Quốc, cho đến nay chƣa có các công trình nghiên cứu nào mà chỉ dừng
lại ở các bài bình luận, nghiên cứu, chuyên khảo Trong nƣớc cũng đã có một số
bài nghiên cứu, luận văn cử nhân nghiên cứu về những vấn đề liên quan đến đề tài
này đăng trong các sách, báo, tạp chí nhƣng mới chỉ dừng lại ở các chuyên đề đơn

nƣớc Việt Nam - Trung Quốc. Trên cơ sở đó, luận văn xây dựng một số định hƣớng
và khuyến nghị nhằm xây dựng một đƣờng biên giới hoà bình, hữu nghị, hợp tác và
ổn định lâu dài giữa hai nƣớc Việt Nam - Trung Quốc.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
Phƣơng pháp luận đƣợc sử dụng trong luận văn là phép biện chứng duy vật và
duy vật lịch sử, các phƣơng pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, đối chiếu, lịch sử.
6. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu toàn diện đầu tiên về việc xác lập đƣờng
biên giới trên đất liền giữa CHXHCN Việt Nam và CHND Trung Hoa. Trên cơ sở lý
luận chung của pháp luật quốc tế và thực tiễn xây dựng đƣờng biên giới giữa hai
nƣớc, luận văn làm rõ những vấn đề lý luận, cơ sở pháp lý của việc xác định đƣờng
biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm
tiếp tục xây dựng đƣờng biên giới Việt - Trung hoà bình, hữu nghị, hợp tác và ổn
định lâu dài, tạo tiền đề thúc đẩy quan hệ hợp tác, xây dựng và phát triển đất nƣớc
đồng thời góp phần bảo vệ chủ quyền quốc gia, bảo vệ hoà bình và an ninh ở khu
vực và trên thế giới.
7. Kết cấu của đề tài: Luận văn gồm phần mở đầu, 3 chƣơng và kết luận
Chương 1: Cơ sở lý luận về biên giới quốc gia trong pháp luật quốc tế
Chương 2: Hoạch định biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc
Chương 3: Xây dựng biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc hoà bình,
hữu nghị, hợp tác và ổn định lâu dài. 11
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ
BIÊN GIỚI QUỐC GIA TRONG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ

1.1. Khái niệm lãnh thổ, biên giới quốc gia
Lãnh thổ bao giờ cũng là một thực thể cụ thể, là cơ sở vật chất của quốc gia.

rất lớn đến quan hệ quốc tế. Một thực tế rõ ràng trong lịch sử quan hệ quốc tế, một
trong những nguyên nhân phổ biến và chủ yếu của các cuộc chiến tranh ở các quy
mô giữa các dân tộc, các quốc gia thƣờng xuất phát từ những tranh chấp, xung đột
và giành giật, chiếm đoạt lãnh thổ với rất nhiều tổn thất và mất mát: Cuộc chiến
tranh giữa Paragoay với các nƣớc láng giềng từ năm 1865 đến 1870 đã làm cho nƣớc
này mất 2/3 lãnh thổ và 65% dân số; Cuộc chiến giữa Chilê và Achentina mà hiệp
ƣớc biên giới trên núi Andes năm 1881 vẫn không ngăn chặn đƣợc xung đột, đến tận
năm 1966 mới giải quyết xong; giữa Ấn Độ và Trung Quốc từ năm 1962 đến nay
vẫn chƣa giải quyết xong; cuộc chiến tranh Iran - Irắc kéo dài hơn 8 năm mà hậu quả
đến những năm 90 của thế kỷ XX mới đi vào quá trình giải quyết [36,53]. Hiện
nay, ngay tại khu vực châu Á vẫn còn tồn tại rất nhiều tranh chấp về biên giới lãnh
thổ chƣa đƣợc giải quyết xong. Đó là các tranh chấp về biên giới lãnh thổ giữa Việt
Nam và Trung Quốc, giữa Thái Lan với Lào, giữa Nga và Nhật Bản
Theo các khái niệm thông thƣờng nhất, lãnh thổ quốc gia là một phần của trái
đất, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng nƣớc nội địa, vùng nội thuỷ, lãnh hải, vùng
nƣớc quần đảo và vùng trời bên trên cũng nhƣ lòng đất dƣới chúng. Ngoài ra, quốc
gia (đặc biệt là quốc gia ven biển) còn có các lãnh thổ đặc biệt với quy chế pháp lý
khác biệt nhƣ: Lãnh thổ mƣợn hay nhƣợng lại có thời hạn, eo biển quốc tế, sông,
kênh đào quốc tế
Phù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế, Điều 1, Hiến pháp 1992 của nƣớc
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: "Nƣớc Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là một nƣớc độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao
gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời"[23,13].
Chủ quyền của quốc gia đối với lãnh thổ của mình là hoàn toàn, riêng biệt và
đầy đủ. Luật quốc tế công nhận cho quốc gia quyền tối cao đối với lãnh thổ. 13
Điều 13, Hiến pháp 1992 của nƣớc CHXHCN Việt Nam khẳng định: "Tổ quốc
Việt Nam là thiêng liêng bất khả xâm phạm. Mọi âm mƣu và hành động chống lại

địa lý.
Các đƣờng biên giới và các vấn đề liên quan đến chúng đã trải qua nhiều thay
đổi lớn. Một thế kỷ rƣỡi trƣớc đây, bức tranh toàn cảnh về đƣờng biên giới thật sự
khác so với hiện tại. Ở châu Á, có một số hiệp ƣớc hoặc các đƣờng ranh giới đã
đƣợc xác lập, nhƣng chỉ là những giới hạn giao động giữa các vƣơng quốc khác
nhau. Tại châu Phi, vào lúc lục địa này còn chƣa “trỗi dậy” và chƣa đƣợc biết đến,
không có đƣờng biên giới nào khác hơn là các giới hạn của quyền lực thống trị của
đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ. Ở châu Mỹ, có các đƣờng biên giới Tây Ban Nha và Bồ Đào
Nha. Các đƣờng biên giới ở châu Âu chiếm số lƣợng nhiều nhất và rõ ràng nhất. Tuy
nhiên, trên thực tế chúng đã thay đổi rất nhiều về vị trí và chức năng qua các thời
đại. Các khái niệm về đƣờng biên giới của châu Âu đã phát triển và mở rộng rất
nhiều cho đến khi chúng bao trùm gần nhƣ hết tất cả các đƣờng biên giới quốc tế
trên khắp các châu lục [47,3]. Ngày nay, các đƣờng biên giới đƣợc xác định bằng
các điều ƣớc quốc tế về biên giới, các quy tắc tập quán, hoặc các phán quyết của toà
án khi các bên cùng thoả thuận yêu cầu toà án giải quyết.
Việc xác lập đƣờng biên giới quốc gia là nhằm phân định rõ giới hạn vùng đất,
vùng nƣớc, vùng trời thuộc chủ quyền toàn vẹn, đầy đủ và riêng biệt của quốc gia;
gắn liền với những lợi ích về chính trị, kinh tế, xã hội và an ninh quốc phòng, do đó,
biên giới quốc gia mang tính pháp lý - chính trị và là sản phẩm do con ngƣời tạo ra
trên cơ sở tôn trọng những yếu tố lịch sử, chính trị, xã hội, địa lý, kinh tế và dân tộc
Theo nghĩa đó, biên giới quốc gia cũng là cơ sở và nền tảng vật chất cho quốc gia
tồn tại và phát triển. Biên giới của một quốc gia còn là đối tƣợng quan tâm của các
quốc gia khác, trƣớc hết là với các quốc gia láng giềng và trong khu vực.
Trong khoa học pháp lý quốc tế, các nhà học giả, nghiên cứu, và các luật gia đã
đƣa ra nhiều định nghĩa khác nhau về biên giới quốc gia. Theo giáo sƣ Rousseau,
trong cuốn Từ điển thuật ngữ pháp luật quốc tế, biên giới là “đƣờng phân định nơi
bắt đầu và nơi kết thúc của lãnh thổ hai quốc gia láng giềng”. Theo giáo sƣ Nguyễn
Quốc Định, biên giới là “đƣờng tách các khu vực lãnh thổ nơi tồn tại hai chủ quyền
riêng biệt”[77,503], [17,67]. Từ điển Luật (Anh) của Earl định nghĩa đƣờng biên


Việc phân tích về các chức năng của đƣờng biên giới là vấn đề khó và trừu 16
tƣợng. Quốc gia nào cũng đều phải có các đƣờng biên giới trên đất liền, trên biển
nhằm thể hiện chủ quyền và bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Do mỗi loại
đƣờng biên giới đều đảm nhiệm một chức năng riêng biệt, vì vậy chỉ có thể sơ bộ
phân biệt các chức năng của biên giới thành hai chức năng chính là chức năng phân
cách (hay ngăn cách) phạm vi chủ quyền và chức năng hợp tác.
1.2.1. Chức năng phân cách phạm vi chủ quyền
Cùng với ý nghĩa phân chia phạm vi lãnh thổ, phân chia các không gian đất
liền và không gian biển theo danh nghĩa sở hữu đối với các không gian đó, đƣờng
biên giới cũng đồng thời có chức năng phân cách phạm vi thực thi chủ quyền giữa
các quốc gia “Đƣờng biên giới phân chia chủ quyền của các quốc gia” [78] cũng nhƣ
giới hạn các không gian thực thi quyền quản lý nhà nƣớc. Chỉ khi xác định đƣợc rõ
ràng đƣờng biên giới quốc gia, quốc gia mới có thể thực hiện đƣợc toàn vẹn và đầy
đủ thẩm quyền quản lý nhà nƣớc (gồm các quyền lập pháp, hành pháp và tƣ pháp)
trên toàn bộ các vùng lãnh thổ thuộc chủ quyền quốc gia của mình. Điều này cho
thấy là không một thực thể quốc tế nào có quyền hoạch định lãnh thổ quốc gia trừ
chính quốc gia đó hoặc khi có yêu cầu của các quốc gia hữu quan. Chẳng hạn, mặc
dù Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc ra Nghị quyết số 687 (ngày 3/4/1991), về phân
định biên giới giữa Irắc và Cô-oét, nhƣng thực tế là do Irắc và Cô-oét yêu cầu Hội
đồng Bảo an Liên hợp quốc bảo đảm cho việc thực hiện Hiệp định hoạch định biên
giới đã đƣợc hai nƣớc này ký kết trƣớc đó, chứ Hội đồng Bảo an không tự đứng ra
tiến hành vấn đề phân định biên giới cho hai nƣớc.
Mỗi một quốc gia đều tìm cách xác lập các đƣờng biên giới để đảm bảo cho an
ninh của mình. Có thể nói rằng vấn đề duy trì ổn định và bền vững đƣờng biên giới
của các quốc gia là điều kiện đảm bảo cho hoà bình và an ninh quốc tế. Điều này đã
đƣợc lịch sử chứng minh và nó cũng không mâu thuẫn với một thực tế hiện nay là có
một châu Âu không biên giới. Vào thời điểm đầu xây dựng ý tƣởng về một liên

và của từng quốc gia nói chung. Đặc điểm các khu vực biên giới thƣờng là những
vùng sâu, vùng xa, vấn đề phát triển kinh tế - xã hội còn gặp nhiều khó khăn, do đó
thông qua việc giao lƣu kinh tế qua biên giới sẽ có thể hỗ trợ cho việc phát triển
vùng biên giới. Đối với Việt Nam và các nƣớc trong khu vực, bên cạnh việc giao lƣu
để giải quyết nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phƣơng, còn phục vụ 18
cho việc từng bƣớc hội nhập kinh tế của cả nƣớc vào trào lƣu phát triển của khu vực.
Biên giới còn là nơi diễn ra các mối quan hệ xã hội đa dạng và phức tạp nhƣng
thƣờng xuyên, phong phú và đan xen nhiều chiều giữa các quốc gia, nhƣ quan hệ
giao lƣu văn hoá, khoa học, kỹ thuật, bảo vệ môi trƣờng, thăm viếng, chữa bệnh
cũng nhƣ quan hệ giữa các dân tộc, họ hàng huyết thống Tiếp thu những văn minh,
tiến bộ của các quốc gia là những biểu hiện tích cực trong quan hệ xã hội và hợp tác
giữa các quốc gia.
Biên giới cũng còn là cửa ngõ quan hệ giao lƣu quốc tế, là bộ mặt của mỗi
quốc gia để quan hệ với các nƣớc láng giềng, khu vực và thế giới, là nơi trực tiếp
diễn ra các quan hệ giữa các cơ quan, lực lƣợng đại diện của hai và các quốc gia,
thực hiện các điều ƣớc quốc tế giữa các quốc gia với nhau. Chính vì thế, chức năng
hợp tác của biên giới, trong thời điểm hiện nay, đang ngày càng đƣợc phát huy cao
độ và chứng minh khả năng và hiện thực trong đời sống quốc tế.
1.3. Các bộ phận cấu thành biên giới quốc gia
Biên giới quốc gia thông thƣờng bao gồm các bộ phận cấu thành sau [57,3]:
1.3.1. Biên giới trên đất liền
Đƣờng biên giới trên đất liền là đƣờng phân chia lãnh thổ giữa các quốc gia có
chung đƣờng biên giới, chạy trên phần đất liền, đảo, trên sông, hồ, kênh đào biên
giới và biển nội địa, là kết quả của việc ký kết các điều ƣớc quốc tế về biên giới giữa
các quốc gia, hoặc là các quyết định của cơ quan tài phán quốc tế khi các bên hữu
quan đồng ý đƣa ra.
1.3.2. Biên giới trên biển

chất bất khả xâm phạm của đƣờng biên giới trên biển bị giới hạn do quyền “đi qua
không gây hại” [11,31] đƣợc quy định trong pháp luật quốc tế. Có thể thấy trong
Phán quyết năm 1951 của về phân định lãnh hải giữa Anh và Nauy, Toà án quốc tế
tuyên bố rằng “Hành vi hoạch định lãnh hải nhất thiết là hành vi đơn phƣơng, chỉ có
quốc gia ven biển mới có thẩm quyền tiến hành. Tuy nhiên, việc hoạch định này có
giá trị hay không đối với các quốc gia khác còn phụ thuộc vào pháp luật quốc tế ”.
1.3.3. Biên giới lòng đất
Biên giới này đƣợc xác định theo một phƣơng thẳng đứng, đƣợc xác định dựa
trên các đƣờng biên giới trên đất liền và biên giới trên biển, kéo dài đến tâm của trái
đất. Trong thực tiễn quốc tế, biên giới này đƣợc các quốc gia mặc nhiên thừa nhận.
1.3.4. Biên giới vùng trời
Biên giới vùng trời là các ranh giới xác định phạm vi vùng trời của một quốc
gia. Trong những năm 1940 và 1950, đã có một số quốc gia đƣa ra tuyên bố về biên

1
Hải lý là đơn vị đo khoảng cách trên biển (1 hải lý = 1 phút kinh tuyến ~ 1.852 mét). 20
giới vùng trời theo tiêu chuẩn không gian, nhƣng hiện nay, chủ quyền quốc gia đƣợc
nhận thức theo những tiêu chuẩn về chức năng sử dụng. Đối với những xu hƣớng thể
hiện trong luật về vùng trời, nhìn chung cho rằng độ cao cao hơn trần hoạt động của
phƣơng tiện bay (khoảng 50 km) là giới hạn vùng trời theo khả năng, nhƣng cũng có
một vài khuynh hƣớng trong thực tế cho rằng bất kỳ việc hoạch định ranh giới vùng
trời nào đều phải tính từ ngoài không gian vũ trụ.
Tuy nhiên, trên thực tế vấn đề này còn đang gây nhiều tranh cãi và chƣa có
một quy định nào của pháp luật quốc tế điều chỉnh lĩnh vực này và cũng chƣa có một
điều ƣớc quốc tế nào giữa các quốc gia ký kết về loại biên giới này nên các quốc gia
đã buộc phải tự đƣa ra những tuyên bố đơn phƣơng về vùng trời của mình theo khả
năng khai thác.

- Biên giới theo đƣờng chân núi là biên giới chạy qua những khu vực phần nền
của những khối núi. Hình thức này thƣờng thấy tại khu vực Bailkan, Đanuýp ở châu
Âu, nhƣng hiện tại không còn đƣợc áp dụng nữa.
Đối với sông suối biên giới, thƣờng có ba loại:
- Biên giới trên bờ sông, theo đó đƣờng biên giới có thể chạy trên bờ sông bên
này hoặc bên kia và toàn bộ sông đƣợc đặt dƣới chủ quyền riêng biệt của một quốc
gia duy nhất trong số hai quốc gia có chung đƣờng biên giới. Đây là dạng ranh giới
cổ, ít đƣợc áp dụng. Ngày nay, phƣơng pháp này không còn thích hợp với các nhu
cầu sử dụng nguồn nƣớc trong thực tế quan hệ giữa các quốc gia ngày nay, nhất là
trong lĩnh vực thuỷ điện và đến nay hầu nhƣ không còn tồn tại. Thực tế cho thấy,
đây cũng là nguyên nhân bất đồng quan điểm giữa Nga và Trung Quốc trong việc
giải thích Hiệp ƣớc Bắc Kinh ngày 2 - 4/11/1860 về sông Ussuri. Phía Nga cho rằng
hiệp ƣớc này đã áp dụng nguyên tắc đƣờng biên giới chạy dọc theo bờ sông, trong
khi đó Trung Quốc lại giải thích biên giới chạy theo trung tuyến của lòng sông hoặc
trung tuyến của luồng chính của sông.
- Biên giới theo trung tuyến của sông. Trong trƣờng hợp này, các điểm giữa
của dòng sông đƣợc đo đạc ở mức nƣớc trung bình trong một thời gian dài (một năm
hay hơn) đƣợc nối lại với nhau và tạo thành biên giới. Phƣơng pháp này đƣợc áp
dụng rộng rãi và tạo thuận lợi cho việc sử dụng sông của cả hai bên.
- Biên giới theo rãnh sâu (thalweg), do Kluber đƣa ra vào năm 1851. Trong 22
Nghị định thƣ hoạch định biên giới giữa Pháp - Đức trên sông Rhin ngày 14/3/1925
định nghĩa “Thalweg là con đƣờng liên tục của những điểm đo sâu lớn nhất”. Tại
các dòng sông tàu thuyền có thể qua lại đƣợc, biên giới chạy theo tuyến sâu nhất của
luồng hàng hải. Hình thức này đã đƣợc áp dụng trong Hiệp ƣớc Pháp - Thái Lan
(25/8/1926) về phân định biên giới Lào - Thái Lan trên sông Mê Kông.
Trong trƣờng hợp sông có nhiều nhánh, một khi các điều khoản của hiệp ƣớc
hoạch định biên giới chƣa giải thích rõ ràng hay một quyết định tài phán không nói

thƣờng áp dụng phƣơng pháp địa hình.
1.4.1.2. Biên giới nhân tạo: Tất cả các đƣờng biên giới đều là ranh giới chính
trị và pháp lý, do con ngƣời tạo ra. Thuật ngữ "biên giới nhân tạo" chỉ có giá trị phân
biệt các đƣờng biên giới do con ngƣời quy định, không dựa vào các đặc điểm địa lý,
tự nhiên cụ thể. Trong nửa đầu của thế kỷ XX, biên giới nhân tạo thƣờng đƣợc phân
biệt theo hai loại là biên giới thiên văn và biên giới hình học.
Biên giới thiên văn là đƣờng biên giới đƣợc xác định theo các kinh tuyến và vĩ
tuyến.
- Biên giới theo vĩ tuyến lần đầu tiên đƣợc xác lập trong thoả thuận miệng
Catean Cambrésis (3/4/1559), sau đó đƣợc chính thức ghi nhận trong Hiệp ƣớc
Madrid (15/11/1630) để phân chia các khu vực thuộc địa của Anh và Pháp tại châu
Phi theo đƣờng xích đạo. Điều 2, Hiệp ƣớc Versaille (3/9/1789) công nhận biên giới
giữa Canada và Mỹ là đƣờng vĩ tuyến 45
o
Bắc từ sông Connecticut tới Saint -
Laurent.
Hình thức này thƣờng đƣợc áp dụng cho phần lớn các đƣờng biên giới của các
quốc gia ở châu Âu; là ranh giới tạm thời phân chia khu vực ảnh hƣởng của một số
quốc gia chƣa thống nhất nhƣ trƣờng hợp vĩ tuyến 17
o
Bắc đối với Việt Nam trong
giai đoạn 1954 - 1975, hay vĩ tuyến 38
o
Bắc ở Triều Tiên.
- Biên giới theo kinh tuyến ít đƣợc sử dụng hơn biên giới vĩ tuyến, mặc dù nó
đã đƣợc ra đời qua văn kiện phân chia biển đầu tiên là Sắc chỉ "Inter Coetera" của
Giáo hoàng Alecxandre VI (4/5/1493) Giáo hoàng Alxandre VI đã quy định lấy kinh
tuyến 100
0
Tây, qua đảo Cape Vert, làm đƣờng phân chia các khu vực biển đặc

định biên giới bao giờ cũng phản ánh tính đa dạng trong các cuộc thƣơng lƣợng về
một biên giới đã có trong thực tế và đòi hỏi các bên cần có một thái độ mềm dẻo để
giải quyết đƣợc một cuộc tranh chấp về một đƣờng biên giới không chính thức hay
đã có trên thực tế (de facto). Nhƣng ngƣợc lại, sự phân biệt này cũng phần nào cho

2
1 liên = 1/10 hải lý. 25
thấy các cuộc thƣơng lƣợng đang diễn ra trong thời điểm hiện nay giữa các quốc gia
về một đƣờng biên giới không chính thức có thể là không cần thiết bằng việc cần có
một sự quan tâm hơn đến một đƣờng biên giới chính thức. Tuy nhiên, đƣờng biên
giới không chính thức của một bên đơn phƣơng đƣa ra cũng là cơ sở ban đầu để đi
vào giải quyết vấn đề hoạch định biên giới giữa các bên, đặc biệt là ở những khu vực
có tranh chấp.
1.4.3. Biên giới đơn phương và song phương
1.4.3.1 Biên giới đơn phương: Căn cứ vào những tài liệu lịch sử của nhân loại
trong quá trình hình thành các quốc gia độc lập, có thể rút ra một kết luận chắc chắn
là việc hoạch định biên giới ở Trung Quốc và Rome là một điển hình của công tác
quản lý hành chính mang tính mơ hồ (không chính xác) và tất nhiên hoàn toàn đơn
phƣơng. Hành vi xác định biên giới đầu tiên trên đất liền đƣợc ghi nhận lại trong
một văn bản đơn phƣơng là do Vua Charlemagne (nƣớc Anh) ban hành mang tính
gia đình hơn là một văn bản hành chính đơn thuần [20,98]. Vào giai đoạn đó, việc
hoạch định biên giới của một đế chế hay một vƣơng triều đều là hoạch định đơn
phƣơng để thực hiện một chức năng hành chính cụ thể nào đó mang tính chính thức
hay không chính thức.
1.4.3.2. Biên giới song phương: Biên giới song phƣơng là một hình thức giải
quyết mang tính quốc tế đã xuất hiện từ thế kỷ XIII [20,201]. Vào thời điểm đó mới
chỉ có một số ít biên giới trên đất liền đƣợc xác định bằng hình thức song phƣơng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status