BÀI TIỂU LUẬN GIỮA HỌC KỲ MÔN VĂN HỌC VIỆT NAM 1930 1945 - Pdf 37

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA VĂN HỌC & NGÔN NGỮ
KHOÁ 2010 - 2014
******

BÀI TIỂU LUẬN GIỮA HỌC KỲ MÔN VĂN HỌC VIỆT
NAM 1930 -1945

NỖI ĐAU TRONG THƠ HÀN MẶC TỬ

Giảng viên: ThS. Lê Thụy Tường Vy
Nhóm thực hiện:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.

Nguyễn Thị Bảo Chăm
Lê Thị Mai Châu
Nguyễn Thị Luyên
Trần Thiên Lý
Huỳnh Thị Nga
Nguyễn Duy Phong
Lê Thị Kim Trang

1056010007

giả đã đặt trong những vần thơ đậm đà tính chất trữ tình của ông.

1. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Hàn Mặc Tử
1.1 Cuộc đời

Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh sinh 22 tháng 9/1912 – mất 11
tháng 11/1940. Ông là một nhà thơ nổi tiếng, khởi đầu cho dòng thơ lãng mạn hiện
đại Việt Nam, là người khởi xướng ra Trường thơ Loạn. Ông sinh ra ở làng Lệ Mỹ, Đồng
Hới, Quảng Bình; lớn lên ở Quy Nhơn, tỉnh Bình Định trong một gia đình theo đạo Công
giáo. Hàn Mặc Tử có duyên với 4 chữ Bình: sinh tại Quảng Bình, làm báo Tân Bình, có
người yêu ở Bình Thuận và mất tại Bình Định. Tổ tiên Hàn Mặc Tử gốc họ Phạm ở
Thanh Hóa. Ông cố là Phạm Chương vì liên quan đến quốc sự, gia đình bị truy nã, nên
người con trai là Phạm Bồi phải di chuyển vào Thừa Thiên Huế đổi họ NGuyễn theo mẫu
tánh. Sinh ra ông Nguyễn Văn Toản lấy vợ là Nguyễn Thị Duy ( con cụ Nguyễn Long,
ngự y có danh thời vua Tự Đức), sinh hạ được 8 người con: 1-Nguyễn Bá Nhân ( tức nhà
3


thơ Mộng Châu) cũng là người dìu dắt Hàn Mặc Tử trên con đường thơ văn. 2- Nguyễn
Thị Như Lễ. 3- Nguyễn Thị Như Nghĩa. 4- Nguyễn Trọng Trí (tức nhà thơ Hàn Mặc Tử).
5- Nguyễn Bá Tín ( người dời mộ Hàn Mặc Tử từ Quy Hòa về Ghềnh Ráng vào ngày 1302-1959). 6- Nguyễn Bá Hiếu ; 2 người em út: Nguyễn Văn Hiền và Nguyễn Văn Thảo.
Hàn Mặc Tử mang vóc mình ốm yếu, tính tình hiền từ, giản dị, hiếu học và thích
giao du bè bạn trong lĩnh vực văn thơ. Do thân phụ là ông Nguyễn Văn Toản làm thông
ngôn, ký lục nên thường di chuyển nhiều nơi, nhiều nhiệm sở, nên Hàn Mặc Tử cũng đã
theo học ở nhiều trường khác nhau như Sa Kỳ (1920), Qui Nhơn, Bồng Sơn (1921-1923),
Pellerin Huế (1926).
Ông có tài năng làm thơ từ rất sớm khi mới 16 tuổi. Ông cũng đã từng gặp
gỡ Phan Bội Châu và chịu ảnh hưởng khá lớn của chí sỹ này. Ông được Phan Bội Châu
giới thiệu bài thơ Thức khuya của mình lên một tờ báo. Sau này, ông nhận một suất học
bổng đi Pháp nhưng vì quá thân với Phan Bội Châu nên đành đình lại. Ông quyết định

với các bút danh : Minh Duệ Thị, Phong Trần, Lệ Thanh,…bắt đầu bằng thơ cổ điển
Đường luật, sau đó chuyển sang sáng tác theo khuynh hướng thơ mới lãng mạn.
Năm 21 tuổi ông làm việc tại Sở Đạc Điền, sau đó đến Sài Gòn, ông làm phóng viên
phụ trách trang thơ cho tờ báo Công luận, cho đến những năm 1936 ông cho ra nhiều tác
phẩm chính.
 Tác phẩm chính của Hàn Mặc Tử, gồm có:
• Lệ Thanh thi tập (gồm toàn bộ các bài thơ Đường luật)
• Gái Quê (1936, tập thơ duy nhất được xuất bản lúc ông chưa qua đời)
• Thơ Điên (hay còn gọi là Đau Thương, thơ gồm ba tập: 1. Hương thơm; 2.

Mật đắng; 3. Máu cuồng và hồn điên năm 1938.
• Xuân như ý
• Thượng Thanh Khí (thơ)
• Cẩm Châu Duyên
• Duyên kỳ ngộ (kịch thơ – 1939)
• Quần tiên hội (kịch thơ-đang viết dở năm 1940)
• Chơi Giữa Mùa Trăng (thơ văn xuôi – năm 1940)
Qua diện mạo thơ hết sức tạp và đầy bí ẩn của thơ Hàn Mặc Tử ta có thể cảm nhận
được tính chất thơ trong ông có sự đan xen, của những thứ gần gũi thân thuộc, thanh
khiết, thiêng liêng nhất, cả những gì gê rợn, ma quái, cuồng loạn nhất. Trong đó có trăng,
hoa, nhạc … chen lẫn hồn, máu, yêu ma,…và chính đằng sau cái thế giới hình ảnh phức
tạp kia, vẫn hiện rõ một con người luôn thương yêu cuộc sống. Ngay cả lúc linh hồn
muốn rời bỏ trần gian để bay lên cõi siêu nhiên- mà ông gọi là cõi “Thượng thanh khí”
thì người ta vẫn thấy rõ ở đó là một tình yêu đau đớn hướng về cuộc đời trần thế. Đó là
cái cốt lõi trong thơ Hàn Mặc Tử.
2. Sự giằng xé về nỗi đau tinh thần trong thơ Hàn Mặc Tử
Nhắc đến Hàn Mặc Tử đã có nhiều ý kiến bình luận về thơ cùng nỗi niềm của ông.
Nhà phê bình văn học Phan Cự Đệ cho rằng: “…Trong những bài thơ siêu thực của Hàn
Mặc Tử, người ta không phân biệt được hư và thực, sắc và không, thế gian và xuất thế
gian, cái hữu hình và cái vô hình, nội tâm và ngoại giới, chủ thể và khách thể, thế giới

ông. Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” trong tập “thơ điên” của ông có thể cho chúng ta thấy
được cảm xúc và tình yêu trong con người ông mãnh liệt nhưng không kém phần giằng
xé. Đây chính là sản phẩm của nguồn thơ lạ lùng kia – là một lời tỏ tình với cuộc đời của
một tình yêu tuyệt vọng, yêu đơn phương nhưng ẩn bên dưới mỗi hàng chữ tươi sáng là
cả một khối u hoài của tác giả. Bài thơ còn là tình yêu thiên nhiên, yêu con người Vĩ Dạ
một cách nồng cháy – nơi chất chứa biết bao kỉ niệm và luôn sống mãi trong hồi tưởng
của ông. Chính vì thế đọc bài thơ này ta thấy được một phương diện rất đẹp của tâm hồn
nhà thơ.
“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên,
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền
Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay...
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,
Có chở trăng về kịp tối nay?
Mơ khách đường xa, khách đường xa,
Áo em trắng quá nhìn không ra...
6


Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?”
Bài thơ bồng bềnh trong sương khói hư ảo. Con người, cảnh vật dường như có
thật, mà cũng dường như là hư ảo, như có, như không. Cái hay của bài thơ là đã diễn đạt
một cách tinh tế cái mờ ảo của cảnh vật, con người bằng một nỗi nhớ thiết tha. Đọc bài
thơ người ta cảm tưởng có một nỗi lòng như đang nhớ, đang yêu, mà không rõ yêu ai,
nhớ ai cụ thể cả. Cái cảm xúc ấy cũng chìm lẫn vào sương khói khiến cho bài thơ có một
vẻ đẹp kỳ lạ. Những câu thơ đầu của bài thơ được tác giả vẽ lên rất đẹp nhưng thực tại
phiêu tàn bắt đầu bao trùm cả bài thơ khi gần về cuối, cái buồn sẵn có kết hợp với vần

Cầm đi lấy chồng, Bích Khê thấy bạn buồn quá bèn tặng tấm hình của hai chị em cho
Hàn Mặc Tử và giới thiệu đôi chút về Ngọc Sương. Do đó mà Ngọc Sương cũng đã đi
vào thơ Hàn Mặc Tử. Tuy nhiên Ngọc Sương không hề có mối giao lưu nào với Hàn Mặc
Tử dù qua thư từ. Mãi đến khi Bích Khê mất vào năm 1946, Ngọc Sương soạn lại di cảo
của em mới biết rõ một số bài thơ Hàn Mặc Tử viết về mình.
Một người nữa là Thanh Huy, tên thật là Võ Thị Thu Huy, chị vợ nhà văn Trần
Thanh Địch, khi đó đang sinh sống ở Phan Thiết. Cũng như Ngọc Sương, Thanh Huy chỉ
làm quen qua thư chứ chưa gặp mặt Hàn Mặc Tử. Đó là lúc Tử đã phát bệnh nặng. Thanh
Huy cũng đang tập tành làm thơ, được Bích Khê khuyên nên viết thư động viên Hàn Mặc
Tử. Khi Tử đang chán nản buồn phiền, có bức thư bỏ trong phong bì màu xanh của
Thanh Huy gửi đến. Lập tức nhà thơ sáng tác bài “Bức thư xanh”:
"Thanh Huy hỡi nàng chưa là châu báu
Cớ làm sao phước lộc chảy ra thơ
Duyên làm sao cho Trí đến dại khờ
Mắt mờ lệ ở sau hàng chữ gấm
Ta đã nuốt và hình như đã cắn
Cả lời thơ cho vãi máu nàng ra".
Bài thơ viết một cách dữ dội, Thanh Huy đọc và thôi không liên lạc với Hàn Mặc
Tử nữa vì khiếp đảm. Mỹ Thiện cũng là một nàng thơ để lại dấu ấn mạnh trong thơ Hàn
Mặc Tử. Nàng người gốc Huế, ở cạnh nhà Hàn Mặc Tử tại thành phố Quy Nhơn. Nàng
sống với cha và bà mẹ kế xấp xỉ tuổi nàng. Mỹ Thiện rất giỏi âm nhạc dân tộc, nổi tiếng
là một cây đàn tỳ bà tài hoa, đặc biệt có thể chơi đủ năm cây đàn tranh, nhị, nguyệt, bầu,
tỳ bà. Những đêm khuya, nàng thường dạo đàn tranh réo rắt. Hàn Mặc Tử chưa một lần
8


gặp mặt Mỹ Thiện nhưng chàng bị ám ảnh bởi tiếng đàn mơ tưởng đến người ngọc. Mỹ
Thiện không thoát khỏi hồng nhan bạc phận. Sống với người mẹ kế, nàng thường xuyên
chịu đựng những ganh ghét. Và nàng đã kết thúc đời mình bằng những viên thuốc ngủ.
Cái chết của Mỹ Thiện đánh tan mọi ngờ vực của những người ác ý và bà mẹ kế là nàng

Con người cô đơn là một motif quen thuộc của thơ lãng mạn. Xuân Diệu, Nguyễn
Bính cô đơn vì không tìm thấy sự chia sẻ, cảm thông của ngoại giới “Thôn đoài ngồi nhớ
thôn Đông/ Cau thôn đoài nhớ giầu không thôn nào”. Hàn Mặc Tử cô đơn vì bị cách ly
khỏi thế giới:
“Anh nằm ngoài sự thực
Em nằm trong chiêm bao”.
Khoảng cách chia ly trong thơ ông không phải là sự chia cắt trong một không gian
giới hạn như bên ấy, bên này, thôn Đoài, thôn Đông mà là sự chia cắt trong hai không
gian hoàn toàn cách biệt ngoài sự thực, trong chiêm bao, ngoài mây nước, bên kia trời…
Chính vì khoảng cách không gian vô cùng như vậy mà nỗi cô liêu của con người càng trở
nên khủng khiếp “một vũng cô liêu cũ vạn đời”. Những đau thương thể xác và tinh thần
của ông bộ lộ thành tiếng nấc, tiếng khóc, tiếng cười, tiếng rú. Đó là nỗi đau sâu sắc, trần
trụi, mang tầm vóc vũ trụ: “Nghệ hỡi Nghệ, muôn năm sầu thảm/ Nhớ thương còn một
nắm xương thôi” (Muôn năm sầu thảm). Nỗi đau được diễn tả bằng nhịp điệu của sự
cuồng trí vô vọng:
Anh nuốt phứt hàng chữ
Anh cắn vỡ lời thơ
Anh cắn cắn cắn cắn
Hơi thở đứt làm tư.
(Anh điên)
Hoặc bằng nhịp điệu buồn thấm thía:
Rao rao gió thổi phương xa lại
Buồn đâu say ngắm áo xuân ai.
Lay bay lời hát, ơ buồn lạ
E buồn trong mộng có đêm nay.
(Buồn ở đây)
Từ điểm nhìn của con người bi quan các nhà Thơ mới hay nói đến cái chết. Trong
thơ Hàn Mặc Tử còn có những cái chết kì dị, lạ thường Mây chết đuối, trăng tự tử. Phải
10


11


thơ để ông viết nên những bài thơ nhiều cảm xúc dữ dội nhưng đầy tình cảm, xót thương,
tạo dấu ấn riêng cho thơ ca Việt Nam lúc bấy giờ và cho đến mai sau.
3. Sự tê tái về nỗi đau thể xác trong thơ Hàn Mặc Tử

Hàn Mặc Tử là một thi sĩ có số phận kì lạ. Cuộc đời ông có biết bao người con gái,
đến rồi đi, để lại nhiều tang thương vì tình yêu dang dở. Tiếng thơ ông thống thiết nỗi bi
ai về tình yêu trắc trở, người phụ rẫy người. Tuy nhiên, thơ ông không chỉ tồn tại nỗi đau
về tinh thần. Thơ Hàn Mặc Tử trong nhiều bài thơ còn bộc lộ nỗi đau đớn khôn cùng. Từ
những bài thơ sáng tác trong lúc ông mới bắt đầu phát bệnh đến những bài thơ trong phần
cuối của tập “Thơ điên” người đọc dần bị nhấn chìm vào vũng đau thương của chính thi
sĩ, đắm mình trong đó và cảm thương chàng thi sĩ tài hoa bạc mệnh.
Nỗi đau đớn về thể xác của Hàn Mặc Tử đầu tiên xuất phát từ bệnh tật. Bệnh tật dày
vò, thơ ông vang lên tiếng kêu sầu khổ, thê lương. Trạng thái đau đớn nhìn chung có thể
chia ra làm ba cấp bậc. Ban đầu khi bệnh tật hành hạ, đau đớn được cảm nhận một cách
cụ thể, máu thịt. Vượt qua trạng thái đau đớn xác thịt là những mơ tưởng mông lung,
những ảo ảnh chập chờn. Cuối cùng khi nỗi đau đã lên tới cực đỉnh, nhà thơ điên cuồng
trong một thế giới khác xa rời mặt đất.
Ở trạng thái đầu tiên, thơ Hàn Mạc Tử nhuốm màu thê lương. Dường như niềm đau
của cả đời này, của cả thiên hạ này đều dồn hết vào từng câu từng chữ trong thơ Hàn Mặc
Tử. Bệnh tật tuy đã dần tàn phá thể xác, nhà thơ lúc này như còn “tỉnh trí”, ông nhận thức
được tình cảnh của mình, thốt lên những lời ảo não, khổ sầu:
Nghệ hỡi Nghệ muôn năm sầu thảm
Nhớ thương còn một nắm xương thôi
Thân tàn ma dại đi rồi
Rầu rầu nước mắt, bời bời ruột gan
(Muôn năm sầu thảm)
Bệnh tật dày vò ông từng cơn, bắt ông phải đối mặt với đau đớn thể xác:

Máu ám ảnh nhà thơ, sinh ra những tưởng tượng kỳ hoặc:
Lụa trời ai dệt với ai căng
Ai thả chim bay đến Quảng Hàn
Và ai gánh máu đi trên tuyết
Mảnh áo da cừu ngắm nở nang
(Cuối thu)
Từ tưởng tượng kỳ hoặc sinh ra những ước muốn cuồng loạn:
Ta muốn hồn trào ra đầu ngọn bút
Mỗi lời thơ đều dính não cân ta
Bao nét chữ quay cuồng như máu vọt
Như mê man chết điếng cả làn da
Cứ để ta ngất ngư trong vũng huyết
Trải niềm đau trên mảnh giấy mong manh
Đừng nắm lại hồn thơ ta đang xiết
Cả lòng ta trong mớ chữ run rinh
13


Ta đã ngậm hương trăng đầy lỗ miệng
Cho ngây người tê dại đến tâm can
Thét chòm sao hoảng rơi vào đáy giếng
Mà muôn năm rướm máu trong không gian
(Rướm máu)
Hình ảnh thứ hai xuất hiện trong thơ Hàn Mặc Tử là “trăng”. Trăng xuấthiện dưới
nhiều khuôn dạng, đôi khi là một thực thể bình thường, đôi khi đ ẹp như một nàng tiên và
có đôi khi ma mị như yêu tinh. Trăng là hình ảnh tiêu biểu nhất cho những trạng thái đau
đớn của Hàn Mặc Tử, cho những xúc cảm khi nhà thơ đối mặt với bệnh tật. Một loạt
những bài thơ ông sáng tác về trăng như: Ngủ với trăng, say trăng, trăng tự tử, chơi trên
trăng, một miệng trăng… là một loạt điên cuồng và rồ dại. Những xúc cảm bình thường
của những con người bình thường dường như không còn dấu vết trong thơ Hàn Mặc Tử.

man dại, những ám ảnh, ảo tưởng, những lo sợ, sầu muộn của ông đều hiện rõ trong thơ.
Và từ những xúc cảm đó, đau đớn trong thể xác đạt tới một trạng thái mới, cao hơn, càng
khó nắm bắt hơn nữa.
Mới nay cõi siêu hình cao tột bực
Giữa hư vô xây dựng bởi trăng sao
Xa lắm rồi, lâu lắm, hãi dường bao!
Ai tới đó chẳng mê man thần trí
Tòa châu báu kết bằng hương kỳ dị
Của tình yêu rung động lớp hào quang
…..
A ha ha? Say sưa chê chán đã
Ta là ta hay không phải là ta?
Có gì đau, cả thế giới cao xa,
Như cội rễ của trăm nguồn đạo hạnh
Hướp rượu mạnh máu càng hăng sức mạnh
Ôi điên rồi! Khoái lạc đến ngất ngư
Thương là thương lòng mình giận chưa nư
Hồn vội thoát ra khỏi bờ trí tuệ
(Siêu thoát)
Khi con người đau đớn về thể xác quá mức, trong lòng hình thành mong muốn
vượt lên trên nỗi đau thể xác. Hàn Mặc Tử cũng vậy. Nhưng ở nhà thơ, với trí tưởng
tượng, tâm hồn của một người nghệ sĩ, mong muốn vượt qua nỗi đau thể xác trở nên kỳ lạ
vô cùng. Sự kỳ lạ xuất hiện trong từng vần thơ. Suy nghĩ của nhà thơ lúc này không đơn
thuần chỉ là suy nghĩ. Nó trở thành một hoạt động mơ hồ mê man vì nhà thơ đã không
còn ở trong thế giới thực.
Lụt Hồng Thuỷ trời không tái lại,
Khiến bồ cau bay bổng quá không gian.
- Ra không gian là vượt hẳn thượng tầng.
Tấp tới đến ở ngoài kia vũ trụ,
Nơi khí tượng bốc ngùn muôn tinh tú,

có 6 người anh em, Hàn Mặc Tử từ nhỏ đã ốm yếu, ăn mặc giản dị nhưng rất hiếu học.
Cha mất sớm gánh nặng gia đình đặt lên vai mẹ, cũng vì hoàn cảnh khó khăn 1930 nhà
thơ phải thôi học về Quy Nhơn giúp đỡ mẹ và các em, trong thời gian chưa tìm được
việc thì ông ở nhà đọc sách làm thơ. Trong thời gian này ông đã sáng tác và cho phát
hành tập thơ “Gái Quê”, đây là tập thơ được đánh giá cao và thực sự đậm chất “quê” nói
lên hoàn cảnh sống hiện tại của ông :

16


“Mây trắng ngang trời bay vẩn vơ
Đời anh lưu lạc tự bao giờ
Đi đi... đi mãi nơi vô định
Tìm cái phi thường cái ước mơ
Ở chốn xa xôi em có hay
Nắng mưa đã trải biết bao ngày
Nụ cười ý vị như mai mỉa
Mỉa cái nhân tình lúc đổi thay
Trên đời gió bụi, anh lang thang
Bụng đói như cào lạnh khớp răng
Không có nhà ai cho nghỉ bước
Vì anh là kẻ chẳng giàu sang
Ban đêm anh ngủ túp lều tranh
Chỗ tạm dừng chân khách bộ hành
Đến sáng hôm sau anh cất bước
Ra đi với cái mộng chưa thành.”
(Đời phiêu lãng, trích trong tập “Gái quê”, 1936)
Đây là một trong những bài thơ tiêu biểu cho những chật vật lo toan của Hàn Mặc Tử.
Cuộc đời của ông cũng như làn mây kia, bơ vơ lạc lỏng, không có một điểm tựa cố
định, đứng nhìn thời gian trôi, nhìn nhân thế đổi thay, một người luôn muốn cống hiến

Tử
Từ nỗi đau thể xác là căn bệnh nan y hiểm nghèo, đã làm cho ông phải đau khổ quằn
quại vì những vết sưng tấy, sần xùi, sự ghẻ nở trên cơ thể ông. Hẳn nó đã làm cho ông
phải đau đớn biết chừng nào...thế nhưng thực tế thì sao? Ông không hề kêu than một lời
bằng miệng lưỡi, bằng lời nói âm thanh, và người ngoài chẳng thể biết được là ông đang
phải quằn quại đau đớn như thế nào cả. Bởi tất cả những nỗi đau ấy đã được ông chuyển
tải một cách rất mạnh dạn và trong những câu thơ của ông. Đó là:
Ôi ta đã mửa ra từng búng huyết
Khi say sưa lượn sóng với triền miên

18


(Biển hồn ta)
Thịt da tôi sượng sần và tê điếng
Tôi đau vì rùng rợn đến vô biên
(Hồn là ai)
Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy
Sáng dậy điên cuồng mửa máu ra
(Say trăng)
Cho đến nay, đọc bất cứ tiếng thơ nào trong đó ta vẫn thấy gai người:
“Gió rít tầng cao trăng ngã ngửa
Vỡ tan thành vũng đọng vàng khô
Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy
Sáng dậy điên cuồng mửa máu ra”.
“Hồn là ai ? là ai ? Tôi không biết
Hồn theo tôi như muốn cợt tôi chơi
Môi đầy hương tôi không dám ngậm cười
Hồn vội mớm cho tôi bao ánh sáng
Tôi chết giả và no nên vô hạn

Mặc Tử ở đây là gì: ông sinh ra trong một gia đình đông anh em, gia đình không được
khá giả thay vì nói là nghèo khổ, cộng thêm việc cha ông mất sớm, ông không có tiền đã
phải bỏ học để phụ giúp cho gia đình. Tất cả những yếu tố đó ngay từ nhỏ đã gây ra cho
Hàn Mặc Tử một nỗi đau có lẽ là sâu thẳm ở trong lòng đó là nỗi đau của sự nghèo khổ.
Điển hình cho nỗi đau về sự nghèo khổ từ cuộc sống dẫn đến niềm đau về tinh thần cũng
được Hàn Mặc Tử chuyển hóa một cách rõ nét và bài thơ “Đời phiêu lãng” trích trong tập
“Gái quê” là một ví dụ điển hình:
“Mây trắng ngang trời bay vẩn vơ
Đời anh lưu lạc tự bao giờ
...
20


Trên đời gió bụi, anh lang thang
Bụng đói như cào lạnh khớp răng
Không có nhà ai cho nghỉ bước
Vì anh là kẻ chẳng giàu sang
Ban đêm anh ngủ túp lều tranh
Chỗ tạm dừng chân khách bộ hành
Đến sáng hôm sau anh cất bước
Ra đi với cái mộng chưa thành.”
Có lẽ ai cũng nghĩ rằng thơ Hàn Mặc Tử là sự cào xé, giày vò bởi những nỗi đau
về thễ xác mà ông đã phải chịu đựng. Nhưng thự tế thơ ông như là một trường ca mà ở đó
hội tụ đầy đủ những yếu tố nội dung xuất phát từ tầm hồn. Thơ là tiếng nói của tầm hồn,
của con tim. Mỗi câu thơ là một nỗi niềm, một lời nói được đúc kết sâu thẳm nơi trái tim.
Tất cả những điều đó đều hội tụ trong thơ ông. Hàn Mặc Tử là một con người đa sầu, đa
cảm, phong lưu, lãng tử chính vì thế mà trong đời ông đã trải qua không ít những mối
tình mà thường là “dang dở”. Thậm chí có những mối tình còn đang trong thai ngén, mối
tình từ những dòng thư dù chưa một lần gặp mặt. Nói như thế để thấy rằng ông là một
con người luôn muốn yêu, khao khát yêu, thậm chí là cuồng yêu. Và chính vì thế ông đã

đẹp xung quanh. Cái đẹp ở đây có thể là hình thể đẹp, nhân cách đẹp, hay là tiếng đàn
hay, ý thơ đẹp. Theo tài liệu cho thấy xuất phát từ những bức tranh thôn Vĩ mà Hoàng
Cúc gửi cho Hàn. Đây chính là bàn đạp để ông cho ra đời một “đây thôn Vĩ dạ” mà đến
nay nhắc đến Hàn là người ta phải nghĩ ngay tới thôn Vĩ ấy. Rồi nào cũng xuất phát từ
một lá thư của Thanh Huy được bọc trong một chiếc phong bì màu xanh mà “Bức thư
xanh” đã được ra đời:
"Thanh Huy hỡi nàng chưa là châu báu
Cớ làm sao phước lộc chảy ra thơ
Duyên làm sao cho Trí đến dại khờ
Mắt mờ lệ ở sau hàng chữ gấm
Ta đã nuốt và hình như đã cắn
Cả lời thơ cho vãi máu nàng ra".
Hay khi một người một người con gái vẹn toàn về nhạc cụ dân tộc như Mỹ Thiện,
một cô gái ở cạnh nhà Hàn mà ông mới chỉ được gặp qua tiếng đàn chứ chưa hề gặp mặt.
Ông cũng có những xúc cảm đặc biệt và vì thế ngay sau cái chết của cô mà “Cô gái đồng
trinh” ra đời tức khắc:
22


"Đêm qua trăng vướng trên cành trúc
Cô láng giềng bên chết thiệt rồi
Trinh tiết vẫn còn nguyên vẹn mới
Chưa hề âu yếm ở đầu môi
Xác cô thơm quá thơm hơn ngọc
Cả một mùa xuân đã hiện hình".
Để tưởng nhớ và khắc ghi cho một người con gái còn nguyên trinh tiết. Tồn tại ở
ông là “một hồn thơ mãnh liệt nhưng luôn quằn quại, đau đớn, dường như có một cuộc
vật lộn và giằng xé dữ dội giữa linh hồn và xác thịt”. Ông đã tạo ra cho thơ mình một thế
giới nghệ thuật điên loạn, ma quái và xa lạ với cuộc đời thực. Thông qua những sự
chuyển hóa như thế ta có thể thấy được một nguồn thơ vô tận những ý tưởng, những cái

6. Tôn Thảo Miên tuyển chọn, Hàn Mặc Tử: Tác phẩm và lời bình, NXB Văn Học,
2007.
7. Trang web: http://phiem-dam.com/vanhoc_hanmactu.htm

24




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status