Khai quat ve VHDG - Pdf 37

KẾ HOẠCH GIẢNG BÀI
Phần một: Ý ĐỊNH GIẢNG BÀI
I. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU
1. Mục đích
- Giúp học viên nắm khái niệm, đặc trưng, đặc điểm về ngôn ngữ và phương
pháp nghệ thuật.
-Vị trí của VHDG trong đời sống văn học và lịch sử của dân tộc, thể loại
chính. Qua đó rèn luyện cho HV kĩ năng nắm bắt, phân tích những vấn đề khái
quát của một mảng văn học để từ đó đi vào phân tích được từng vấn đề, tác
phẩm cụ thể.
2.Yêu cầu
- Nắm được giá trị quý báu cả về mặt xã hội lẫn văn học cũng như văn hoá của
nền văn học dân gian dân tộc.
- Rèn luyện kỹ năng tìm hiểu tác phẩm văn học văn học dân gian
II. NỘI DUNG
- Khái niệm, lịch sử hình thành và phát triển
- Một số đặc trưng của văn học dân gian
- Những thể loại chính của VHDG
(Trọng tâm là phần là phần thứ hai)
III. THỜI GIAN: 3 tiết
IV. TỔ CHỨC, PHƯƠNG PHÁP
1. Tổ chức
Biên chế theo lớp học.
2. Phương pháp
Thuyeát minh, neâu vaán ñeà, phát vấn, diễn giảng, thuyết trình.
V. ĐỊA ĐIỂM
Giảng đường:……………..
VI. VẬT CHẤT BẢO ĐẢM
Bảo đảm sách giáo khoa Văn học 10, tài liệu cho giáo viên và học viên
Phần hai: THỰC HÀNH GIẢNG BÀI
I. THỦ TỤC LÊN LỚP

SGK, ghi bài.
Trả lời các câu
hỏi, tìm hiểu nội
dung trong SGK,
ghi bài.
Bảng,
Phấn,
sách
giáo
khoa,
tài
liệu.
III. KẾT THÚC GIẢNG BÀI
Hệ thống nội dung bài giảng.
Nhận xét điểm mạnh yếu và hướng dẫn học viên tự học ở nhà.
2
MỞ ĐẦU
“ Văn học là nhân học” (M.Gorki), văn học luôn là tấm gương sáng phản
chiếu cuộc đời và con người một cách sâu sắc và toàn diện. Ngay từ thuở hồng
hoang, con người đã biết và tìm đến văn học như một nhu cầu tinh thần không
thể thiếu của cuộc sống. Và lẽ dĩ nhiên, những ngày đầu ấy chưa có chữ viết,
song văn học không vì thế mà không tồn tại. Một nền văn học, đúng hơn là một
kho tàng văn học đã hình thành, phát triển và được để lại cho con cháu muôn đời
sau như một thứ di sản phi vật thể quý giá, đó chính là kho tàng VHDG.
NỘI DUNG
1. Khái niệm, lịch sử hình thành và phát triển (VHDG là gì? Có lịch sử hình
thành và phát triển như thế nào?)
1.1 Khái niệm:
Là những sáng tác văn học do nhân dân sáng tác và lưu truyền trong dân gian.
1.2 Lịch sử hình thành và phát triển:

- Do tính tập thể và tính truyền miệng của VHDG, trong quá trình lưu truyền
qua những người khác nhau, địa phương khác nhau, thời gian khác nhau, những
sáng VHDG có sự thay đổi ít nhiều so với nguyên bản.
(Nguyên nhân: về chủ quan, người lưu truyền tự ý thay đổi, gọt dũa tác phẩm,
về khách quan trí nhớ không thể nhớ trọn vẹn quá nhiều tác phẩm, nhất là những
tác phẩm dài, tác phẩm bằng văn xuôi).
Những sự thay đổi như vậy gọi là tính dị bản của VHDG (Dị bản: những bản
khác nhau của cùng một tác phẩm VHDG)
=> Quá trình sáng tác và lưu truyền đặc trưng, độc đáo trên của VHDG đã tạo
nên 2 đặc điểm tiêu biểu:
+ VHDG là tiếng nói chung của cả cộng đồng, không phải là tiếng nói riêng
của một tác giả như trong văn học viết. Những gì có tính chất riêng biệt đối với
cuộc đời tư tưởng, tình cảm của cá nhân đều bị xoá mờ, loại bỏ. Đọng lại trong
tác phẩm VHDG là tất cả những gì chung cho cả cộng đồng.
+ VHDG có nhiều cốt truyện, nhân vật, tình tiết, hình ảnh được lặp lại ở nhiều
tác phẩm khác nhau. Sự lặp đi lặp lại này được gọi là truyền thống của VHDG.
* Lưu ý: Từ 2 đặc điểm tiêu biểu trên mà VHDG có một hiện tượng khá lí
thú là: Trong VHDG của các dân tộc khác nhau lại có nhiều tác phẩm giống
nhau (đặc biệt là thuộc các thể loại thần thoại, cổ tích,…). Chúng giống nhau về
cốt truyện, tình tiết, nhân vật,…
Vd: Tấm Cám (Việt) – Cô bé lọ lem (châu Âu)
Lấy vợ cóc (Việt) – Nàng công chúa ếch (Nga)
Qua đó chúng tạo thành các kiểu truyện: cô tro bếp, quả bầu mẹ,…
Sự giống nhau có thể giải thích do: Về chủ quan, các dân tộc vay mượn của
nhau. Về khách quan, do các dân tộc có những điều kiện lịch sử xã hội giống
nhau dẫn đến suy nghĩ, quan niệm về cuộc sống giống nhau mà có những sáng
tác giống nhau. Những cái chung của các dân tộc trong VHDG đã phần nào thể
hiện chất nhân bản của loài người.
2.2 Ngôn ngữ và phương pháp nghệ thuật phản ánh (Xuất phát từ đặc trưng của
VHDG hãy cho biết đặc điểm về ngơn ngữ và phương pháp nghệ thuật của

Trồng đậu trồng hành lại thả lợn vô (Cái bánh chưng)
3.2 Thể loại tự sự dân gian
- Thần thoại: Là những truyện kể hoang đường về các vị thần, các nhân vật
anh hùng, các nhân vật sáng tạo văn hoá, phản ánh nhận thức và sự hình dung
của người thời cổ về nguồn gốc của thế giới và của đời sống con người.
Vd: Thần trụ trời, thần mưa, thần lúa, ….
- Sử thi dân gian: Là những sáng tác tự sự dài bằng văn vần hoặc văn xuôi kết
hợp văn vần kể lại những sự kiện quan trọng đối với toàn thể cộng đồng.
Có 2 loại:
+ Sử thi thần thoại: kể về nguồn gốc và sự hình thành vũ trụ, con người và xã hội.
Vd: “Đẻ đất đẻ nước” của dân tộc Mường
+ Sử thi anh hùng (anh hùng ca): kể về sự nghiệp và chiến công của người
anh hùng đối với toàn thể cộng đồng.
Vd: “Đam San” của dân tộc Ê đê.
- Truyền thuyết: Là những truyện kể dân gian về các sự kiện và nhân vật lịch
sử hoặc tôn giáo đã được trí tưởng tượng dân gian tô vẽ thêm bằng các yếu tố
không có thực.
Có 2 loại:
+ Truyền thuyết lịch sử: thuyết về Bà Trưng, Bà Triệu,…
+ Truyền thuyết tôn giáo: thuyết về Phật giáo, Đạo giáo,…
- Truyện cổ tích: Là những truyện dân gian có nội dung kể lại những câu
chuyện tưởng tượng về một số nhân vật như dũng sĩ, nhân vật bất hạnh, nhân vật
chàng ngốc,…
Có 3 loại:
+ Cổ tích về loài vật: có nội dung việc giải thích các đặc điểm của chim
muông hoặc kể về mối quan hệ giữa các con vật, qua đó đúc kết thành một số
kinh nghiệm sống, nhất là kinh nghiệm về thế giới loài vật.
Vd: Vì sao quạ lông đen, Vì sao gà trống có mào, Con thỏ tinh ranh,…
5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status