Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP Chương 04 hàng dệt may - Pdf 37

CHƯƠNG 4
HÀNG DỆT MAY
Điều 4.1: Giải thích từ ngữ
Trong phạm vi Chương này:
mặt hàng dệt may là một mặt hàng được liệt kê trong Phụ lục A (Sản phẩm dệt
may - Quy tắc xuất xứ cụ thể).
vi phạm pháp luật về hải quan là một hành vi được thực hiện với mục đích né tránh
pháp luật hoặc các quy định của một Bên liên quan đến các điều khoản của Hiệp định
về việc xuất khẩu hoặc nhập khẩu hàng dệt may giữa các Bên, đặc biệt là những hành vi
vi phạm pháp luật về hải quan hoặc quy định về hạn chế hoặc cấm nhập khẩu hoặc xuất
khẩu, trốn thuế, gian lận chứng từ liên quan đến việc nhập khẩu hoặc xuất khẩu hàng
hóa, gian lận hoặc buôn lậu.
giai đoạn chuyển tiếp là giai đoạn bắt đầu khi Hiệp định có hiệu lực giữa các Bên liên
quan cho đến 05 năm sau ngày Bên nhập khẩu xóa bỏ thuế quan trên hàng hóa cho
Bên xuất khẩu theo Hiệp định này.
Điều 4.2: Quy tắc xuất xứ và vấn đề liên quan
Áp dụng Chương 4
1.
Trừ trường Chương này có quy định khác, bao gồm các Phụ lục kèm theo,
Chương 3 (Quy tắc xuất xứ và thủ tục xuất xứ) áp dụng đối với hàng dệt may.
Hàm lượng không đáng kể
2.
Nếu một mặt hàng dệt may trong Phụ lục A (Sản phẩm dệt may – Quy tắc xuất
xứ cụ thể) được phân loại bên ngoài các Chương từ 61 đến 63 không phải hàng hóa có
xuất xứ vì các nguyên liệu được sử dụng để sản xuất hàng hóa này không có thay đổi
về phân loại thuế quan nêu tại Phụ lục A (Sản phẩm dệt may – Quy tắc xuất xứ cụ thể)
thì mặt hàng dệt may đó vẫn được coi là có xuất xứ nếu tổng khối lượng của tất cả các
nguyên liệu đó không vượt quá 10% của tổng khối lượng hàng hóa.
3.
Nếu một mặt hàng dệt may thuộc các Chương từ 61 đến 63 không phải hàng
hóa có xuất xứ vì các loại sợi được sử dụng để sản xuất các thành phần của hàng hóa

7.
Mỗi Bên quy định rằng, khi xác định một mặt hàng có xuất xứ hay không theo
Chương 3, Điều 2(c), một loại nguyên liệu được liệt kê trong Danh sách nguồn cung
thiếu hụt đính kèm Phụ lục A (Sản phẩm dệt may – Quy tắc xuất xứ cụ thể) được xem là
có xuất xứ nếu nguyên liệu thỏa mãn các yêu cầu, kể cả các yêu cầu về người dùng
cuối, quy định trong Danh sách nguồn cung thiếu hụt đính kèm Phụ lục A (Sản phẩm
dệt may – Quy tắc xuất xứ cụ thể).
8.
Khi một mặt hàng được tuyên bố là có xuất xứ dựa trên việc sử dụng một
nguyên liệu quy định tại Danh sách nguồn cung thiếu hụt đính kèm Phụ lục A (Sản
phẩm dệt may – Quy tắc xuất xứ cụ thể), Bên nhập khẩu có quyền yêu cầu cung cấp
mã số hoặc mô tả về nguyên liệu trong hồ sơ nhập khẩu (như giấy chứng nhận xuất
xứ) theo quy định tại Danh sách nguồn cung thiếu hụt đính kèm Phụ lục A (Sản phẩm
dệt may – Quy tắc xuất xứ cụ thể).
9.
Các nguyên liệu không có xuất xứ được đánh dấu là “tạm thời” trong Danh sách
nguồn cung thiếu hụt đính kèm Phụ lục A (Sản phẩm dệt may – Quy tắc xuất xứ cụ
thể) có thể được xem là có xuất xứ theo khoản 7 trong vòng 5 năm kể từ ngày Hiệp
định này có hiệu lực.
Quy định về một số mặt hàng thủ công hoặc truyền thống
10.
Một Bên nhập khẩu có quyền xác định hàng dệt may của một Bên xuất khẩu là
đủ điều kiện miễn thuế hoặc hưởng ưu đãi thuế quan theo thỏa thuận song phương
của hai Bên trong các trường hợp sau:
(a) các loại vải dệt tay thuộc một ngành tiểu thủ công nghiệp;
(b) Các loại vải in bằng tay có hoa văn được tạo ra bằng kỹ thuật wax-resistance;


(c) các loại hàng hóa tiểu thủ công nghiệp làm từ các loại vải dệt tay hoặc in bằng tay;
hoặc

một mình hay đi kèm với các yếu tố khác, nhất thiết phải có tính quyết định;
(b) không được xem các thay đổi về công nghệ hoặc xu hướng tiêu dùng trong Bên
nhập khẩu như những yếu tố hỗ trợ cho việc xác định thiệt hại nghiêm trọng hoặc nguy
cơ gây thiệt hại nghiêm trọng.
4.
Bên nhập khẩu chỉ được thực hiện hành động khẩn cấp theo Điều này sau khi
công bố thủ tục trong đó nêu rõ các tiêu chí xác định thiệt hại nghiêm trọng và sau khi
cơ quan có thẩm quyền của mình điều tra. Một cuộc điều tra phải sử dụng dữ liệu dựa
trên các yếu tố miêu tả trong điểm 3(a) chứng minh thiệt hại nghiêm trọng hoặc nguy
cơ gây thiệt hại do tăng số lượng nhập khẩu của sản phẩm liên quan từ việc thực hiện
Hiệp định này.


5.
Bên nhập khẩu phải nộp ngay cho (các) Bên xuất khẩu thông báo bằng văn bản
về việc tiến hành điều tra quy định tại khoản 4, cũng như về ý định của mình về thực
hiện hành động khẩn cấp và tham vấn với (các) Bên xuất khẩu về vấn đề này theo yêu
cầu. Bên nhập khẩu phải cung cấp cho Bên xuất khẩu chi tiết hành động khẩn cấp dự
định thực hiện. Các Bên liên quan sẽ bắt đầu tham vấn ngay và, trừ trường hợp có
quyết định khác, phải hoàn thành các cuộc tham vấn trong vòng 60 ngày kể từ ngày
nhận được yêu cầu. Sau khi các cuộc tham vấn hoàn thành, Bên nhập khẩu phải thông
báo cho Bên xuất khẩu các quyết định. Nếu quyết định áp dụng một biện pháp tự vệ,
thông báo phải bao gồm các chi tiết về biện pháp đó và thời điểm biện pháp đó có
hiệu lực.
6.
Các điều kiện và giới hạn sau đây được áp dụng đối với các hành động khẩn
cấp được thực hiện theo Điều này:
(a) hành động khẩn cấp không được kéo dài quá hai năm và có thể gia hạn thêm tối đa
là hai năm;
(b) hành động khẩn cấp áp dụng đối với một mặt hàng không được thực hiện ngoài giai


Các cuộc điều tra quy định tại Điều này được thực hiện theo thủ tục do mỗi Bên


ban hành. Khi Hiệp định này có hiệu lực hoặc trước khi tiến hành một cuộc điều tra,
mỗi Bên phải thông báo cho các Bên khác về các thủ tục này.
10.
Mỗi Bên phải cung cấp báo cáo về các hành động đối với các Bên khác vào năm
thực hiện hoặc duy trì hành động khẩn cấp.
Điều 4.4: Hợp tác
1.
Mỗi Bên, theo luật pháp và quy định của mình, phải phối hợp với các Bên khác
trong việc thực thi hoặc hỗ trợ trong việc thực thi các biện pháp tương ứng liên quan
đến vi phạm pháp luật về hải quan đối với thương mại hàng dệt may của giữa các bên,
bao gồm đảm bảo tính chính xác của các yêu cầu hưởng ưu đãi thuế quan theo Hiệp
định này.
2.
Mỗi Bên phải có biện pháp thích hợp, có thể bao gồm biện pháp lập pháp,
hành chính, tư pháp, hoặc hành động khác phục vụ cho:
(a) việc thi hành pháp luật, quy định và thủ tục liên quan đến vi phạm pháp luật về hải
quan, và
(b) hợp tác với Bên nhập khẩu trong việc thi hành quy định pháp luật và thủ tục của
mình liên quan đến công tác phòng chống vi phạm pháp luật về hải quan.
3.
Trong phạm vi khoản 2, "các biện pháp thích hợp" là các biện pháp do một
Bên thực hiện theo pháp luật, quy định và thủ tục của mình, chẳng hạn như:
(a) cung cấp thẩm quyền pháp lý cho các cán bộ chính phủ để đáp ứng các nghĩa vụ
theo Chương này;
(b) tạo điều kiện cho các cán bộ thực thi pháp luật của mình xác định và xử lý vi phạm
pháp luật về hải quan;

đến việc thi hành pháp luật hoặc quy định liên quan đến yêu cầu.
7.
Một Bên có thể cung cấp thông tin được yêu cầu trong Điều này bằng văn bản
hoặc dưới dạng điện tử.
8.
Mỗi Bên phải thiết lập hoặc duy trì các đầu mối liên lạc phục vụ hợp tác theo
Chương này. Mỗi Bên phải thông báo cho các Bên khác về các đầu mối liên lạc của
mình khi Hiệp định này có hiệu lực và phải thông báo kịp thời cho Bên kia những thay
đổi tiếp theo.
Điều 4.5: Giám sát
1.
Mỗi Bên phải thiết lập hoặc duy trì các chương trình hay các hoạt động để xác
định và xử lý vi phạm pháp luật về hải quan liên quan đến hàng dệt may, có thể bao
gồm các hoạt động để đảm bảo tính chính xác của các yêu cầu hưởng ưu đãi thuế
quan đối với hàng dệt và may mặc theo Hiệp định này.
2.
Thông qua các chương trình hoặc hoạt động này, các Bên có thể thu thập hoặc
chia sẻ thông tin liên quan đến hàng dệt may phục vụ quản lý rủi ro.
3.

Ngoài các khoản 1 và 2, một số Bên có thể có thêm thỏa thuận song phương.

Điều 4.6: Xác minh
1.
Bên nhập khẩu có thể tiến hành xác minh đối với một mặt hàng dệt may theo
Điều 3.27.1(a), 3.27.1(b), hoặc 3.27.1(e) (Xác minh) và các thủ tục liên quan của mình để
xác minh một mặt hàng có thỏa điều kiện hưởng ưu đãi thuế quan hay không, hoặc
yêu cầu kiểm tra thực tế theo quy định tại Điều này3.
2.
Bên nhập khẩu có quyền gửi yêu cầu kiểm tra thực tế cho một nhà xuất khẩu

nhà sản xuất dự kiến kiểm tra thực tế càng sớm càng tốt và trước ngày kiểm tra đầu
tiên tại trụ sở của nhà xuất khẩu hoặc nhà sản xuất theo Điều này.
7.

Khi Bên nhập khẩu cần thực hiện kiểm tra thực tế theo khoản 2:

(a) Công chức của Bên chủ nhà có thể đi cùng Bên nhập khẩu trong cuộc kiểm tra.
(b) Công chức của Bên chủ nhà có thể, theo luật pháp và quy định của mình, theo yêu
cầu của Bên nhập khẩu hoặc chủ động hỗ trợ Bên nhập khẩu trong cuộc kiểm tra thực
tế và cung cấp các thông tin liên quan để tiến hành cuộc kiểm tra thực tế trong phạm
vi có thể.
(c) Bên nhập khẩu và Bên chủ nhà phải hạn chế liên lạc về cuộc kiểm tra thực tế trong
phạm vi công chức nhà nước có liên quan, và không được báo cho nhà xuất khẩu hoặc
nhà sản xuất bên ngoài chính phủ của Bên chủ nhà trước cuộc kiểm tra hoặc cung cấp
bất kỳ thông tin xác minh hoặc thực thi chưa được công bố khác vì nếu công bố sẽ làm
giảm hiệu quả của cuộc kiểm tra.
(d) Bên nhập khẩu phải đề nghị nhà xuất khẩu, hoặc nhà sản xuất 4 cho phép tiếp cận
các hồ sơ hoặc cơ sở liên quan không muộn hơn thời gian của cuộc kiểm tra. Trừ trường
hợp có thông báo trước sẽ làm giảm hiệu quả của việc kiểm tra, Bên nhập khẩu phải gửi
thông báo trước để xin phép.
(2) Trường hợp nhà xuất khẩu hoặc nhà sản xuất hàng dệt may không cho phép thì


không tiến hành kiểm tra thực tế. Bên nhập khẩu phải xem xét một ngày khác và khả
năng của nhân viên hoặc cơ sở của nhà sản xuất hoặc nhà xuất khẩu.
8.

Khi hoàn thành kiểm tra thực tế theo khoản 2, Bên nhập khẩu phải:

(a) thông báo những kết luận ban đầu cho Bên chủ nhà theo yêu cầu.

tuyên bố của nhà xuất khẩu hoặc nhà sản xuất rằng hàng hóa nhập khẩu vào lãnh thổ
của Bên đó thỏa mãn các điều kiện ưu đãi thuế quan có xu hướng sai sự thật hoặc
không có cơ sở, Bên đó có quyền không áp dụng ưu đãi thuế quan đối với hàng dệt
may do đối tượng đó nhập khẩu, xuất khẩu, hoặc sản xuất cho đến khi đối tượng đó
chứng minh được cho Bên nhập khẩu rằng hàng hóa giống hệt thỏa các điều kiện
hưởng ưu đãi thuế quan. Trong phạm vi khoản này, hàng hoá giống hệt là những
hàng hoá giống nhau về mọi mặt theo một quy tắc xuất xứ cụ thể nhằm xác định hàng
hoá thỏa điều kiện có xuất xứ.
Điều 4.7: Ra quyết định
Bên nhập khẩu có quyền từ chối một yêu cầu hưởng ưu đãi thuế quan cho một mặt
hàng dệt may:


(a) vì lý do nêu tại Điều 3.28.2 (Quyết định về yêu cầu hưởng ưu đãi thuế quan);
(b) nếu, theo kết quả xác minh quy định tại Chương này, Bên đó không nhận được đầy
đủ thông tin để xác định hàng hóa có đủ điều kiện có xuất xứ hay không; hoặc
(c) nếu, theo kết quả xác minh quy định tại Chương này, việc truy cập hoặc cho phép
truy cập bị từ chối, Bên nhập khẩu không thể hoàn thành cuộc kiểm tra thực tế vào
ngày đề xuất và nhà xuất khẩu hoặc nhà sản xuất không thống nhất được với Bên nhập
khẩu về một ngày kiểm tra khác, hoặc nhà xuất khẩu hoặc nhà sản xuất không cho phép
truy cập hồ sơ hoặc cơ sở liên quan trong quá trình kiểm tra thực tế.
Điều 4.8: Ủy ban về Hàng dệt may
1.
Các Bên nhất trí thành lập một Ủy ban về Hàng dệt may (sau đây gọi là Ủy ban)
gồm đại diện của từng Bên.
2.
Ủy ban về Hàng dệt may sẽ họp ít nhất một lần trong năm có hiệu lực của Hiệp
định này và các lần họp sau do các Bên quyết định theo yêu cầu của Ủy ban TPP. Ủy
ban sẽ họp tại các địa điểm và thời điểm do các Bên quyết định. Các cuộc họp có thể
trực tiếp hoặc thông qua các phương tiện do các Bên quyết định.

mục đích quy định trong yêu cầu của Bên nhận thông tin, và sẽ không được tiết lộ mà
không có sự cho phép Bên cung cấp thông tin hoặc người đã cung cấp thông tin cho
Bên đó.
4.
Một Bên có quyền từ chối cung cấp thông tin theo yêu cầu của một Bên khác
nếu Bên đó không tuân thủ các khoản từ 1 đến 3.
5.
Mỗi Bên phải áp dụng hoặc duy trì các thủ tục để ngăn chặn việc tiết lộ trái
phép thông tin bí mật được cung cấp theo pháp luật về hải quan và quy định pháp luật
khác của mình, hoặc được thu thập theo quy định tại Chương này, bao gồm cả thông
tin mà việc tiết lộ có thể gây phương hại vị thế cạnh tranh của người cung cấp thông
tin.

________________________________________________
1 Để giải thích rõ hơn, khoản 4 không đòi hỏi một nguyên liệu thuộc Danh sách nguồn cung thiếu hụt
phải được sản xuất từ sợi đàn hồi có xuất xứ thuần túy trong lãnh thổ của một hoặc nhiều Bên.
2

Trong phạm vi khoản 4, xuất xứ thuần túy nghĩa là tất cả các quá trình sản xuất và hoàn thiện, từ đùn

sợi, dải, phim, hoặc tấm, và bao gồm bản vẽ để định hướng hoàn toàn sợi, hoặc rạch phim hoặc tấm
thành dải, hoặc quá trình quay sợi, cho đến khi ra sợi hoàn thiện hoặc sợi đã bện.

3

Trong phạm vi Điều này, các thông tin thu thập được theo Điều này phải được sử dụng cho mục đích

đảm bảo thực hiện hiệu quả Chương này. Một Bên không được áp dụng các thủ tục này để thu thập
thông tin cho các mục đích khác.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status