Các biện pháp ngăn ngừa, giảm thiểu khủng hoảng của hệ thống tài chính - Pdf 37

TÀI CHÍNH-TIỀN TỆ
- 1 -
Lời mở đầu.

Tài chính là một lĩnh vực vô cùng quan trọng trong nền kinh tế quốc dân
của một quốc gia. Trình độ phát triển của một quốc gia được biểu hiện rất
nhiều thông qua nền tài chính của quốc gia đó.
Tài chính là thuốc bôi trơn giúp nền kinh tế đạt được sự hiệu quả, giảm
được rất nhiều chi phí. Chính vì tầm quan trọng này mà luôn có sự quan tâm,
điều hành đặc biệt từ các cơ quan chính phủ, nhằm đảm bảo ổn định, lành
mạnh nền tài chính.Với chính sách tài chính của mình chính phủ có thể điều
tiết các chính sách kinh tế vĩ mô của mình. Thế nhưng, việc điều hành đó
của chính phủ cũng không làm cho nền tài chính của quốc gia mình thoát
khỏi quy luật chung của sự phát triển. Mà một trong những giai đoạn khó
khăn nhất của một nền tài chính đó là thời kì khủng hoảng.Do vậy, bài tiểu
luận này sẽ giúp người đọc hiểu được một số vấn đề có liên quan đến khủng
hoảng tài chính.
Bài tiểu luận này được bố cục theo 3 phần:
Phần I:Những hiểu biết chung về khủng hoảng tài chính.
1. Khủng hoảng tài chính là gì?
2. Nguyên nhân khủng hoảng tài chính.
Phần II: Tìm hiểu về cuộc khủng hoảng tài chính ở Đông Á năm 1997 . Bài
học được rút ra sau cuộc khủng hoảng.
Phần III: Các biện pháp ngăn ngừa, giảm thiểu khủng hoảng của hệ thống
tài chính.
Bài tiểu luận này không mong mang lại cho người đọc những hiểu biết sâu
sắc, cặn kẽ về vấn đề khủng hoảng tài chính, mà chỉ mong mang lại cho
người đọc một cái nhìn khái quát chung nhất về vấn đề này. Mong độc giả
thông cảm.
Xin chân thành cảm ơn!
TÀI CHÍNH-TIỀN TỆ

như ngân hàng thương mại, quỹ bảo hiểm, quỹ tín dụng… (gián tiếp). Nhờ
2 kênh này mà vốn được lưu chuyển thuận lợi, giảm được rất nhiều chi phí
giao dịch giữa hai bên cung và cầu vốn.
Vấn đề khủng hoảng tài chính chúng ta nói ở đây là khủng hoảng trong hệ
thống tài chính và khủng hoảng taì chính. Có nghĩa là khủng hoảng ở đây
xảy ra trong các mối quan hệ tài chính và các kênh dẫn vốn trong nền kinh
tế. Chúng có liên hệ mật thiết với nhau, khủng hoảng tài chính dẫn đến các
kênh dẫn vốn trở nên kém hiệu quả. Khủng hoảng tài chính là sự rối loạn
trong dòng luân chuyển vốn làm cho cả hệ thống tài chính không phát huy
được chức năng dẫn vốn của nó. Khủng hoảng tài chính nảy sinh từ mối
quan hệ tài chính, các mối quan hệ này đạt tới mức thấp có nghĩa là bên
TÀI CHÍNH-TIỀN TỆ
- 3 -
cung vốn không muốn tài sản tài chính mà mình có cho bên cầu vốn nữa. Và
điều này tác động lên các kênh dẫn vốn, làm cho nó bị tê liệt không phát huy
được tác dụng và do đó sẽ làm sụp đổ hoặc suy yếu các tổ chức, định chế tài
chính. Các tổ chức định chế tài chính này không bao giờ biệt lập với nhau
mà chúng có quan hệ mật thiết và do đó khủng hoảng tài chính thường làm
sụp đổ hàng loạt tổ chức, định chế này, gây thiệt hại to lớn. Khủng hoảng tài
chính là vấn đề có liên quan đến một phạm trù, đó là chu kì kinh doanh. Quy
luật chung của con đường phát triển được miêu tả như đồ thị hình sin. Đó là
bất kì một lĩnh vực nào cũng có thời kì phát triển rực rỡ, huy hoàng, có lúc
ổn định và có thời gian thoái trào. Nghiên cứu kinh tế Mỹ đã chỉ ra rằng tiền
tệ -tài chính đóng góp một vai trò quan trọng trong việc tạo ra chu kì kinh
doanh. Mỗi cơn suy thoái trong thế kỉ XX đã đứng liền sau một sự suy giảm
tỉ lệ tăng trưởng tiền tệ. Ngược lại nếu nền kinh tế lâm vào suy thoái cũng là
nguyên nhân không nhỏ dẫn đến các cuộc khủng hoảng tài chính.(vấn đề này
sẽ được bàn đến ở phần nguyên nhân của khủng hoảng tài chính). Điều này
được giải thích bởi quan hệ tài chính có mối liên hệ hữu cơ, mật thiết với
nền sản xuất hàng hoá và quan hệ hàng hoá tiền tệ.

xuống một cách thảm hại.
Chẳng những thế tình trạng làm ăn thua lỗ, phá sản của các công ty, tập
đoàn sản xuất cũng kéo theo những khoản đền bù khổng lồ từ các công ty
bảo hiểm làm cho các công ti này cũng bị sụp đổ theo. Thông thường các
công ty, tập đoàn sản xuất là những khách hàng lớn và chủ yếu của các công
ty bảo hiểm. nếu bây giờ, chúng bị sụp đổ thì tiền đền bù sẽ rất lớn và các
công ty bảo hiểm sẽ không đủ khả năng chi trả, có nghĩa là phải tuyên bố
phá sản
Suy thoái kinh tế là vấn đề mang tính chu kì do đó khủng hoảng tài chính
bắt nguồn từ suy thoái kinh tế cũng mang tính chu kì. Nền kinh tế suy thoái
chứng kiến sự thua lỗ, phá sản của hàng loạt không những của hãng sản xuất
mà còn cả sự sụp đổ trong lĩnh vực tài chính. Suy cho cùng tài chính cũng là
một bộ phận của kinh tế.
Nguyên nhân bên trong:
Trên thị trường tài chính: khủng hoảng tài chính có thể do nguyên nhân từ
chính hoạt động bên trong của chính nền tài chính ấy. Trong nền tài chính
của bất kì một quốc gia nào dù phát triển đến đâu cũng phải đối mặt với
những vấn đề như: thông tin không cân xứng, chọn lựa đối nghịch, rủi ro
đạo đức…
Thông tin không cân xứng là hiện tượng những giao dịch diễn ra trên thị
trường tài chính một bên thường không biết tất cả những gì mà họ cần biết
để có những quyết định đúng đắn. Thường thì bên cung vốn ít khi có đầy đủ
thông tin cần thiết về bên cầu vốn khi thực hiện giao dịch.
Chọn lựa đối nghịch là vấn đề do thông tin không cân xứng tạo ra trước khi
diễn ra cuộc giao dịch. Chọn lựa đối nghịch xảy ra trên thị trường tài chính
khi những người đi vay có nhiều khả năng tạo ra một kết cục không mong
muốn(đối nghịch) -tức là rủi ro không trả được nợ-là những người tích cực
tìm vay tiền nhất và do vậy có nhiều khả năng được lựa chọn nhất. Do việc
chọn lựa đối nghịch khiến dễ có thể là các món cho vay được thực hiện cho
những trường hợp rủi ro không trả được nợ, những người cho vay có thể

Trong hoạt động của các trung gian tài chính thì nguyên nhân lớn nhất đuợc
cho là dẫn đến khủng hoảng tài chính do sự đổi mới tài chính, với sự xuất
hiện của các quỹ bảo hiểm tiền gửi. trở ngại nghiêm trọng nhất của hệ thống
điều hành hoạt động ngân hàng xuất phát từ rủi ro đạo đức. Rủi ro đạo đức là
một đặc điểm quan trọng của dàn xếp bảo hiểm nói chung bởi vì sự tồn tại
của bảo hiểm mang lại những ý muốn mạnh hơn đối với việc mang lấy
những rủi ro và điều đó có thể đưa đến một sự thanh toán bảo hiểm. Những
người gửi tiền có bảo hiểm biết rằng họ sẽ không gánh chịu tổn thất nếu
ngân hàng vỡ nợ, họ không áp đặt một kỉ luật thị trường cụ thể lên các ngân
hàng bằng cách rút tiền gửi khi họ nghi ngờ rằng ngân hàng của họ đang
mang lấy quá nhiều rủi ro. Kết cục các ngân hàng có bảo hiểm tiền gửi có
thể có nhiều rủi ro hơn so với trường hợp không có bảo hiểm. Thế nhưng
chính điều này tạo nên sự lỏng lẻo trong hoạt động các ngân hàng làm cho
chúng dễ dàng nhận lấy rủi ro để hi vọng kiếm lợi mà không bị ràng buộc
bởi những người gửi tiền. Nếu không có bảo hiểm những người gửi tiền luôn
thận trọng lựa chọn các ngân hàng mà họ gửi cùng với những điều kiện cụ
thể đảm bảo cho khoản cho vay của họ sẽ được an toàn. Mặt khác các ngân
TÀI CHÍNH-TIỀN TỆ
- 6 -
hàng cũng không muốn mang lấy những rủi ro lớn nếu nó có nguy cơ đe doạ
một sự phá sản. Vấn đề lựa chọn đối nghịch cũng xảy ra đối với bảo hiểm
tiền gửi, vấn đề này dễ xảy ra đối với những ngưòi có nhiều khả năng tạo ra
kết cục đối nghịch được bảo hiểm, là những người mà muốn thu lợi từ việc
bảo hiểm này hơn cả. Do những người gửi tiền có bảo hiểm ít có lí do để
giám sát ngân hàng của họ, còn những kẻ đầu cơ thấy công nghiệp ngân
hàng là một công nghiệp hấp dẫn đặc biệt, họ biết có thể thực hiện những
hoạt động rủi ro cao. Tệ hơn là những người gửi tiền có bảo hiểm ít giám sát
các hoạt động ngân hàng của họ nên những kẻ lừa đảo trắng trợn thấy hoạt
động ngân hàng là một lĩnh vực hấp dẫn cho những hoạt động của chúng,
bởi vì chúng dễ bỏ chốn với món tiền biển thủ.

- 7 -
triển vọng tốt, đâu là xấu, làm cho họ giảm bớt ý định cho vay, đầu tư vào
hoạt động kinh tế tổng hợp.
Sự hoảng loạn ngân hàng: ngân hàng đóng một vai trò quan trọng, phần lớn
nguồn vốn trong nền kinh tế luân chuyển qua hệ thống ngân hàng. Sự hoảng
loạn này làm giảm tổng số các hoạt động trung gian tài chính mà ngân hàng
thực hiện, làm giảm khối lượng vốn cung ứng, dẫn đến việc tăng lãi suất. Và
như đã nói trên sự tăng lãi suất là một trong yếu tố trực tiếp tạo nên khủng
hoảng tài chính.

kinh tế gọi là Bộ ba chính sách không thể đồng thời. Họ vừa cố định giá trị
đồng tiền của mình vào Dollar Mỹ, vừa cho phép tự do lưu chuyển vốn (tự
do hóa tài khoản vốn). Kinh tế Đông Nam Á tăng trưởng nhanh trong thập
niên 1980 và nửa đầu thập niên 1990 đã tạo ra sức ép tăng giá nội tệ. Để bảo
vệ tỷ giá cố định, các ngân hàng trung ương Đông Nam Á đã thực hiện chính
sách tiền tệ nới lỏng. Kết quả là cung tiền tăng gây ra sức ép lạm phát. Chính
sách vô hiệu hóa (sterilization policy) đã được áp dụng để chống lạm phát vô
hình chung đẩy mạnh các dòng vốn chảy vào nền kinh tế.
Vào giữa thập niên 1990, Hàn Quốc có nền tảng kinh tế vĩ mô tương đối tốt
ngoại trừ việc đồng Won Hàn Quốc không ngừng lên giá với Dollar Mỹ
trong thời kỳ từ sau năm 1987. Điều này làm cho tài khoản vãng lai của Hàn
Quốc suy yếu vì giá hàng xuất khẩu của Hàn Quốc trên thị trường hàng hóa
quốc tế tăng. Trong hoàn cảnh đó, Hàn Quốc lại theo đuổi một chế độ tỷ giá
hối đoái neo lỏng lẻo và chính sách tự do hóa tài khoản vốn. Vì thế, thâm hụt
tài khoản vãng lai được bù đắp lại bằng việc các ngân hàng của nước này đi
vay nước ngoài mà phần lớn là vay nợ ngắn hạn và nợ không tự bảo hiểm rủi
ro
TÀI CHÍNH-TIỀN TỆ
- 9 -
Năm 1994, nhà kinh tế Paul Krugman của trường đại học Princeton, (lúc đó
còn ở MIT), cho đăng bài báo tấn công ý tưởng về "thần kỳ kinh tế Đông
Á".Ông ta cho rằng: Sự tăng trưởng kinh tế của Đông Á, trong quá khứ, là
do kết quả của đầu tư theo hình thức tư bản, dẫn tới sự tăng năng suất lao
động. Trong khi đó, năng suất tổng nhân tố lại chỉ được nâng lên ở một mức
độ rất nhỏ, hoặc hầu như giữ nguyên. Krugman cho rằng việc chỉ tăng
trưởng năng suất tổng nhân tố không thôi, mà không cần đầu tư vốn, đã có
thể mang lại sự thịnh vượng dài hạn. Krugman có thể được nhiều người coi
như một nhà tiên tri sau khi khủng hoảng tài chính lan rộng, tuy nhiên chính
ông ta cũng đã từng phát biểu rằng ông ta không dự đoán cơn khủng hoảng
hoặc nhìn trước được chiều sâu của nó.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status