NHÀ NƯỚC TRONG THỜI KÌ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN TÂY ÂU. NHÀ NƯỚC PHONG KIẾN FRĂNG VÀ TRẠNG THÁI PHONG QUYỀN CÁT CỨ PHONG KIẾN - Pdf 37

NHÀ NƯỚC TRONG THỜI KÌ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CHẾ ĐỘ
PHONG KIẾN TÂY ÂU. NHÀ NƯỚC PHONG KIẾN FRĂNG VÀ TRẠNG
THÁI PHONG QUYỀN CÁT CỨ PHONG KIẾN
1.Qúa trình phong kiến hóa xã hội Tây Âu. Nhà nước phong kiến Frăng
a.Qúa trình phong kiến hóa xã hội Tây Âu
Yếu tố tác động từ bên trong
Sự suy yếu của đế quốc La Mã , Khoảng cuối thế kỉ II, đầu thế kỉ III, phương
thức sản xuất chiếm nô Rôma bị khủng hoảng. Số nô lệ giảm sút mạnh, giá bán rất
cao nên nô lệ không còn là nguồn lợi chính mà còn trở nên nguy hiểm. Kinh tế
công- thương-nghiệp theo đó bị đình trệ. F Trong khi đó ở phía Đông, nhờ sự liên
hệ với các nước Phương Đông nên kinh tế phát triển hơn. Năm 330, hoàng đế
Conxtantinut dời đô sang miền đông, năm 395, hoàng đế Têôdôdiut chia La Mã
thành 2 quốc gia tách biệt: Tây La mã và Đông La Mã.
Sự hình thành quan hệ sản xuất phong kiến ở Tây La Mã :Quan hệ sản xuất dần
không còn phù hợp, những mầm mống sản xuất phong kiến đã xuất hiện, biểu hiện
cụ thể qua hai mặt diễn ra đồng thời, đan xen lẫn nhau đó là:
 lãnh địa hóa toàn bộ ruộng đất
 nông nô hóa giai cấp nông dân
Do nô lệ giảm sút, năng suất lao động ngày càng thấp. Chủ nô buộc phải nghĩ ra
cách thức mới để bóc lột của họ có hiệu quả. Đó là chia nhỏ ruộng đất và giao cho
các nô lệ tự cày cấy. Công cụ, giống má là của chủ nô, một phần thu hoạch nô lệ
được hưởng, phần lớn thuộc về chủ nô. Họ chia đất của mình làm 2 phần :
 phần nhỏ hơn (1/3) do chủ đất trực tiếp quản lý
 phần lớn hơn (2/3) họ lại chia thành nhiều mảnh nhỏ, phát canh cho những nông
dân tự do và nô lệ.
Họ có nghĩa vụ lao động và nộp lại cho chủ đất một khoản tiềnhoặc hiện vật;
Ngoài ra họ phải đến lao động không công trên phần đất củachủ đất trong một số
ngày nhất định (gọi là tô lao dịch). Họ không còn bị giám sát chặt chẽ như trước


mà có phần tự do hơn. Đó chính là những người “lệ nông”, tiền thân của thân phận

Nhưng một tộc người có trình độ văn minh thấp hơn làm sao có thể quản lý và cai


trị một quốc gia có trình độ phát triển caohơn? Khi chinh phục những người La Mã
có trình độ phát triển caohơn mình, người Giecman không thể dung nạp họ vào các
thị tộc của mình, cũng không thể dùng những tập đoàn này để quản lý họ được. Do
đó các cơ quan quản lý thị tộc buộc phải nhanh chóng chuyển hóa thành cơ quan
Nhà nước phù hợp để thống trị được người La Mã. Nhà nước đó không thể là nhà
nước Chiếm hữu nô lệ vì hình thức này đã không còn thực tế và hiệu quả nữa. Lực
lượng sản xuất đã phát triển đến giai đoạn mới, dần trở thành lực lượng sản xuất
của chế độ Phong kiến, vì vậy QHSX và KTTT cũng phải phù hợp theo.
Cho nên, nhà nước mà người Giecman có thể thiết lập chỉ là nhà nước Phong
kiến mà thôi. Trong quá trình này, các thủ lĩnh quân sự đoạt lấy quyền lực, thay thế
cho các tù trưởng, lại được sự ủng hộ của quân đội nên đã trở thành Vua với quyền
lực tối cao. Vua tuyên bố tất cả đất đai chiếm được đều thuộc quyền sở hữu của
Vương triều và đem đất đó phong tặng cho những người có công lao như quý tộc
quân sự, thị tộc, tăng lữ, quan chức La Mã cũ ủng hộ giúp chính quyền mới… Về
xã hội Tây La Mã, đang manh nha phát triển thành xã hội Phong kiến thì xuất hiện
cuộc chiến giữa các tộc người Giecman.Đóng vai trò như nhân tố thúc đẩu làm cho
xã hội chuyển hóa sang xã hội Phong kiến một cách dứt khoát và nhanh chóng hơn

b.Sự thiết lập. quá trình phát triển và tan rã của nhà nước Frăng
Vương quốc Frăng là biểu hiện rõ nhất của quá trình hình thành chế độ phong kiến
ở Tây Âu. Nhà nước Frăng từng bước đánh bại các vương quốc khác, mở rộng lãnh
thổ ra toàn Tây Âu, người sang lập ra nhà nước Frăng là Cloovit (481 – 511). Nhà
nước Frăng tồn tại qua hai chiều đại:
-Triều đại Mô rô vanh riêng
Năm 486, Clovic, là một thủ lĩnh liên quân người Frăng, ông liên kết với nhiều liên
minh khác đánh bại quân La Mã. Năm 507, Hoàng đế của đế quốc Đông La Mã cử
Clôvic giữ chức Chấp chính quan, nghĩa là Clôvic được công nhận là quốc vương

kéo dài gần 10 năm.
Năm 840, Louis ngoan đạo chết, ba năm sau cả ba anh em họ ngồi lại với nhau để
ký hoà ước Vecđoong (Verdun). Theo hoà ước này, ba người con trai của Louis


ngoan đạo sẽ chia nhau cai trị lãnh thổ vương quốc Frăng, tạo thành 3 nước Đức,
Pháp và Ý ngày nay.
c. Tổ chức bộ máy nhà nước
· Mêrôvanh giêng
Bộ máy nhà nước được tổ chức còn rất thô sơ.
ª Ở Trung ương
- Đứng đầu bộ máy nhà nước là Vua;
- Bên dưới vua là các quan lại cao cấp phụ trách các việc như quân sự, tư pháp, tài
chính, văn thư, kho rượu… song sự phân công ấy chưa thật rõ ràng và cố định.
Ví dụ: Quan Chưởng ấn hoặc Thị vệ có khi làm cả nhiệm vụ ngoại giao hoặc quân
sự; Quan thống chế có khi phụ trách cả việc ăn uống hoặc tiệc tùng…
- Ngoài ra còn có các viên quan quản lý trông coi các trang viên của nhà vua. Đứng
đầu và quản lý các viên quan này là quan quản lý cung đình, tức Tể tướng.
Trong thời kỳ vua lười, Tể tướng là người cầm quyền thực tế.
Đến thời Carôlanhgiêng
- Trong thời kỳ của vương triều Carôlanhgiêng, quan trọng nhất là thời kỳ trị vì của
Saclơmanhơ, bộ máy nhà nước của vương quốc Frăng ngày càng hoàn chỉnh hơn
- Đứng đầu bộ máy nhà nước vẫn là Vua
- Bộ máy quan lại dưới Vua là các chức: Thừa tướng, Tổng Giám mục và Đại thần
cung đình.
+ Thừa tướng giữ chức vụ bí thư và chưởng ấn của nhà vua.
+ Tổng Giám mục quản lý giáo sĩ trong cả nước.
+ Đại thần cung đình thì gần giống như quan Tể tướng trước kia, có nhiệm vụ quản
lý các công việc hành chính của triều đình.
Chức tể tướng trước kia đến thời kỳ này bị bãi bỏ.


- Cơ quan tư pháp có thẩm quyền xét xử là tòa án của nhà vua.
- Thành phần xét xử: là các pháp quan gồm chánh án và bồi thẩm – do nhà vua chỉ
định.
+ Ở địa phương:
- Lúc đầu, quyền xét xử thuộc về những người dân tự do. Lúc nhà nước Frăng mới
được xây dựng, người dân được tham gia bồi thẩm và được cử những đại biểu của
mình làm thẩm phán nhưng chẳngbao lâu, khi nông dân bị nông nô hoá, quyền hạn
ngày càng tập trung vào tay các bá tước thì tình trạng này bị bãi bỏ.
- Về sau, quyền tư pháp thuộc tay bá tước.
+ Ngoài ra, các đoàn khâm sai do nhà vua cử về địa phương cũng có quyền mở
phiên tòa xét xử tại chỗ.
Quân đội
- Ban đầu, lực lượng quân đội chủ yếu của quốc gia gồm có đội thân binh của nhà
vua, lực lượng quần chúng. (Tất cả dân tự do đều có nghĩa vụ quân dịch cho nhà
vua). Nhưng do đời sống nông nghiệp định cư , đa số nông dân không muốn rời xa
ruộng đất, gia đình để đi chinh chiến nữa. Họ chấp nhận hiến ruộng đất cho địa chủ
và trở thành nông nô nhằm thoát khỏi nghĩa vụ binh dịch. Vì vậy, giờ đây, đội thân
binh của nhà vua trở thành lực lượng quân đội chủ yếu.
- Thời Carôlanhgiêng, lực lượng quân đội chia thành 2 bộ phận:
+ Quân đội chuyên nghiệp:thường xuyên có mặt trong các trang trại quân đội, nhất
là ở các biên trấn.
+ Quân đội của bồi thần được phong đất - cùng kỵ binh của họ: Đội quân này chỉ
tập hợp lại mỗi khi có chiến tranh

Nhận xét
- Bằng các biện pháp như tập trung mọi quyền hành về hành chính, tư pháp, tài
chính, quân sự… và việc bản thân mình được phong làm hoàng đế, nhà nước Frăng
trở thành một nhà nước quân chủ chuyên chế tập quyền.


dẫn tới trạng thái phân quyền cát cứ.
+ Về giao thông, do chiến tranh liên miên lại không được sửa chữa nên việc đi lại
gặp rất nhiều khó khăn và không an toàn. Vì vậy, liên hệ từng vùng không thường


xuyên chặt chẽ. + Ngoài ra, từng nước còn có những nguyên nhân khác. VD : ở
Pháp, có những thời kỳ mà ruộng đất của nhà vua ít hơn rất nhiều so với ruộng đất
của các lãnh chúa PK, thế lực của nhà vua rất hạn chế. Những làn chúa lớn thường
áp đảo nhà vua và tranh giành quyền lợi với nhau. Nói đến trạng thái phân quyền
cát cứ là nói đến lãnh địa và lãnh chúa PK. Đất đai được phân phong lần lượt trở
thành tư hữu và tạo nên lãnh địa. Nà vua ở TƯ thực tế cũng chỉ là một lãnh chúa
mà thôi. Có hai loại lãnh địa là lãnh địa PK và lãnh địa của giáo hội thiên chúa. Phân quyền cát cứ là trạng thái cơ bản nổi bật nhất trong thời kỳ phát triển của chế
độ phong kiến Tây Âu. Nó bao trùm, chi phối mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội và chính
trị phong kiến. + Kinh tế : Nền kinh tế của lónh địa là nền kinh tế tự cung tự cấp.
Lãnh địa có nhiều trang viên, các trang viên lại được chia thành hai phần, một phần
do lãnh chúa trực tiếp quản lý, một phần đ ược chia thành nhiều khoanh nhỏ để
nông dân thuê lĩnh canh.
+ Xã hội : Quan hệ cơ bản trong xã hội là quan hệ giữa lãnh chúa với nông dân.
Nông dân coa ba loại : nông dân tự do, lệ dân và nông nô. Lệ dân và nông dân tự
do trước sau gì cũng bị biến thành nông nô, cả đời phụ thuộc chặt chẽ vào lãnh
chúa, làm lao dịch không công, nộp địa tô cho địa chủ...So với nô lệ trong xã hội
cổ đại thì thân phận của nông nô có khá hơn, họ có nhà cửa, công cụ sản xuất, kinh
tế gia đình riêng. + Chính trị : Những tước vị và chức vụ mà nhà vua trao cho lãnh
chúa nay trở thành cha truyền con nối, biến luôn khu vực HC đứng đầu thành lãnh
địa riêng, biến thần thuộc, thần dân nhà vua thành thần thuộc, thần dân của lãnh
chúa, có toà án xét xử riêng. Lãnh chúa có quyền đúc tiền, thu thuế..bộ phận quân
đội của lãnh chúa hoàn toàn tách khỏi sự điều động của nhà vua. Giữa các lãnh
chúa thường xảy ra chiến tranh nhằm mở rộng lãnh địa, quyền lực, tài sản. Như
vậy, trên thực tế, các lãnh địa đã biến thành những quốc gia nhỏ. Các lãnh chúa trở
thành vua trên lãnh địa của mình, có đầy đủ các quyền lập pháp, hành pháp, tư

định về thủ tục thừa kế ruộng đất… Những quy định này đều thể hiện nguyên tắc
“Không đất nào là không có chủ”). Dần dần những quy định này trở thành tập quán
pháp.
- Đối với việc sở hữu các tài sản khác
+ Bộ luật Xa Lích thừa nhận chế độ tư hữu về động sản. Vấn đề này được phản ánh
qua những điều khoản quy định các hình phạt đối với các tội trộm cắp hoặc gây
thiệt hại đến gia súc, hoa màu của người khác.


+ Đến thế kỷ 11, 12, trong các thành phố tự trị kinh tế công thương nghiệp phát
triển, các thành phố này bắt đầu viện dẫn pháp luật la mã để giải quyết các vấn đề
liên quan đến lĩnh vực hợp đồng, trái vụ như các loại hợp đồng mua bán, tặng cho,
đổi chác, thuê mướn, ủy thác… do đó, pháp luật của các thành thị trong thời kỳ này
rất phát triển.

· Luật lệ về hôn nhân gia đình

- Bộ luật Xa Lích nghiêm cấm tục cướp vợ hoặc mua bán vợ. Bộ luật quy định
trong thủ tục kết hôn, người chồng phải tặng quà cưới cho vợ (thay cho tiền mua
vợ). Sau đó số tài sản này trở thành tài sản chung.
- Theo phong tục, để giữ lại toàn bộ số tài sản của dòng họ, người phụ nữ goá phải
kết hôn với anh hoặc em của chồng (chưa có vợ). Tuy nhiên, người phụ nữ này
được quyền lấy chồng khác với điều kiện:
+ Phải được gia đình chồng cũ ưng thuận
+ Người chồng mới phải nộp cho gia đình chồng cũ một khoản tiền nhất định
- Về sau, luật hôn nhân gia đình chịu nhiều ảnh hưởng của thế lực nhà thờ và luật
lệ thiên chúa giáo. Luật lệ tôn giáo và luật pháp nhà nhà nước đều ngăn cấm việc ly
hôn.
- Địa vị pháp lý của người phụ nữ có được cải thiện hơn so với trong thời chiếm
hữu nô lệ. Tuy nhiên, họ vẫn phải phụ thuộc vào người cha, người chồng và con

luật quy định mức phạt cụ thể (ví dụ: trộm chó: 15 xôlidút, trộm ngựa: 45 xôlidút,
xúc phạm người frăng tự do: 30 xôlidút, giết chết người frăng tự do: 200 xôlidút,
giết chết phụ nữ mang thai: 600 đến 700 xôlidút). ½ số tiền nộp phạt được chia cho
gia đình bị hại, ½ còn lại sung vào công quỹ.
- Luật cho phép họ hàng của tội phạm được nộp tiền thay và tội phạm sẽ trở thành
nô lệ cho người đã nộp phạt thay mình. Nhưng đến thế kỷ 6, luật cấm người khác
nộp phạt thay, tội phạm phải tự mình bỏ tiền ra để chuộc tội và mức tiền nộp phạt


tùy thuộc vào địa vị của người bị hại. Nếu tội phạm là kẻ giết người mà không chịu
nộp phạt hoặc không có tiền nộp phạt thì sẽ bị tử hình.
- Đối với những tội phản quốc, không trung thành với nhà vua hoặc lãnh chúa
phong kiến, chống lại nhà thờ và luật lệ tôn giáo, trộm cắp tài sản của nhà nước
hay của nhà thờ… đều bị coi là trọng tội. Tất cả những trọng tội đều không được
dùng tiền chuộc mà phải chịu án tử hình. Phương thức thực hiện án tử hình rất tàn
bạo như: chém đầu, treo cổ, hoả thiêu, làm cho tội phạm chết dần trong đau đớn…
Tuy nhiên luật lại không quy định như thế nào là phản quốc, như thế nào là không
trung thành với nhà vua… do đó, đối với những loại tội phạm này, quan toà thường
xét xử tùy tiện, chủ quan.
· Hình phạt
- Tính chất giai cấp trong pháp luật phong kiến thể hiện rõ trong việc quy định hình
phạt. Tùy theo thân phận và địa vị của người phạm tội và người bị hại, pháp luật
quy định mức hình phạt khác nhau. Ví dụ: giết một người có địa vị cao thì phải nộp
phạt gấp 3 đến 4 lần mức bình thường, tiền phạt tội bắt trộm nôlệ bằng mức tiền
phạt tội bắt trộm con ngựa hay con bò, nếu người dân tự do và người nô lệ phạm
tội như nhua thì người dân tự do chuộc tội bằng tiền, còn người nô lệ thì thì bị thể
xác.

Pháp luật về tố tụng và tư pháp
· Toà án

phong kiến giáo hội.
- Pháp luật phong kiến kém phát triển hơn so với pháp luật thời Hy La cổ đại, vì
những nguyên nhân sau đây:
+ Trong một thời gian dài, tình trạng phân quyền cát cứ và kinh tế tự cung tự cấp
đã kìm hãm sự của kinh tế hàng hoá
+ Các lãnh chúa phong kiến phải tập trung và các cuộc chinh phạt lẫn nhau, không
có thời gian cho việc xây dựng pháp luật. Trong các lãnh địa, các tập quán pháp và
mệnh lệnh của lãnh chúa phong kiến được dùng để điều chỉnh các vấn đề xã hội.


Tuyệt đại đa số cư dân bị mù chữ, thậm chí nhiều quý tộc cũng không biết đọc biết
viết. Nhà nước và giáo hội thực hiện chính sách ngu dân, bắt buộc dân chúng học
thuộc lòng kinh thánh và không thực hiện giáo dục toàn diện.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status