Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời nói đầu
Xã hội loài ngời trong lịch sử đã trải qua năm hình thái kinh tế xã hội,
đó là hình thái cộng sản nguyên thuỷ, hình thái chiếm hữu n"lệ, hình thái
phong kiến, hình thái t bản chủ nghĩavà hình thái chủ nghĩa xã hội. Trong đó
ở hình thái cộng sản nguyên thuỷ cha có sự phân công lao động, cha có sự
trao đổi hàng hoá. Đến khi có sự phân công lao động xã hội phản ánh sự phát
triển cao của nền sản xuất, đòi hỏi tất yếu phải có sự trao đổi sản phẩm- một
khâu quan trọng của quá trình tái sản xuất xã hội. Sự trao đổi này thiết lập
trên cơ sở tự do ý chí giữa các chủ thể trong quan hệ trao đổi sản phẩm hàng
hoá. khi đợc pháp luật tác động đến quan hệ kinh tế này, nó sẽ trở thành quan
hệ pháp luật và thông qua"bản giao kèo, nó còn đợc gọi là khế ớc hay hợp
đồng.
Nh vậy, sự ra đời của hợp đồng kinh tế là đòi hỏi khách quan của nền
kinh tế sản xuất hàng hoá, đã có sản xuất hàng hoá tất yếu phải có hợp đồng
phục vụ cho quá trình trao đổi sản phẩm hàng hoá. Sau đó cùng với sự phất
triển của xã hội, hợp đồng đã phát triển ra ngoài phạm vi trao đổi sản phẩm
hàng hoá. Tất nhiên, trong mỗi xã hội khác nhau thì bản chất, đặc điểm và
nội dung của bản hợp đồng là khác nhau hay nói cách khác mỗi nhà nớc có
hệ thống chính trị, xã hội và đặc biệt kinh tế khác nhau thì bản chất, đặc
điểm và nội dung là khác nhau. ở Việt Nam trải qua hai cơ chế khác nhau, đó
là cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp và cơ chế thị trờng. Do
đó, bản chất, đặc điểm hợp đồng kinh tế cũng nh chủ thể của hợp đồng kinh
tế cũng khác nhau ở từng giai đoạn.
Hiện nay nền kinh tế của chúng ta tồn tại nhiều thành phần, phát triển
bình đẳng trong cơ chế thị trờng, có sự quản lý của nhà nớc, theo định hớng
xã hội chủ nghĩa. Trong việc xây dựng và thực hiện kế hoạch của mình các
đơn vị kinh tế thuộc mọi thành phần kinh tế đều đợc đa vào các quan hệ hợp
đồng kinh tế. Nói cách khác, hợp đồng kinh tế là quan hệ trao đổi hàng hoá,
dịch vụ hợp pháp tất yếu, tất cả các đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh
tế phải thực hiện. Việc xem xét mức độ phù hợp về chủ thể hợp đồng hiện
theo nghị định là bản điều lệ tạm thời về hợp đồng kinh tế, bản điều lệ này
bao gồm những quy định điều chỉnh các quan hệ hợp đồng giữa các đơn vị
kinh tế nh các đơn vị kinh tế quốc doanh, hợp tác xã, công t hợp doanh, t
doanh, ngời Việt Nam hay ngoại kiều kinh doanh trên đất Việt Nam.
Đến năm 1960 ở miền bắc chúng ta đã hoàn thành cơ bản công cuộc cải
tạo xã hội chủ nghĩa, bớc vào giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội mở đầu kế
hoạch năm năm lần thứ nhất 1960-1965. Các quan hệ kinh tế có sự thay đổi
về cơ cấu chủ thể và về tính chất, công tác kế hoạch hoá và hoạch toán kinh
tế đòi hỏi phải có những quy định mới về điều chỉnh các quan hệ hợp đồng
kinh tế giữa các đơn vị kinh tế. Vì vậy, điều lệ tạm thời về chế độ hợp đồng
kinh tế đợc nhà nớc ban hành kèm theo nghị định 04/ttg ngày 04/01/1960,
đồng thời nhà nớc quyết định thành lập hội đồng trọng tài kinh tế để thực
hiện chức năng quản lý công tác hợp đồng kinh tế và giải quyết các tranh
chấp kinh tế)nghị định 20/ttg ngày 14/01/1960). Hợp đồng kinh tế đã thực sự
trở thành công cụ điều chỉnh và củng cố các quan hệ kinh tế xã hội chủ
nghĩa.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Trớc yêu cầu của việc cải tiến quản lý kinh tế: xoá bỏ lối quản lý hành
chính cung cấp, thực hiện quản lý theo phơng thức kinh doanh xã hội chủ
nghĩa, khắc phục cách quản lý thủ công, phân tán theo lối sản xuất nhỏ, xây
dựng cách tổ chức quản lý của nền công nghiệp lớn nhằm thúc đẩy quá trình
đa nền kinh tế quốc dân từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa,
ngày 10/03/1975 nhà nớc đã ban hành bản điều lệ về chế độ hợp đồng kinh
tế)ban hành kèm theo Nghị định 54/cp ngày 10/03/1975 của Hội đồng Chính
phủ). Điều lệ này đã quy định tơng đối đầy đủ các vấn đề nh: vai trò của hợp
đồng kinh tế, giải quyết tranh chấp và trách nhiệm do vi phạm chế độ hợp
đồng kinh tế.
2. Sau đại hội lần VI Đảng cộng sản Việt Nam (11/1986):
Tháng 11/1986 Đại hội lần thứ VI Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng
sản xuất hàng hoá khác nhau trao đổi đợc với nhau và đó chính là mục đích
của họ. Quá trình trao đổi thông qua các quan hệ kinh tế mà mục đích tối cao
là lợi nhuận, các chủ thể là ngời sản xuất độc lập và tự do cạnh tranh với
nhau. muốn giải quyết vấn đề này, giữa những ngời trao đổi phải đạt đợc thoả
thuận cho ý chí và lợi ích của từng bên, hình thức trao đổi dựa trên sự tự
nguyện nh thế gọi là hợp đồng. Với hình thức hợp đồng, quy luật giá trị
thông qua các quan hệ cung cầu tác động trực tiếp đến các quan hệ trao đổi
để từ đó tự phát điều tiết sản xuất. Nh thế, hợp đồng là hình thức đặc trng của
các quan hệ trao đổi đã ra đời đồng thời với sản xuất hàng hoá.
Nhằm điều chỉnh các quan hệ kinh tế, nhà nớc ta đã dùng pháp luật
kinh tế là một trong những công cụ, pháp luật kinh tế nhằm điều chỉnh các
quan hệ kinh tế thể hiện dới nhiều hình thức, nhiều biện pháp khác nhau. Nhà
nớc có thể dùng quyền lực chính trị để tạo mệnh lệnh có tính chất hành chính
đối với quan hệ kinh tế, ví dụ nh trong việc thu thúê, trích nộp lợi nhuận,
kiểm tra, kiểm soát và công tác kế hoạch hoá sử dụng quyền lực chính trị
trong quản lý kinh tế là điều kiện cần thiết trong thời kỳ quá độ, nhất là điều
kiện lúc bấy giờ ở nớc ta phải ổn định và củng cố trật tự phân phối lu thông
xã hội chủ nghĩa, chống lại xu hớng tự phát t bản chủ nghĩa. Dựa trên quyền
lực chính trị nhà nớc đã ban hành các quy phạm hành chính bắt buộc mọi chủ
thể phải tuân theo, đó là một u thế để nhà nớc xã hội chủ nghĩa đảm bảo cho
các quan hệ kinh tế quán triệt đợc nôị dung và kế hoạch.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Song nếu chỉ dùng mệnh lệnh hành chính thì không thể đảm bảo sự kết
hợp lợi ích trong khi giải quyết mối quan hệ giữa lợi ích tập thể và lợi ích
chung của toàn xã hội, nếu đơn thuần dùng mệnh lệnh hành chính gò ép các
tập thể phải thực hiện kế hoạch nhà nớc thì trong điều kiện đó sẽ không
khuyến khích, tận dụng đợc mọi mặt năng lực sản xuất, hoạt động kinh tế
kém hiệu quả và thông thờng lợi ích kế hoạch thể hiện trong việc hoàn thành
những chỉ tiêu kế hoạch cũng kém hiệu quả, không đảm bảo. Vậy muốn điều
Tập trung vào mục đích cao nhất là lợi ích kế hoạch nhà nớc nhng có
chú ý kết hợp giữa lợi ích nhà nớc và lợi ích tập thể là đặc điểm cơ bản quán
xuyến trong toàn bộ các khâu của quá trình tiến hành công tác hợp đồng kinh
tế trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung. Đặc điểm này quy định bản chất của
hợp đồng kinh tế xã hội chủ nghĩa, điều này phải đợc xác định là một t tởng
chỉ đạo đối với mọi cấp, mọi ngành và mọi ngời tham gia vào việc thực hiện
công tác này.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Ngoài đặc điểm cơ bản trên, hợp đồng kinh tế trong cơ chế tập trung
bao cấp còn có một số đặc điểm khác. Sự bình đẳng giữa các chủ thể là đặc
điểm chung của mọi loại hợp đồng, nhng trong điều kiện của xã hội chủ
nghĩa nó mang một nội dung mới, sự bình đẳng này có tinh thần là bình đẳng
giữa những ngời tuy có nhiệm vụ cụ thể khác nhau nhng chung một mục đích
cuối cùng phải bình đẳng trong sự hợp tác, tơng trợ lẫn nhau. Các chủ thể của
quan hệ hợp đồng kinh tế xã hội chủ nghĩa chỉ có thể là tổ chức chứ không
thể là một cá nhân với ý nghĩa là một cá thể, điều đó xuất phát từ cơ sở là chế
độ công hữu về t liệu sản xuất, những ngời sản xuất, những ngời tham gia vào
lu thông, phân phối là những ngời chủ t liệu sản xuất hay đợc giao quyền
quản lý tài sản phải là một tổ chức có t cách pháp nhân. Các tổ chức xã hội
chủ có thể có sự khác nhau về trình độ, hình thức sở hữu)quốc doanh, hợp tác
xã, công ty hợp doanh ) có nhiệm vụ sản xuất kinh doanh khác nhau và lợi
ích riêng của họ cũng không giống nhau. Nhng các tổ chức đó gặp nhau và
xác lập quan hệ hợp đồng kinh tế với nhau trên cơ sở vì lợi ích chung của nhà
nớc, vì thế chúng đều đợc pháp luật nhà nớc bảo vệ và duy trì sự bình đẳng,
sự bình đẳng này vừa là điều kiện đảm bảo cho sự cân đối giữa các nghĩa vụ
của các bên vừa là sự thể hiện tính cân đối giữa các hoạt động củak ế hoạch
hoá nhà nớc, vừa là điều kiện đảm bảo của mỗi đơn vị.
Cũng vì những đặc điểm trên trong các hợp đồng kinh tế trong cơ chế
tập trung bao cấp, nếu có các tranh chấp hoặc vi phạm của các chủ thể thì
phân tích ở trên, tuỳ vào từng điều kiện kinh tế-chính trị-xã hội khác nhau mà
hợp đồng kinh tế có những đặc điểm, bản chất và nội dung khác nhau.
1.1. Bản chất, đặc điểm của hợp đồng kinh tế trong giai đoạn 1954-1975.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đầu năm 1960 khi công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế sắp hoàn
thành thì cơ cấu kinh tế có sự thay đổi, thành phần kinh tế tập thể đã đợc mở
rộng qua phong trào hợp tác hoá trong nông nghiệp và thủ công nghiệp, kinh
tế t bản t doanh đã đợc thay thế bằng hình thức t bản nhà nớc dới công ty hợp
doanh. Vào thời điểm này, nhà nớc ta đã xác định bớc vào xây dựng nền kinh
tế xã hội chủ nghĩa, một nền kinh tế đợc xác định chỉ còn tồn tại hai thành
phần kinh tế chủ yếu đó là quốc doanh và tập thể, đợc tập trung vào kế hoạch
hoá cao độ dới sự quản lý của nhà nớc. Do đó, điều lệ tạm thời về hợp đồng
kinh tế số 735/ttg ngày 10/04/1956 đợc coi là không thích hợp nữa. Trong
điều kiện đó, nhà nớc đã ban hành điều lệ tạm thời về chế độ hợp đồng kinh
tế theo nghị định số 04/ttg ngày 04/01/1960 của Thủ tớng chính phủ, đây là
một mốc quan trọng trong quá trình phát triển của pháp luật kinh tế ở nớc ta.
Về khái niệm hợp đồng kinh tế, bản điều lệ này đã đa ra một khái niệm
chung:hợp đồng kinh tế nói trong điều lệ này là hợp đồng về sản xuất, về
cung cấp và tiêu thụ hàng hoá, về vận tải, xây dựng, bao thầu (điều 1). Về
nguyên tắc ký kết điều 2 đã quy định:ký kết hợp đồng kinh tế là một kỷ luật
bắt buộc trong quan hệ kinh tế giữa các xí nghiệp quốc doanh, các cơ quan
nhà nớc. Cơ sở ký kết hợp đồng kinh tế là chỉ tiêu kế hoạch nhà nớc, các xí
nghiệp quốc doanh, cơ quan nhà nớc chỉ đợc ký kết hợp đồng trong phạm vi
chỉ tiêu kế hoạch nhà nớc.
Hợp đồng kinh tế chỉ đợc điều chỉnh hay huỷ bỏ khi đợc nhà nớc điều
chỉnh hay huỷ bỏ các chỉ tiêu pháp lệnh nhà nớc, ngoài ra trong quá trình
thực hiện hợp đồng, nếu gặp phải những trở ngại khách quan không tthể khắc
phục đợc, hai bên ký kết hợp đồng có thể điều chỉnh hợp đồng trong phạm vi
không đợc ảnh hởng đến việc thực hiện kế hoạch nhà nớc và đợc hội đồng